Quốc hội VN vẫn ‘Đảng chỉ thì làm’?

Posted: October 24, 2015 in Uncategorized
Tags:

(BBC) – Quốc hội Việt Nam đến tận khóa hiện tại vẫn tiếp tục ‘Đảng chỉ đạo gì, thì chấp hành nấy’, việc nhóm họp và xác định nội dung các kỳ họp còn thiếu tính ‘thời sự’, theo ý kiến nhà quan sát đưa ra nhân dịp kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa 13 của Việt Nam đang diễn ra.

� Xem thêm: Công tác xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững + 21 từ “chưa” trong báo cáo của Thủ tướng


Quốc hội Việt Nam vẫn chỉ làm theo chỉ đạo của Đảng mà chưa thực sự
giám sát quyền lực của Đảng và nhà nước, theo ý kiến nhà bình luận

Quốc hội vẫn còn né tránh, không dám bàn bạc công khai những chủ đề quan trọng mà người dân kỳ vọng như vấn đề chủ quyền biển đảo trên Biển Đông bị đe dọa.

Trong khi đó, các vai trò then chốt và cơ bản là đại diện cho dân ‘lựa chọn’ và ‘dự kiến’ ra trước các lãnh đạo cho đất nước, cũng như ‘giám sát’ nhà nước mà thậm chí là giám sát công việc của Đảng Cộng sản, vẫn chưa được thực hiện, một ý kiến khác nhận xét.

‘Phải đứng ra bầu trước’

BBCquote
Riêng về Tổng Bí thư thì việc của Đảng, nhưng các vị trí khác, thì Quốc hội có quyền đề xuất, dự kiến
Đại tá Bùi Văn Bồng

Hôm 22/10/2015, Đại tá Bùi Văn Bồng, nguyên trưởng Đại diện Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam tại Đồng Bằng Sông Cửu Long đưa ra bình luận với BBC:

“Quốc hội họp ít khi, ở Việt Nam, lại căn cứ vào thời sự chính trị trong nước và thế giới để mà đặt ra vấn đề gì đó cần họp. Quốc hội Việt Nam họp theo kế hoạch, theo quy trình và nội dung đã vạch sẵn, cho nên nó không đáp ứng được nhu cầu.

“Ví dụ bây giờ chuẩn bị Đại hội Đảng thì Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất thì phải đứng ra ai làm Chủ tịch, ai làm Thủ tướng, ai làm Bộ trưởng này kia, các thứ, ai làm Chánh án Tòa án Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao là phải dự trù trước và Quốc hội phải quyết trước đi.

“Sau đó Đảng mới dựa theo cái quyết đó của Quốc hội mà đưa vào Chương trình của Đảng để mà bầu nhân sự, thì quy trình đúng ra đi như thế mới là quy trình của dân chủ.

“Quốc hội không bàn vấn đề đó vì Đảng không chỉ đạo Quốc hội bàn. Bởi việc đó là việc của Đảng, Quốc hội chỉ biết chấp hành và tuân theo những gì Đảng đã chỉ đạo, đã lãnh đạo và nội dung đã được đảng duyệt, thì Quốc hội bàn theo nội dung đó.

“Cho nên chuyện thời sự chính trị rồi chuẩn bị cho Đại hội Đảng, Quốc hội hầu như không có quyền bàn đến vấn đề đó, chỉ rõ đó là việc của Đảng. Đảng chỉ đạo sao và làm sao là việc của Đảng.”

Theo nhà quan sát này, Quốc hội Việt Nam lẽ ra phải đảm trách một vai trò lớn hơn, ông nói:

“Đúng ra mà nói, Quốc hội phải đại diện cho cơ quan dân cử, dân bầu, đại diện cho cử tri, cơ quan quyền lực cao nhất, thì Quốc hội phải đứng ra để bầu trước, hoặc là dự kiến cũng được, các nhân sự sắp tới của Đại hội sắp tới, các nhân sự cơ bản, quan trọng.

“Riêng về Tổng Bí thư thì việc của Đảng, nhưng các vị trí khác, thì Quốc hội có quyền đề xuất, dự kiến, nhưng Quốc hội Việt Nam không làm thế được.

“Bởi vì Đảng không chỉ đạo thì không được làm,” Đại tá Bùi Văn Bồng nêu quan điểm.

‘Giám sát và né tránh’

BBCquote
Quốc hội cũng chỉ râu ria, loanh quanh, luẩn quẩn chuyện xây dựng bộ pháp luật này, pháp luật kia. Tất nhiên việc đó là việc cần thiết, nhưng ngoài ra có chức năng của Quốc hội phải giám sát. Giám sát công việc của nhà nước, thậm chí là công việc của Đảng
Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang

Hôm thứ Năm, một nhà vận động cho dân chủ hóa từ Việt Nam cũng nhận xét với BBC rằng một số vấn đề mà người dân ‘rất quan tâm’ về mặt thời sự và quốc sách lại chưa được Quốc hội Việt Nam công khai bàn bạc.

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang từ Hà Nội cho rằng Quốc hội đã không thực hiện được một chức năng, vài trò quan trọng mà theo ông là giám sát quyền lực của nhà nước và Đảng Cộng sản.

Ông nói: “Quốc hội cũng chỉ râu ria, loanh quanh, luẩn quẩn chuyện xây dựng bộ pháp luật này, pháp luật kia.

“Tất nhiên việc đó là việc cần thiết, nhưng ngoài ra có chức năng của Quốc hội phải giám sát.

“Giám sát công việc của nhà nước, thậm chí là công việc của Đảng, thì Quốc hội hầu như không làm được gì cả.

“Có những vấn đề hệ trọng hết sức đối với dân, với nước, ví dụ như vấn đề Trung Quốc xâm lấn Biển Đông và nguy cơ Trung Quốc phá nát nền kinh tế Việt Nam, Quốc hội không bao giờ bàn đến những vấn đề vĩ mô ấy.”


Quốc hội Việt Nam lẽ ra phải là cơ quan bầu chọn, dự kiến trước các nhân sự
lãnh đạo cho đất nước, chứ không phải là Đại hội Đảng, theo nhà bình luận.

Và nhà vận động khẳng định nguyên nhân vì sao nhiều phiên họp, kỳ họp của Quốc hội Việt Nam còn ít nhận được sự ‘quan tâm’ theo dõi như vào thời điểm như hiện nay.

Ông nói: “Không những người dân, bản thân tôi cũng ít quan tâm theo dõi các hội nghị của Quốc hội.”

“Vì sao? Vì có những vấn đề mà thực sự quan tâm, liên quan đến những vấn đề lớn, vấn đề quốc sách, thì không bao giờ Quốc hội bàn đến và không bao giờ Quốc hội phát biểu ý kiến cho dân nghe.”

Đầu tuần này, từ hôm thứ Ba, kỳ họp thứ 10, Quốc hội Việt Nam khóa 13 đã khai mạc và họp phiên toàn thể.

Trong các nội dung làm việc, Quốc hội đã nghe Thủ tướng Chính phủ và các thành viên nội các được Thủ tướng ủy quyền trình bày các báo cáo tổng thể kinh tế – xã hội và trong các lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên biệt, cũng như nghe các báo cáo, giải trình về các dự án luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Công tác xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững

Anh Vũ (RFA) – Chính quyền Việt Nam nói mỗi năm đầu tư hàng trăm ngàn tỷ đồng cho công tác xóa đói, giảm nghèo. Tuy vậy con số các hộ tái nghèo vẫn liên tục gia tăng. Thực tế ra sao và cần phải có giải pháp gì để công tác xóa đói, giảm nghèo được bền vững?


Người dân nghèo hành nghề cửu vạn tại Việt Nam. (Ảnh minh họa)

Tỷ lệ giảm nghèo không phản ánh đúng thực chất

Theo thống kê của Bộ Lao động TB & XH, trong 15 năm qua, ở Việt Nam đã có khoảng 43 triệu người dân thoát khỏi nghèo đói. Tỷ lệ các hộ nghèo giảm từ mức 29% năm 2002, xuống chỉ còn 8,4% năm 2014.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng tỷ lệ giảm nghèo này không phản ánh đúng thực chất vì thực tế số người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới cập nhật theo chuẩn nghèo mới, thì tỷ lệ người nghèo cả nước năm 2013 lên đến 20,7%.

Đánh giá về công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian qua, Thạc sĩ Đinh Văn Tuyền, trường Đại học Lao động và Xã hội nhận xét:

   Trong thời gian qua công tác xóa đói giảm nghèo cũng đạt được các kết quả nhất định, song tôi nghĩ rằng vẫn mang nặng tính hình thức nên chưa thực chất và chưa đạt hiệu quả cần thiết.
-Thạc sĩ Đinh Văn Tuyềnnbsp;  

“Trong thời gian qua công tác xóa đói giảm nghèo cũng đạt được các kết quả nhất định, song tôi nghĩ rằng vẫn mang nặng tính hình thức nên chưa thực chất và chưa đạt hiệu quả cần thiết. Tình trạng các hộ tái nghèo tăng lên đã cho thấy, khi nhà nước ngừng hỗ trợ về tiền bạc hay vật chất thì là lúc người dân lại nghèo trở lại. Theo tôi công tác xóa đói giảm nghèo hiện nay thiếu tính bền vững.”

Có ý kiến cho rằng sự thay đổi các tiêu chí về chuẩn nghèo là nguyên nhân khiến số đối tượng nghèo tăng lên. Trong khi đó người nghèo tại khu vực đô thị gia tăng do tốc độ đô thị hóa nhanh, các biến động về tự nhiên như lụt bão… đã làm cho nguy cơ tái nghèo trở nên phổ biến.

Còn ông Ngô Trường Thi, Chánh Văn phòng Quốc gia về Giảm nghèo giải thích:

“Bất cứ quốc gia nào cũng thế thôi, thì kể cả xã hội phát triển đến đâu thì cũng đều có từ 15-20% dân số sống dưới mức trung bình của xã hội. Đây là nhóm đối tượng mà chúng ta đang quan tâm. Tuy vậy cách làm của chúng ta cũng hết sức thận trọng, quy mô và tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo của cả nước theo tính toán của chúng tôi thì cũng không tăng lên so với trước. Trước đây nếu chỉ tính thu nhập thì có thể hộ này chưa thuộc diện nghèo, khi tiếp cận theo hướng này thì chúng ta sẽ mở rộng đối tượng, song số hộ nghèo và cận nghèo sẽ không tăng quá 20%.”

Ảnh minh họa chụp tại Thanh Oai, ngoại thành Hà Nội hôm 18/3/2015.

Ông Đinh Văn Tuyến cho rằng tư duy đối với công tác xóa đói giảm nghèo cần được thay đổi, thay vì cho người nghèo những gì họ thiếu thì nhà nước cần ràng buộc trách nhiệm của họ đối với các chi phí được nhà nước cấp, để buộc họ phải có trách nhiệm hơn. Ông nói:

“Chính sách xóa đói giảm nghèo luôn được coi như một chính sách hành chính chứ chưa hẳn là một chính sách xã hội. Các chính sách luôn hướng từ trên xuống theo cách rót vốn cho người nghèo để họ có thêm tiền để thoát nghèo, còn việc người nghèo sử dụng đồng vốn đó như thế nào thì nhà nước không quan tâm. Do đó người nghèo chỉ được xóa nghèo trên giấy, trong khi thực tế cuộc sống nghèo của họ không một chút thay đổi dù có thêm những khoản hỗ trợ. Một khi có những tác động từ biến động tình hình kinh tế – xã hội, thiên tai thì người nghèo sẽ rơi vào tình hình khó khăn hơn.”

Chuẩn nghèo không còn phù hợp

Việc sử dụng chuẩn nghèo dựa vào thu nhập, chi tiêu được áp dụng từ năm 1993 đến nay đã không còn phù hợp và bộc lộ nhiều hạn chế cần được sửa đổi cho phù hợp. Nói về chuẩn mức sống tối thiểu mới được áp dụng thay cho các tiêu chí về chuẩn nghèo cũ, ông Ngô Trường Thi giải thích:

“Chuẩn mức sống tối thiểu phải dựa trên cơ sở nhu cầu lương thực, thực phẩm để đảm bảo mức sống tối thiểu của con người mà nhu cầu tính bằng calo, và cộng với các chi phí để đáp ứng các nhu cầu về phi thực phẩm. Hai mức nhu cầu đó cộng lại sẽ là chuẩn mức sống tối thiểu và chuẩn này hết sức khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của nhà nước.”

Theo báo Lao động online cho biết, báo cáo của Ngân hàng Thế giới đánh giá, tỷ lệ giảm nghèo ở Việt Nam nhanh nhưng chưa bền vững, khoảng cách giàu – nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn; nhiều vùng còn nhiều khó khăn, có vùng còn trên 50% hộ nghèo, cá biệt có vùng còn 60% -70% hộ nghèo.

    Chuẩn mức sống tối thiểu phải dựa trên cơ sở nhu cầu lương thực, thực phẩm để đảm bảo mức sống tối thiểu của con người mà nhu cầu tính bằng calo, và cộng với các chi phí để đáp ứng các nhu cầu về phi thực phẩm.
– Ông Ngô Trường Thi   

Nói về các tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo hiện nay, ông Ngô Trường Thi nhận định:

“Do chính sách về xóa đói giảm nghèo quá nhiều, nên dẫn đến việc phân tán nguồn lực rồi chồng chéo trong quá trình thực hiện. Tôi xin lấy ví dụ như cùng là công tác dạy nghề, nhưng một đối tượng có thể thụ hưởng theo chính sách 156, hoặc dạy nghề cho đối tượng phụ nữ, dạy nghề cho nông dân hay dạy nghề cho người thiểu số. Song quan trọng nhất theo tôi là hiệu quả của công tác đó chúng ta đã không đánh giá được.”

Công tác xóa đói giảm nghèo đang đi dần vào các vấn đề mang tính thực chất hơn, kể từ năm 2016, Bộ Lao động TB&XH sẽ tiến hành áp dụng chuẩn nghèo đa chiều toàn diện, tức là chuẩn nghèo sẽ không chỉ lo cơm ăn, lo áo mặc mà nó còn các yếu tố khác như thông tin, được đi học và chăm sóc sức khỏe… sẽ được đề cập tới. Một cán bộ thuộc Viện Khoa học Lao động và Xã hội không muốn nêu danh tính khẳng định:

“Khi chúng ta đã xác định chuẩn nghèo đa chiều được rồi thì chắc chắn là số đối tượng cần tác động sẽ rất lớn. Chứ không phải chỉ như hiện nay chỉ có 7-8% hộ nghèo có thu nhập thấp như bây giờ đâu.”

Đề xuất các giải pháp để việc xóa đói giảm nghèo trở nên bền vững và hiệu quả, ông Đinh Văn Tuyền khuyến nghị:

“Nhà nước không thể xóa đói giảm nghèo bằng cách hỗ trợ bằng tiền và vật chất như hiện nay, theo kiểu, thiếu gì thì hỗ trợ cái đó. Về lâu dài tôi nghĩ phải thay thế bằng hình thức cho vay có điều kiện và buộc các hộ nghèo phải hoàn trả, hướng vào những chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững, không tiếp tục tạo ra sự trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Trước hết, là những hộ mới thoát nghèo, những hộ cận nghèo để họ không tái nghèo và không rơi xuống diện nghèo. Đồng thơi cần có các chính sách đồng bộ để tạo việc làm để tăng thu nhập cho người nghèo.”

Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc, học hành, khám chữa bệnh… so với chuẩn đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của mỗi quốc gia. Trách nhiệm đồng thời cũng là nghĩa vụ của mọi nhà nước đối với dân chúng là giảm thiểu tối đa tình trạng đó.

21 từ “chưa” trong báo cáo của Thủ tướng

Châu Minh (VnEconomy) – Nhiều đại biểu Quốc hội khen ngợi báo cáo của Thủ tướng trước Quốc hội đã đánh giá thành tựu cũng như nhìn nhận về yếu kém khá đầy đủ, song một số ý kiến cho rằng vẫn còn những khoảng trống.


Ngày 22/10, Quốc hội họp tại tổ để cho đánh giá về việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội,
ngân sách Nhà nước trong những năm qua và kế hoạch thực hiện trong 5 năm tới – Ảnh: SGGP.

Đếm được trong báo cáo của Thủ tướng có 21 từ “chưa”, đại biểu Nguyễn Văn Tuyết (Bà Rịa – Vũng Tàu) thấy vẫn cần bổ sung thêm một từ “chưa” nữa, là việc quy trách nhiệm chưa được làm rõ.

Đại biểu Đỗ Ngọc Niễn (Bình Thuận) dẫn chứng bằng kết quả cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Trong gần 5 năm qua, kết quả thoái vốn đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp Nhà nước chỉ đạt 8.390 tỷ/21.797 tỷ đồng (khoảng 38%). “Trách nhiệm này thuộc về ai, nhất là khi mà việc cổ phần hóa, đã được Chính phủ cam kết đẩy mạnh thực hiện từ đầu nhiệm kỳ?”, ông Niễn đặt câu hỏi.

Đại biểu Phạm Mạnh Thường (Thái Bình) nhắc lại: “Tại nhiệm kỳ Quốc hội khóa 12, Chính phủ có nhận định nợ công trên 50% là nguy hiểm, giờ lại nói trên 65% mới nguy hiểm thì không biết rút cục là thế nào?”. Ông Thường cũng nêu lên việc báo cáo lần nào Chính phủ cũng nêu lên hạn chế, như đầu tư còn dàn trải, lãng phí, “nhưng không thấy Chính phủ đề cập đến trách nhiệm”.

“Đây là thời điểm quan trọng vì là năm cuối cùng thực hiện nghị quyết 5 năm (2011-2015) và chuẩn bị Đại hội 12 của Đảng nên các đánh giá là hết sức quan trọng, bởi đó là cơ sở để tiếp tục thực hiện tốt kế hoạch 5 năm tới”, cựu Thống đốc Cao Sỹ Kiêm nhận định.

“Phần khuyết điểm, Chính phủ đã đánh giá khá toàn diện, có phân tích nguyên nhân và chỉ ra địa chỉ”, ông Kiêm nói, “tuy nhiên, vẫn cần phải bổ sung thêm một số từ “chưa” nữa”. Vị cựu Thống đốc – người cũng là đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình – nhắc về “món nợ” nhiệm kỳ qua, Chính phủ đã nói nhiều tới vấn đề thể chế, cải cách, nhưng còn chậm về giải pháp, chưa dứt khoát và toàn diện giữa các ngành, khiến việc thực hiện còn mơ hồ.

“Báo cáo đánh giá khá toàn diện, nhưng thiếu cái nhìn ngang”, đại biểu Dương Trung Quốc nêu ý kiến, “cần nhìn sang các quốc gia khác để thấy chúng ta còn thiếu những “chưa” gì để mà phát triển, nếu không có thể sẽ tụt hậu”. Theo ông Quốc, “chúng ta chỉ phân tích hôm nay tốt hơn hôm qua, nhưng những con số cũng nói lên nhiều điều. Chẳng hạn, dân số đứng thứ 13 nhưng GDP đứng thứ 45”.

Trong khi đó, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu nhận xét, trong báo cáo, số doanh nghiệp thành lập mới phải so sánh với số ngừng hoạt động.

Báo cáo của Thủ tướng nêu trong 9 tháng năm 2015, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 28,5% và vốn đăng ký tăng 31,4% so với cùng kỳ năm 2014. Thẩm tra báo cáo này, Ủy ban Kinh tế dẫn ra con số năm 2013 có khoảng 60.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động, con số này năm 2014 khoảng 67.800 và 9 tháng năm 2015 là 54.566 doanh nghiệp. Như vậy, trong 9 tháng năm 2015, số doanh nghiệp khó khăn tương đương cả năm 2011, cả năm 2012 .

Báo cáo của Thủ tướng nêu khu vực nông nghiệp phát triển khá ổn định, giá trị sản xuất tăng 3,85%/năm.

Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế chỉ ra rằng khu vực nông nghiệp 9 tháng đầu năm chỉ tăng trưởng ở mức 2,08% so với mức tăng 2,94% của cùng kỳ năm 2014, nông nghiệp là ngành đóng góp xuất khẩu lớn và xuất siêu khoảng 10 tỷ USD/năm, nhưng giảm cả về sản lượng và giá trị xuất khẩu.

Trong báo cáo của Thủ tướng, chỉ số năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) giai đoạn 2011-2015 đạt bình quân 28,94%/năm.

Tuy nhiên, trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế, con số này ở mức 24-25%. Ủy ban Kinh tế cũng nêu lên các phép so sánh là vào thời điểm năm 2010, yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam còn đạt được mức 28- 29%.

Ở một số nước trong khu vực, chỉ tiêu yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp tăng trưởng đều ở mức là 35-40%.

Báo cáo Thủ tướng nêu con số năng suất lao động tăng bình quân 3,8%/năm. Còn Ủy ban Kinh tế đưa ra con số, năng suất lao động Việt Nam so với một số nước Đông Nam Á như: Singapore chỉ bằng 1/18, Malaysia bằng 1/6,5, Thái Lan bằng 1/2,7.

Đặc biệt, trong lĩnh vực ngân sách, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, người cũng là đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu, “nếu chỉ nhìn vào các con số kế hoạch thu ngân sách năm 2016, sẽ thấy có vẻ vui”.

“Nhưng đó chỉ là những tính toán mang tính kỹ thuật và trên sổ sách. Số tiền ngân sách Trung ương thực cầm trong tay chỉ có khoảng 45 nghìn tỷ đồng”, ông nói.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s