Tiền đực, nợ cái

Posted: October 25, 2015 in Uncategorized
Tags:

Đào Tuấn (LĐ) – Có hai phát ngôn nghị trường lập tức “dậy sóng dư luận” khi “nói quá đúng” về một tình trạng kinh tế mà chúng ta đang phải đương đầu.

� Xem thêm: Cân đối ngân sách 2016 nhìn từ dầu thô + Việt Nam đang mơ thành công xưởng của thế giới.


Kuoc Kuoc (Danlambao)

Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (QH) – ĐBQH Trần Du Lịch bảo: “Đi vay là phải vay tiền “cái” đẻ (ra tiền) được, còn ta vay toàn tiền “đực”, không đẻ được”. Và Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng đặt câu hỏi về khoản nợ 37.000 tỉ đồng “khi nào trả? Mấy năm vừa rồi cũng nợ nữa. Đã thế còn vay ngắn, chưa vay đã trả lấy gì mà cân đối được”. Và ông nói thẳng “Năm nay không có đồng nào tăng lương. Nói hay thế mà 1 đồng xu tăng lương không có là thế nào!”.

Thật lo cho tình trạng nền kinh tế phải phát hành 3 tỉ USD trái phiếu CP ra nước ngoài. Cái tệ ở chỗ đây thực chất là khoản vay nước ngoài khi không còn có thể vay (phát hành) trong nước được nữa. Cái tệ còn ở việc vay, chỉ là để đảo nợ. Tức là vay “tiền đực”, “tiền vô sinh”.

Thật ngậm ngùi cho một nền kinh tế “hàng chục năm đi vay” trong khi “làm chỉ đủ cho chi thường xuyên”. Thật kỳ cục cho những cái “ngưỡng” nợ nần: Khi nợ công 47-48% GDP thì giải thích là “tới ngưỡng an toàn”. Nợ lên đến 54% cũng “gần tới ngưỡng”. Và giờ, khi nợ công vọt lên 63% thì ngưỡng lại được giải thích là… 65%.

Không ngẫu nhiên, hôm qua ĐBQH Nguyễn Kim Thúy nói chuyện vay chỉ để mua sắm “cho bằng bạn bằng bè”.

Không ngẫu nhiên, Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn nhắc lại khoản 400 triệu USD trái phiếu mà Vinashin từng phát hành và sau đó, Chính phủ phải bảo lãnh cho tập đoàn này phát hành trái phiếu để tái cơ cấu khoản nợ cũ đã lên tới 600 triệu USD.

Đúng là những khoản nợ cái, lãi mẹ đẻ lãi con mà nói như Phó Chủ tịch Huỳnh Ngọc Sơn sợ “con cháu sẽ oán giận” khi “Kỳ hạn 10 năm thì đời con phải trả nợ. Kỳ hạn 30 năm thì đến đời cháu”.


Ảnh minh hoạ

Có thời, báo chí nói về chuyện “sợ vay” của nông dân như một thứ cản trở cho xóa nghèo và phát triển. Tâm lý ấy có thật. Nông dân sợ vay, vì sợ không trả được nợ, vì khoản trả nợ là tiền túi, tiền mồ hôi nước mắt, vì không thể vay đảo nợ, vì nợ là đồng nghĩa với nguy cơ phá sản, ăn mày, lao lý. Và vì khoản nợ đó không thể đổ lên đầu con cháu.

Nợ của anh nông dân bản chất chẳng khác nợ Chính phủ ở chỗ nợ nào rồi cũng phải trả. Chỉ khác ở chỗ anh nông dân không bao giờ dám đi vay, không bao giờ ném phung phí mọi hạt lúa, củ khoai vào hội hè đình đám khai trương khánh thành kỷ niệm để rồi phải vay nợ và chỉ để cho “bằng bạn bằng bè”.

[:-/] Cân đối ngân sách 2016 nhìn từ dầu thô ( Ngọc Lan TBKTSG) – Kinh tế năm 2015, theo báo cáo của Chính phủ trình ra Quốc hội hôm khai mạc 20-10, sẽ tăng trưởng ở mức 6,5%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra (6,2%). Các cân đối vĩ mô khá ổn định.

Chính phủ đã làm đúng những gì đã nói từ đầu năm, là vẫn đảm bảo mục tiêu tăng trưởng trước sức ép giá dầu giảm, do 10% thu ngân sách là từ dầu thô. Nhưng cân đối ngân sách đã rất căng thẳng và dự kiến nó sẽ còn căng thẳng hơn trong năm 2016, theo đánh giá của Ủy ban Tài chính – Ngân sách (Quốc hội) khi thẩm tra dự toán ngân sách 2016.

Cuối năm 2014 và đầu năm 2015, khi giá dầu giảm xuống mức bình quân 58 đô la/thùng, dự báo ngân sách sẽ hụt thu 50.000 tỉ đồng, Bộ Tài chính vẫn khẳng định cân đối được ngân sách. Nhưng hụt thu thực tế từ dầu thô và các khoản thu khác do giá dầu giảm trong năm nay, theo Ủy ban Tài chính – Ngân sách, là 63.000 tỉ đồng. Cơ quan này cho rằng tình hình này ảnh hưởng đến cân đối ngân sách trung ương, bởi dù tổng thu ngân sách năm nay ước vượt dự toán 16.400 tỉ đồng, nhưng do tăng thu chủ yếu từ ngân sách địa phương (hơn 47.000 tỉ) còn ngân sách trung ương hụt thu 31.300 tỉ.

Tìm mọi cách để bù đắp giảm thu là chuyện phải làm, nhất là khi việc phát hành trái phiếu chính phủ trong năm nay gặp vô số khó khăn do Quốc hội không cho phép huy động trái phiếu ngắn hạn.

Mặt khác, cho dù Chính phủ không thừa nhận việc cho phép bán toàn bộ vốn nhà nước tại 10 doanh nghiệp lớn, làm ăn hiệu quả là để bù đắp ngân sách đang thiếu hụt, thì công luận vẫn cho rằng dự đoán này là có cơ sở. Bởi lẽ, năm nay, Chính phủ đã đề nghị phương án sử dụng một phần tiền bán cổ phần nhà nước tại doanh nghiệp (cỡ 10.000 tỉ đồng) để góp phần xử lý hụt thu ngân sách trung ương. Tuy nhiên, số còn lại khoảng 21.300 tỉ đồng còn thiếu sẽ được xử lý từ nguồn nào thì chưa rõ.

Ngoài ra, trong hai năm 2015-2016 Chính phủ còn nợ 363.000 tỉ đồng trái phiếu chính phủ đến hạn thanh toán chưa có nguồn trả, mà tìm cách tái cơ cấu nợ cũng chưa xong.

Hơn nữa, chuyện bán cổ phần nhà nước tại những doanh nghiệp đang “ăn nên làm ra” cũng có trong phương án bổ sung ngân sách cho năm sau. Ủy ban Tài chính – Ngân sách đã nhất trí với đề nghị bán bớt phần vốn nhà nước tại một số doanh nghiệp nhà nước để thu về 30.000 tỉ đồng (khoảng hơn 1,3 tỉ đô la Mỹ) bổ sung cho chi đầu tư phát triển, cho một số dự án lớn. Tuy nhiên, giải pháp bù đắp này chỉ được xem là ngắn hạn.

Năm 2016, dự kiến tăng chi ngân sách là 11%, trong khi tăng thu chỉ ở mức 9,4% khiến cho cân đối ngân sách sẽ khó hơn. Đó là chưa tính đến những khoản nợ ngân sách chưa tìm được nguồn trả: nợ xây dựng cơ bản, nợ trái phiếu đến hạn, nợ hai ngân hàng chính sách…

Thông thường những năm trước, việc vượt dự toán vài chục ngàn tỉ đồng từ giá dầu thường giúp các nhà điều hành ngân sách giải quyết những khoản thiếu hụt khác một cách linh hoạt. Tuy nhiên năm nay, và có thể cả năm 2016, tình hình không còn như trước, nhất là khi nhiều nguồn thu khác giảm mạnh do Việt Nam phải cắt giảm mạnh thuế theo các cam kết hội nhập.

Và khó có thể nói rằng, giá dầu giảm sẽ tác động tích cực đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế khi Chính phủ đã được “bật đèn xanh” để tăng thu nội địa bằng cách tăng mức huy động từ thuế, phí và lệ phí không thấp hơn 20%, trong khi tỷ lệ này ở các quốc gia khác ngày càng giảm.

Từ bỏ giấc mơ dùng Mác-Lê-Mao-Hồ để làm “kẻ đào mồ chôn giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản”, CSVN chuyển sang mơ làm gia công cho thế giới tư bản nhằm tồn tại:

Việt Nam đang mơ thành công xưởng của thế giới

Tư Hoàng (TBKTSG Online) – Việt Nam đang mơ trở thành công xưởng của thế giới trong bối cảnh gia nhập hàng loạt các hiệp định thương mại tự do, và làn sóng đầu tư nước ngoài đang rục rịch rời khỏi Trung Quốc.


Liệu Việt Nam có trở thành công xưởng của thế giới là băn khoăn của nhiều lãnh đạo – Ảnh: Tư Giang

Ông Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bày tỏ mong muốn này: “Một số tổ chức nhận xét Việt Nam có cơ hội trở thành trung tâm chế biến, chế tạo mới, gợi ý cho chúng tôi cần phải làm rõ thêm chúng ta có tiền đề gì để hướng đến xu thế phát triển này. Chúng tôi cũng phải nhận định nhu cầu chuyển dịch trung tâm chế tạo thế giới như thế nào? Việt Nam có điều kiện chuyển dịch ra sao?”

Ông Nhân đặt ra hàng loạt câu hỏi tại Hội thảo “Việt Nam trở thành một trung tâm chế biến, chế tạo mới của thế giới sau năm 2015” do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ngân hàng Thế giới đồng tổ chức tại Hà Nội hôm nay, ngày 24-10.

Ông Nhân đặt tiếp câu hỏi để thảo luận: “Vấn đề thứ hai cần đặt ra là người ta đi đâu, vì sao họ đến các nước đó? Nếu việc chuyển dịch có tính tất yếu 20-30 năm, Việt Nam muốn tham gia thì có điều kiện gì, gặp khó khăn gì?”

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình khẳng định, trong cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng một vai trò quan trọng, tiếp tục là động lực trụ cột cho tăng trưởng kinh tế.

Từ đầu năm 2012 đến nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam luôn thu hút được rất nhiều sự quan tâm từ các nhà đầu tư nước ngoài, góp phần không nhỏ thúc đẩy phát triển một ngành công nghiệp thịnh vượng, bền vững ở nước ta.

Tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tổng vốn đăng ký của cả nước đã tăng đều trong thời gian vừa qua (năm 2011 chiếm 50%, năm 2012 chiếm 70%, năm 2013 chiếm 76,6%, năm 2014 chiếm 72%). Có tới 80/101 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án FDI tại Việt Nam đã đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp này.

Ông Bình nói: “Như vậy, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại Việt Nam đang có rất nhiều lợi thế nổi bật để có thể trở thành một trung tâm chế biến, chế tạo mới của thế giới.”

Theo bà Victoria Kwakwa, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Việt Nam “có cơ hội” trở thành trung tâm chế biến, chế tạo của thế giới. Tỷ trọng vốn FDI đổ vào lĩnh vực chế biến, chế tạo của Việt Nam trong 10 năm qua tăng nhanh. Tuy tỷ trọng này còn nhỏ hơn nhiều quốc gia như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia song cơ hội với Việt Nam còn rất rộng mở.

“Việt Nam sẽ tiếp tục có lợi thế để phát triển nhờ vị trí gần chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, lực lượng lao động dồi dào, lương và chi phí thấp. Việt Nam cũng đang cởi mở thương mại, hội nhập, ký nhiều FTA… và là quốc giá có tiềm năng thị trường lớn, tầng lớp trung lưu đang tăng lên”, bà Victoria Kwakwa phát biểu.

Theo Phó Thống đốc NHNN Việt Nam Nguyễn Kim Anh, Việt Nam đang hội đủ “thiên thời, địa lợi và nhân hòa” để trở thành trung tâm chế tạo mới của thế giới trong vòng 20 năm tới.

Về “thiên thời”, theo ông Kim Anh, làn sóng chuyển dịch đầu tư từ Trung Quốc sang Việt Nam và các nước Đông Nam Á cho thấy Trung Quốc không còn được xem là công xưởng chính của thế giới.

Có tới 60% doanh nghiệp Nhật được khảo sát tại diễn đàn “Xúc tiến đầu tư thương mại Việt Nam – Nhật Bản 2015” cho biết sẽ chuyển dòng vốn đầu tư từ các nước châu Á sang Việt Nam trong năm 2015 và những năm tiếp theo.

Theo công bố của Bộ Tài chính Hàn Quốc, trong nửa đầu năm 2015, đầu tư của Hàn Quốc vào Trung Quốc đã giảm đến 32,1%.

Ông Kim Anh phân tích, sự chuyển dịch nhà máy ra khỏi Trung Quốc là thực tế khách quan khi mà nước này đã phát triển đến ngưỡng không còn lợi thế nhân công giá rẻ và chi phí thuê mặt bằng thấp. Bên cạnh đó, kinh tế vĩ mô tiềm ẩn rủi ro, nguy cơ bong bóng bất động sản và chứng khoán của Trung Quốc càng làm cho xu hướng rút vốn ra khỏi nước này rõ nét hơn.

Trong khi đó, Việt Nam hiện đã tham gia nhiều tổ chức kinh tế, diễn đàn quốc tế quan trọng như WTO, ASEAN (AFTA), ASEAN + 3, ASEM, APEC, các hiệp định thương mại song phương với các đối tác kinh tế quan trọng như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc. Đặc biệt, Việt Nam vừa đàm phán thành công để trở thành thành viên Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), mở ra cơ hội lớn cho kinh tế Việt Nam phát triển, tạo ra hiệu ứng tích cực đáng kể đối với đầu tư và xuất khẩu của đất nước.

Về yếu tố “địa lợi”, ông Kim Anh cho rằng, làn sóng đầu tư của nước ngoài chọn Việt Nam như là vùng trũng để thực hiện đầu tư. Ngay từ khi mới tập trung đầu tư vào Trung Quốc, các tập đoàn chế tạo nước ngoài đã chọn Việt Nam là địa chỉ sản xuất phụ để làm dự phòng khi chuyển hướng chiến lược. Trong số đó, phải kể đến các tập đoàn lớn như Toyota, Honda của Nhật Bản, Ford của Mỹ, Samsung của Hàn Quốc.

Việt Nam có biên giới với Trung Quốc, cùng với bờ biển dài, rất dễ dàng cho chuyển dịch công xưởng từ Trung Quốc sang cũng như hoạt động xuất nhập khẩu với chi phí vận chuyển thấp.

Bên cạnh đó, dân số Việt Nam hơn 100 triệu người, trong đó 40% là lao động dưới 25 tuổi, chi phí nhân công chỉ bằng phân nửa so với Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia, Philippines. Lợi thế về nguồn lao động trẻ dồi dào và chi phí nhân công thấp là thế mạnh vượt trội của Việt Nam so với các nước trong khu vực.

Dân số đông, thu nhập bình quân hơn 2.200 đô la Mỹ/người và có xu hướng tăng nhanh thời gian tới, nhất là tầng lớp trung lưu Việt Nam sẽ tăng trưởng gấp đôi, từ 12 triệu năm 2014 tăng lên 33 triệu trong năm 2020 là một lợi thế lớn. Bên cạnh đó, Việt Nam đang là thị trường bán lẻ đầy tiềm năng được nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm.

Cuối cùng là yếu tố “nhân hòa”, theo ông Kim Anh nhận xét, là sự quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước và các địa phương trong việc xây dựng phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế, thể hiện qua các Nghị quyết của Đảng, các chiến lược phát triển kinh tế của Chính phủ từ năm 1986 đến nay.

Theo đó, nhất quán quan điểm phát triển và khẳng định vai trò của khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất là một trong những nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Việt Nam đã ban hành luật và các chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với nhiều ưu đãi, khuyến khích. Cùng với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là các chính sách khuyến khích đầu tư trong nước.

Tính đến năm 2014, trên cả nước có 288 khu công nghiệp, thu hút được trên 4.770 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đã đăng ký hơn 70,3 tỉ đô la Mỹ, vốn đầu tư đã thực hiện đạt 36,2 tỉ đô la Mỹ. Vốn đầu tư tăng thêm hàng năm của các doanh nghiệp FDI chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tạo ra hơn 60% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Nhiều tập đoàn sản xuất hàng đầu thế giới như Toyota, Samsung, Honda, … đã và đang kinh doanh thành công tại Việt Nam.

Về dự án đầu tư trong nước, đã có trên 5.210 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 464.500 tỉ đồng vào các KCN, với tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 250.000 tỉ đồng. Các khu công nghiệp, khu kinh tế cả nước đã thu hút trên 2,6 triệu lao động cả trực tiếp và gián tiếp.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s