Việt Nam quá khó ‘thoát Trung’: Kẻ nào tiếp tay bán đứng dân tộc?

Posted: October 26, 2015 in Uncategorized
Tags:

Phạm Chí Dũng (Người Việt) – Phải làm rõ trách nhiệm của các quan chức “thân Trung” ở những bộ ngành liên hệ quá môi răng với hàng nhập từ Trung Quốc: Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải Đinh La Thăng, Bộ Trưởng Xây Dựng Trịnh Đình Dũng. Việc làm rõ và quy trách nhiệm này cần được làm trước Đại Hội Đảng 12.

� Xem thêm: Đường sắt Cát Linh-Hà Đông: Vốn vay TQ đội lên do đâu? + Mặt trái của việc TQ tăng đầu tư vào Việt Nam.

Mùa Thu năm 2015 và là lần đầu tiên kể từ Hội Nghị Thành Đô những năm 1990, báo chí và dư luận xã hội Việt Nam bất ngờ tỉnh ngủ về tương lai “thoát Trung” nếu Việt Nam được gia nhập Hiệp Định TPP. Thậm chí vài tờ báo nhà nước còn can đảm rút tít từ ngữ trong ngoặc kép bị coi là rất nhạy cảm này.

Sự kiện trên diễn ra trong bối cảnh hơn một năm sau thời điểm giàn khoan HD 981 của Trung Quốc tha hồ vỗ mặt Bộ Chính Trị và Quốc Hội Việt Nam, và ngay sau khi TPP kết thúc đàm phán với một chân của Việt Nam đặt trên ngưỡng cửa hiệp định cứu rỗi kinh tế này.

Cũng từ khoảng một năm qua, có tin cho biết “Trung ương đảng” đã quyết định “dần thoát Trung.” Bằng chứng là ngay cả một nhân vật bị coi là cực kỳ bảo thủ như Tổng Bí Thư Trọng cũng đã đặt chân đến Washington vào Tháng Bảy vừa qua.

Thế nhưng thực tiễn “thoát Trung” bằng cách nào và tiến hóa tới đâu lại là bài toán cực kỳ nan giải, nếu xét từ hệ quy chiếu ngàn năm Bắc thuộc và hệ tư tưởng cộng sinh của Hà Nội vào Bắc Kinh trong suốt bảy chục năm lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bởi “thoát Trung” ngay trong những năm tới là một khả năng hoàn toàn “viễn vông” – nếu có thể mượn từ ngữ này của Thủ Tướng Dũng để mô phỏng mối quan hệ Việt-Trung.

Mối tình ngang trái

Ngay sau vụ HD 981 vào giữa năm 2014, giới chính trị và người dân Việt Nam đã phải tính tới viễn tượng đất nước bị Trung Quốc tấn công. Nếu kịch bản này xảy ra ngay tức khắc, cánh cửa nhập khẩu nguyên phụ liệu từ Trung Quốc dùng cho các doanh nghiệp dệt may sẽ bị đóng sập. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã thản thốt than trời rằng nếu mất nguồn nhập khẩu đã ăn sâu vào não trạng này, họ chỉ có thể cầm cự được tối đa ba tháng.

Trong lịch sử buôn bán hai chiều với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc nhiều nhất. Trung Quốc trở thành thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỉ trọng khoảng 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Năm 2014, nhập siêu của Việt Nam từ thị trường này ở mức kỷ lục với 28 tỷ USD – theo thống kê chính thức của phía Việt Nam. Nhưng số liệu phía Trung Quốc lại còn cao hơn, cộng thêm cả hàng nhập tiểu ngạch đường biên mậu, hàng lậu, trốn thuế. Nếu vào năm 2012, Việt Nam công bố con số nhập khẩu từ Trung Quốc là 28.8 tỷ USD, thì con số của cơ quan chức năng Trung Quốc lại đến 34 tỷ USD.

Phần lớn hàng nhập từ Trung Quốc là hàng trung gian, chiếm 60% gồm nguyên phụ liệu cho các ngành dệt may, da giày, điện tử; các loại máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm khoảng 30%; hàng tiêu dùng chiếm 10%.

Trong danh sách các mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2014, Việt Nam tốn hàng chục tỷ USD cho nguyên phụ liệu dệt may, da giày, vải các loại, sắt thép, máy vi tính và sản phẩm điện tử linh kiện, máy móc, thiết bị dụng cụ, phụ tùng, điện thoại các loại…

Chỉ từ sau năm 2000 đến nay, giá trị nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng đến 150 lần, từ mức 200 triệu USD lên đến 35 tỷ USD dự kiến trong năm 2015. Còn trong những năm 2013 và 2014, Việt Nam phải nhập siêu từ 23-24 tỷ USD hàng năm từ Trung Quốc. Đó là chưa kể đến 20 tỷ USD nhập lập từ Trung Quốc mà cho tới giờ này các bộ ngành Việt Nam vẫn còn nhắm mắt đổ lỗi cho nhau, không ai biết số hàng này tuồn đi đâu và cũng chẳng ai dám nhận trách nhiệm…

Một nghiên cứu của Trung Tâm WTO còn cho thấy, các nhà thầu Trung Quốc là tổng thầu EPC của 77/106 dự án lớn trong các lĩnh vực hóa chất, khai thác chế biến bauxite, xi măng, nhiệt điện… của Việt Nam. Đây là những dự án lớn, ảnh hưởng đến nền kinh tế nhưng do nhà thầu Trung Quốc thực hiện nên một phần đáng kể nguồn cung năng lượng, các hoạt động của nền kinh tế phụ thuộc vào năng lực, chất lượng và hiệu quả từ các hoạt động của nhà thầu nước này. Phần lớn các dự án lại sử dụng máy móc, vật tư, nguyên liệu nhập từ Trung Quốc càng khiến tình trạng nhập siêu của Việt Nam từ thị trường này thêm trầm trọng. Nhiều nhà máy sau khi đi vào vận hành lại gặp trục trặc, thời gian sửa chữa, bảo dưỡng kéo dài…

Đó là một sự mất cân xứng quá lớn và làm lợi rất nhiều cho Trung Quốc.


Bộ trưởng công thương Vũ Huy Hoàng

Ai và những cơ quan nào của Việt Nam đã tiếp tay cho hậu quả phụ thuộc thiên triều như thế? Làm sao có thể “thoát Trung” về kinh tế nếu vẫn khư khư ôm chặt mối tình bời rời ngang trái giữa hai thân xác chính trị thỗn thện?

Kẻ nào tiếp tay bán đứng dân tộc?

Giới chuyên gia đánh giá: Với tỉ trọng 60% nguyên phụ liệu đầu vào nhập từ Trung Quốc, nếu từ bỏ thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ xoay trở không kịp. Cơ cấu này đang gây khó rất lớn cho việc Việt Nam tham gia vào TPP, ứng với một điều kiện không thể thay đổi của TPP là Việt Nam phải chuyển đổi vùng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước ngoài TPP như Trung Quốc về các nước trong khối TPP.

Vậy là TPP chỉ có thể làm được vài việc cho khả năng thoát Trung về kinh tế. Với quy định nghiêm ngặt của TPP về cơ chế phải nhập nguyên vật liệu từ các nước nội khối TPP, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải bắt buộc chuyển đổi dần cơ cấu nhập khẩu từ kênh Trung Quốc sang các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore…, giãn dần tỉ lệ nhập siêu từ Trung Quốc.

Tuy thế, cản ngại rất lớn đang tồn tại đối với triển vọng thoát Trung không chỉ là là thói quen nhập hàng giá rẻ của Trung Quốc, mà còn bởi lợi ích nhóm về kinh tế và chính trị của một lực lượng không nhỏ giới quan chức Việt Nam nhưng “thân Tàu.” Trong thời gian qua, số quan chức này đã tìm cách ngăn cản và phá đám Hiệp Định TPP cho Việt Nam. Trong thời gian tới, những quan chức này còn có thể tiếp tục tạo ra những tình huống nan giản để gây khó khăn cho tiến trình Việt Nam triển khai thực thi các quy định TPP. Đặc biệt với những quan chức này nằm trong những bộ ngành kinh tế liên quan mật thiết đến TPP như Bộ Công Thương, Bộ Xây Dựng, Bộ Giao Thông Vận Tải, Bộ Kế Hoạch và đầu tư…, nhiều doanh nghiệp Việt Nam muốn chuyển đổi kênh nhập khẩu sẽ bị hành hạ không ít bởi chủ kiến chính trị của Bắc Kinh.

Bởi thế trong những năm trước mắt, chỉ có thể thận trọng nói tới khả năng Việt Nam “giãn Trung” về kinh tế, và tốt hơn nữa là “giãn Trung” về chính trị.

Nhưng muốn “giãn Trung” về chính trị như điều mà có lẽ phần lớn giới lãnh đạo Hà Nội đang ý thức một cách chậm chạp, lại cần phải có những hành động cụ thể thay cho lời lẽ đầu môi chót lưỡi và thay cho những khẩu hiệu mà đã khiến trí thức và nhân dân nhàm chán đến mức tăng vọt hệ số tiểu đường.

Tại sao dư luận càng phản ứng thì nạn nhập siêu từ Trung Quốc càng trầm trọng và năm sau càng trầm kha hơn năm trước? – đòi hỏi đầu tiên của nhân dân cần được giới lãnh đạo Việt Nam xử lý ngay.

20 tỷ hàng nhập lậu từ Trung Quốc đã đi đâu và ai, những cơ quan nào phải chịu trách nhiệm về lỗ hổng có thể nuốt sống cả dân tộc như thế? – một đòi hỏi tiếp theo.

Hai đòi hỏi trên lại dẫn đến đòi hỏi thứ ba và không thể thiếu: Phải làm rõ trách nhiệm của các quan chức “thân Trung” ở những bộ ngành liên hệ quá môi răng với hàng nhập từ Trung Quốc: Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải Đinh La Thăng, Bộ Trưởng Xây Dựng Trịnh Đình Dũng. Việc làm rõ và quy trách nhiệm đối với các ủy viên trung ương này phải được làm trước khi đảng cầm quyền tổ chức Đại Hội lần thứ 12.

Kể cả những kẻ đã tiếp tay bán đứng dân tộc này cho Trung Quốc…

Đường sắt Cát Linh-Hà Đông: Vốn vay TQ đội lên do đâu?

Minh Thái (BĐV) – Từ tổng mức đầu tư ban đầu là 553 triệu USD, dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông đã “đội” lên con số 868 triệu USD, tăng 315 triệu USD.

Gửi tới Quốc hội báo cáo mới nhất về dự án đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến Cát Linh – Hà Đông, thay mặt Chính phủ, nhận uỷ quyền của Thủ tướng, Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng thông tin cụ thể về việc công trình bị đội vốn “khủng”.

Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết, tổng mức đầu tư ban đầu của Dự án đã được Bộ GTVT phê duyệt năm 2008 là gần 8.800 tỷ đồng tương đương 553 triệu USD. Trong đó, vốn vay tín dụng ưu đãi của Trung Quốc là 1,2 tỷ nhân dân tệ (tương đương 169 triệu USD) với lãi suất 3%/năm và vốn vay ưu đãi bên mua cũng của nước này là 250 triệu USD (lãi suất 4%/năm). Vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam là gần 134 triệu USD.

Duong sat Cat Linh-Ha Dong: Von vay TQ doi len do dau?
Phần vốn vay của Trung Quốc phải tăng thêm 250,62 triệu USD.

Đến thời điểm này, dự án phải điều chỉnh vốn rất lớn với tính toán của tư vấn TEDI, được Viện Kinh tế Xây dựng – Bộ Xây dựng thẩm tra là 868 triệu USD, tăng 315 triệu USD , tức tăng gần 1,6 lần so với tổng mức đầu tư đã được phê duyệt.

Trong đó, phần vốn vay của Trung Quốc phải tăng thêm 250 triệu USD. Đáng chú ý, trong khoản này, riêng các chi phí thuộc Hợp đồng EPC với tổng thầu Trung Quốc đã đội lên hơn 248 triệu USD. Chỉ gần 2,2 triệu USD là thuộc chi phí dự phòng tăng thêm.

Phần vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam cũng phải điều chỉnh tăng thêm gần 65 triệu USD (tương đương 2.000 tỷ đồng). Chi phí giải phóng mặt bằng cũng khiến tổng mức đầu tư đội thêm 63 triệu USD (tương đương 1.900 tỷ đồng).

Như vậy, phần lớn trong tổng số tiền vốn bị “vống” lên của dự án (248/315 triệu USD) nằm ở các chi phí thuộc hợp đồng với tổng thầu EPC (Trung Quốc).

Báo cáo cũng nêu rõ những lý do phải điều chỉnh vốn là do thay đổi phương án nhà ga từ 2 tầng thành 3 tầng; bổ sung hạng mục xử lý nền đất yếu khu depot; bổ sung hạng mục đường tránh quốc lộ 6; điều chỉnh vật liệu vỏ tàu từ thép chịu khí hậu sang thép inox; bổ sung chi phí đào tạo, chuyển giao công nghệ; thay đổi vị trí bãi đúc dầm; công tác nghiệm thu thiết bị, đoàn tàu và vận hành chạy thử dự án; kinh phí giải phóng mặt bằng (bao gồm cả di dời công trình hạ tầng kỹ thuật) thay đổi; do trượt giá…

Đánh giá chung về tình hình thực hiện dự án, bên cạnh khó khăn đã nêu ở trên, Chính phủ còn đề cập đến việc giải phóng mặt bằng chưa kịp thời, năng lực của chủ đầu tư dự án trước đây là Cục Đường sắt Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm. Hoặc, do dự án phải sử dụng đồng thời nhiều hệ thống quy trình, quy phạm thiết kế, định mức, đơn giá…

Cũng liên quan đến dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông, cuối tháng 9 vừa qua, Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH đã có kết luận thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật lao động tại Công ty hữu hạn Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc, đơn vị tổng thầu thi công toàn bộ tuyến đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông.

Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH chỉ rõ nhiều quy định của pháp luật lao động chưa được Tổng thầu thi công tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ. Ví dụ: Công ty hữu hạn Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc chưa báo cáo định kỳ về tình hình sử dụng và nhu cầu tuyển dụng lao động cũng như tình hình tai nạn lao động 6 tháng, hàng năm với cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương.

Hợp đồng lao động chưa thỏa thuận cụ thể quyền lợi, nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động (không thỏa thuận nội dung bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp); áp dụng mức lương tối thiểu thấp hơn mức lương tối thiểu vùng (có 20 người chỉ được trả 3 triệu đồng/tháng); chưa trả lương những ngày người lao động chưa nghỉ theo quy định. Đồng thời, đơn vị này chưa đóng bảo hiểm cho 28 người thuộc diện phải tham gia; chưa tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động.

Đáng lưu ý, Tổng thầu chưa kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với 8 máy, thiết bị thuộc danh mục máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động theo quy định; chưa khai báo với Sở LĐ-TB&XH TP Hà Nội khi sử dụng máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động theo quy định.

Doanh nghiệp cũng chưa lập phương án xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp và tổ chức diễn tập các phương án xử lý khi xảy ra sự cố đối với máy, thiết bị trong hồ sơ kỹ thuật, biện pháp thi công theo quy định.

Theo kết luận, tổng số người đang làm việc tại công trình đường sắt đô thị tuyến Cát Linh-Hà Đông là 168 người, trong đó có 86 người Trung Quốc và 82 người Việt Nam.

Mặt trái của việc TQ tăng đầu tư vào Việt Nam

Chân Luận (PL) – Có những lý do để lo ngại về việc Trung Quốc gia tăng đầu tư vào Việt Nam.

Trung Quốc (TQ) có xu hướng chuyển dịch các ngành nghề có mức độ ô nhiễm cao sang các nước khác, trong đó có Việt Nam (VN).

Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM bên lề cuộc hội thảo “VN trở thành một trung tâm chế biến, chế tạo mới của thế giới sau năm 2015” vừa diễn ra tại Hà Nội, TS Dương Đình Giám, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp Bộ Công Thương, nhìn nhận như trên.

Ông Giám thông tin: Các nhà đầu tư của TQ hiện đang quan tâm nhiều hơn đến thị trường VN, đặc biệt sau khi VN kết thúc đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) với các nước.

Làm giảm sức cạnh tranh hàng Việt

. Phóng viên: Ông đánh giá thế nào về dòng vốn đầu tư từ TQ vào VN trong thời gian qua?

+ TS Dương Đình Giám: Nguồn vốn từ TQ bổ sung nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của VN. Chẳng hạn những tỉnh sát biên giới phía Bắc, nhờ đầu tư từ TQ nên tốc độ đô thị hóa được đẩy nhanh, thu hẹp khoảng cách phát triển với các vùng khác. Ngoài ra, một số ngành sản xuất phụ trợ cung cấp nguyên, vật liệu đầu vào của chúng ta cũng phát triển theo…

. Nhưng nhiều ý kiến cảnh báo rằng dường như những tín hiệu lạc quan đối với đầu tư từ TQ không nhiều bằng các lo ngại. Ông nhận định ra sao về ý kiến này?

+ Có những lý do để lo ngại về việc TQ gia tăng đầu tư vào VN. Chẳng hạn các doanh nghiệp (DN) VN hiện chưa có năng lực đủ mạnh sản xuất các nguyên, phụ liệu hỗ trợ cho hàng hóa xuất khẩu của DN TQ và nước ngoài nên các DN VN phải nhập nguyên, phụ liệu từ TQ sang. Điều này làm cho VN trở thành quốc gia nhập siêu đối với TQ.

Tỉ lệ các dự án đầu tư vào dầu mỏ và khai khoáng của TQ vào nước ta chiếm tới 70% tổng số các dự án, trong đó đáng chú ý là các dự án sắt, thép, xi măng, bauxite… Điều này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến trữ lượng tài nguyên, vốn là một trong những nguồn lực phát triển của VN trong tương lai.

Những dự án này chắc chắn đem lại lợi ích cho TQ nhưng lại tác động không tốt đến sự phát triển bền vững của VN, trong đó việc ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên là rất nghiêm trọng.


Người dân đi ngang qua hồ bùn đỏ của nhà máy sản xuất alumin
ở Tân Rai, Nhân Cơ, Đắk Nông phải bịt mũi vì mùi hôi. Ảnh: CHÂN LUẬN

Có tham vọng muốn kiểm soát thị trường

. Thời gian qua TQ đã đóng cửa hàng chục ngàn nhà máy do công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Ông có lo ngại các DN TQ tuồn công nghệ bị loại thải này vào VN?

+ Đúng là TQ có xu hướng chuyển dịch các ngành nghề có mức độ ô nhiễm cao sang các nước khác. VN ở sát TQ nên điều này là không thể tránh khỏi. Những công nghệ lạc hậu mà TQ đưa sang VN có thể đẩy lùi sự phát triển công nghệ mà VN đang nỗ lực và làm cho VN mất cân bằng sinh thái.

Công nghệ của TQ nhập vào VN thường cho năng suất thấp, hiệu quả kém, chất lượng sản phẩm làm ra không cao như trường hợp một số nhà máy nhiệt điện chẳng hạn. Mặt khác, nó sẽ làm cho sức cạnh tranh của hàng hóa VN giảm đi đáng kể.

. Thực tế nhiều năm qua cho thấy dù chúng ta kêu gọi phải giảm phụ thuộc vào kinh tế TQ nhưng nhập siêu từ TQ liên tục gia tăng. Theo ông, vì sao vậy?

+ Hiện nay chúng ta đang thấy hàng hóa chất lượng rất thấp của TQ vẫn có mặt ở VN. Sự lơi lỏng về quy trình, chính sách kiểm soát thị trường của chúng ta có thể đã gây ra tình trạng này. Đối tượng bị thiệt hại đầu tiên chính là người tiêu dùng.

Xét thực tế cơ cấu sản phẩm thương mại VN-TQ, chúng ta thấy TQ xuất khẩu sang VN những mặt hàng như hóa chất, sản phẩm chế tác cơ bản, máy móc, thiết bị… Còn VN xuất khẩu sang TQ chủ yếu nguyên liệu thô như khoáng sản, nông, lâm, thủy sản… Hệ quả là càng làm cho VN nhập siêu từ TQ nhiều hơn. Theo số liệu từ ngành hải quan, đến tháng 7-2015, nhập siêu của VN với TQ đã lên tới gần 18 tỉ USD.

Đầu năm 2015, TQ còn đề nghị Ngân hàng Nhà nước VN cho thanh toán đồng nhân dân tệ trực tiếp tại VN. Qua đó cho thấy tham vọng gia tăng ảnh hưởng, kiểm soát thị trường và nền kinh tế VN của TQ là khá rõ ràng!

Phải khôn ngoan

. Sau khi VN kết thúc đàm phán TPP, có nhiều tín hiệu cho thấy các DN TQ càng quan tâm đến thị trường VN nhiều hơn, thưa ông?

+ Điều này cũng là điều dễ hiểu. Ví dụ: Các DN TQ bắt đầu dịch chuyển đầu tư vào ngành dệt may nhằm tranh thủ sự ưu đãi về thuế với nguyên tắc xuất xứ từ sợi mà TPP đã quy định. Nhưng động thái trên có thể làm cho VN dễ trở thành một nước gia công, chế biến với lợi nhuận thấp, môi trường bị ảnh hưởng. Các DN VN dễ bị “thôn tính” bằng các hình thức đầu tư, liên doanh.

Một động thái khác cũng cần chú ý, đó là khi sang VN, các DN TQ thường đem theo số lượng lao động lớn. Thể hiện rõ nhất là ở các dự án tại Vũng Áng (Hà Tĩnh) hay Trung tâm Điện lực Duyên Hải, cũng như các dự án bauxite ở Tây Nguyên. Nó đồng nghĩa với việc sẽ làm giảm cơ hội việc làm của lao động VN, phát sinh các vấn đề xã hội, trật tự an ninh, văn hóa.

. Không ít ý kiến đề nghị để giảm phụ thuộc kinh tế vào TQ thì chúng ta nên tìm cách “thoát Trung”. Quan điểm của ông về vấn đề này ra sao?

+ Sự gần gũi về địa lý và một số sự tương đồng giữa hai nước làm cho việc “thoát Trung” là rất khó! Và cách khôn ngoan hơn, chúng ta phải tìm cách “chơi” bình đẳng với TQ.

Cụ thể, cần phải kiểm soát chặt chẽ việc cấp phép đầu tư vào lĩnh vực khai khoáng theo những tiêu chí, nguyên tắc nghiêm ngặt, tránh chảy máu tài nguyên. Với những ngành ô nhiễm cao, cần phải có quy định, ràng buộc hữu hiệu, quy trình xử lý chất thải, khí thải phải đạt mức độ cao.

Đối với công nghệ, dây chuyền sản xuất, cần giám sát để tránh việc các DN TQ chuyển các công nghệ lạc hậu, ô nhiễm sang VN.

. Xin cám ơn ông.

Trung Quốc đầu tư vào 52 tỉnh, thành

Theo các số liệu thống kê, hiện có trên 810 DN TQ đầu tư vào 52 tỉnh, thành của VN. Tính đến năm 2014, các dự án của TQ đầu tư vào Hà Nội là 202, TP.HCM: 110, Bình Dương: 100, Long An: 54, Hải Phòng: 49…

Các DN TQ đầu tư vào hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực tại VN, trong đó tập trung vào dầu mỏ, hóa chất, máy móc và bán buôn, bán lẻ. Khai khoáng hiện đang là một lĩnh vực mà TQ đầu tư mạnh mẽ tại VN với 87 dự án vẫn còn hiệu lực hoạt động.

Chúng ta cần phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hóa nhập khẩu từ TQ hoặc hàng hóa do các DN TQ sản xuất tại VN. Hành động này không những là để bảo vệ người tiêu dùng VN mà còn bảo vệ hình ảnh, uy tín của hàng hóa VN.

TS DƯƠNG ĐÌNH GIÁM

[ Sau khi xem ông TS Dương Đình Giám, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp Bộ Công Thương ba hoa điệp khúc “cần phải…” thì thấy dân tộc Việt Nam thật đáng thương khi nằm dưới sự cai trị của chế độ CS. ]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s