Thử xem xét ngân sách Việt Nam

Posted: October 30, 2015 in Uncategorized
Tags:

Vũ Quang Việt (TBKTSG) – Bài này thử xem xét vài vấn đề liên quan đến ngân sách: quan điểm về ngân sách, thực chất thu chi ngân sách và hướng thay đổi cần thiết.

� Xem thêm: Xóa nợ thuế tạo điều kiện cho nhiều cá nhân, tập thể thoát tội? + Xóa nợ cho doanh nghiệp nhà nước, lẽ phải ở đâu? + Bán ‘đất vàng’ để bổ sung ngân sách + Việt Nam vay 3 tỷ USD: Phải biết sợ nợ.


Thu ngân sách năm 2015 và những năm tới của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng
bởi nguồn thu từ dầu thô sẽ giảm và tiếp tục thấp. Ảnh: TRIỆU TRÙNG ĐIỆP

Quan điểm về ngân sách

Không biết có nước nào giống Việt Nam là ngân sách mà Quốc hội thông qua lại chỉ mang tính dự toán, kể cả phần chi và phần thu. Phần thu thì tất nhiên chỉ có thể dự toán vì Quốc hội nước nào cũng thế, chỉ có thể ra luật về sắc thuế, còn thu được bao nhiêu là tùy thuộc vào tình hình kinh tế. Thế nhưng với phần chi, đặc biệt là phần chi không có tính quy định như chi lương hưu thì quốc hội nhiều nước ra luật quyết định số chi cho từng bộ ngành và chương trình hoạt động. Chính phủ không được phép vượt chi vì vượt chi là phạm luật.

Ở Việt Nam, do được coi là dự toán, Chính phủ có vẻ chi tiêu rất thoải mái, năm nào cũng vậy, chi vượt dự toán, không chỉ vài phần trăm mà hàng 30-40%. Và ở ta, chi vượt dự toán chỉ có thể biết được sau ít nhất hai năm.

Thử nhìn tính công khai của dự toán ngân sách

Có thể kết luận ngay là Bộ Tài chính đã công khai hơn nhưng tính công khai này vẫn không đầy đủ. Quan trọng nhất là thiếu địa chỉ về công trình và cơ quan được cấp ngân sách chi. Nếu địa chỉ và công trình không rõ ràng thì không thể theo dõi và kiểm tra.

Những năm gần đây, dự toán ngân sách được Bộ Tài chính đưa lên mạng của bộ. Có thể tìm thấy tài liệu dự toán thu chi ngân sách 2015 trên mạng này, bao gồm thông tin chứa trong các tập tin Excel, gồm chín tệp.

Trong chín tệp, chỉ có một tệp chứa thông tin về phân ngân sách, theo các địa chỉ thuộc bộ ngành trung ương (trong đó có phân ra chi cho các bộ, cơ quan trung ương, tập đoàn nhà nước và phân theo mục chi như đầu tư, trả nợ, quản lý hành chính). Tổng chi cho các bộ phận trung ương này năm 2015 là 183.000 tỉ đồng, bằng 22,4% khoản thu và vay của ngân sách trung ương.

Tổng chi cho giáo dục và đào tạo của ngân sách trung ương là 32.000 tỉ đồng (xem bảng 1). Nhưng khó biết hết và rõ số tiền này đi về đâu. Nếu xem xét thông tin chi ngân sách cho các bộ ngành trung ương có địa chỉ rõ ràng thì cũng chỉ giải thích được 12.000 tỉ đồng mà ngân sách dành cho mục đích giáo dục đào tạo chuyển cho bộ ngành thuộc trung ương. Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ là một địa chỉ, được phân 6.300 tỉ đồng; hai trường đại học quốc gia là Hà Nội và TPHCM được phân 2.000 tỉ; và phần còn lại gần 4.000 tỉ được phân cho các bộ ngành khác như Học viện HCM, Bộ Y tế, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn… phần còn lại không rõ về đâu.

Riêng về chi cho Bộ Giáo dục và Đào tạo 6.300 tỉ như nói ở trên thì bộ này chi 13% là để xây dựng cơ bản và 83% là chi thường xuyên, trong đó 78% là chi về giáo dục, và 2% là chi cho quản lý hành chính. Như vậy phải chăng phần 78% chi về giáo dục này có thể là để chuyển về địa phương (?). Và phần còn lại của 32.000 tỉ là 20.000 tỉ đi về đâu?

Ở trên chỉ là một thí dụ có thể thấy khi xem xét phần ngân sách được nêu khá chi tiết nhất này. Các phần khác thì không thế, chúng không được báo cáo rõ ràng, do đó ngay cả việc giải thích chi ngân sách cho giáo dục từ ngân sách trung ương cũng không thể làm được.

Xem xét vài nét về dự toán ngân sách 2014-2015

jpg Tỷ trọng phân phối chi tiêu trong hai năm 2014 và 2015 khá giống nhau. Điều này cũng là thường tình vì chính sách chi ngân sách thường cố định, khó chuyển đổi nhanh, một phần lớn vì ảnh hưởng nhất định của địa chỉ được nhận ngân sách và một phần nữa là chính quyền trung ương ít khi muốn lắc thuyền để phải đối phó với hậu quả của chấn động.

Vì tính ổn định của nền kinh tế ở tầm vĩ mô là tùy thuộc vào ngân sách trung ương nên đáng lẽ phải chi tiết để có thể phân tích hơn là những thông tin đưa ra hiện nay. Tuy vậy, vẫn có thể đưa ra một số nhận định sau:

1. Ngân sách trung ương dựa quá nhiều vào vay để chi. Tỷ lệ vay so với tổng nguồn năm 2015 bằng 28% số thu của trung ương (bảng 2) và hàng năm chi trả nợ lên đến 20% tổng chi ngân sách (bảng 1). Đây là thời điểm mà lãi suất trên thế giới rất thấp. Nếu lãi suất cao hơn và mức phải vay để chi tăng nhiều như hiện nay thì việc mất khả năng trả nợ là rất lớn.

2. Trong phần chi của trung ương có một phần chi chuyển cho địa phương để họ tiêu là 229.000 tỉ. Phần này lên tới 41% ngân sách địa phương (xem bảng 2), và bằng 28% tổng nguồn của trung ương. Phần chuyển cho địa phương để chi rất lớn này đã không được làm sáng tỏ về mục đích trong dự toán ngân sách. Việc trung ương phải vay nợ để cho địa phương chi có thể là yếu tố đưa đến bất ổn kinh tế vĩ mô. Nhưng đây là một hộp đen không thể phân tích về tính cần thiết vì thông tin không rõ ràng.

3. Phần chi lương hưu cũng chiếm một tỷ trọng lớn trong ngân sách, năm 2014 là 15,3% và năm 2015 là 12%. Sự giảm tỷ trọng này khó có thể giải thích. Chi lương lưu là chi trả nợ quốc gia cho những người đã làm với Nhà nước là điều không thể bỏ qua và là áp lực lớn đối với ngân sách. Có thể cần thiết kế một chính sách tách rời khỏi ngân sách phần đóng góp hưu trí vào quỹ hưu trí được tài trợ bằng đóng góp của cá nhân lao động và nhà nước. Người được hưu trí chỉ được hưởng từ những gì quỹ hưu trí có (tức là biến quỹ hưu trí theo nguyên tắc thụ hưởng theo quy định thụ hưởng (defined benefits) qua nguyên tắc thụ hưởng qua đóng góp (defined contribution).

4. Nhìn vào ngân sách dự báo thu được năm 2015, thu từ dầu hỏa giảm 63.000 tỉ do đó thu của trung ương cả năm sẽ giảm 38.000 tỉ. Tuy vậy số thu của địa phương lại tăng 47.000 tỉ. Như vậy phải chăng vay mượn của trung ương sẽ phải lên đến 32% tổng thu? Vậy có thể phải xem xét lại việc chuyển ngân sách về địa phương ở mức như hiện nay không?

Có thể làm gì?

Về thu ngân sách năm 2015 và những năm tới, Việt Nam sẽ phải đối phó với hai vấn đề lớn. Thứ nhất, nguồn thu từ dầu thô sẽ giảm và tiếp tục thấp. Thứ hai, nguồn thu thuế xuất nhập khẩu cũng sẽ giảm nếu TPP thành hình. Việt Nam dựa chủ yếu vào hai nguồn thu chính là thuế doanh nghiệp và thuế xuất nhập khẩu (chiếm 72% số thu thuế và phí), trong khi các loại thuế khác có tỷ trọng thấp hơn nhiều. Điều này ngược lại với các nước phát triển, dựa chính vào thuế thu nhập cá nhân và đóng góp bảo hiểm xã hội.
Có thể tăng thu thuế không? Chắc là khó nếu theo đúng như tỷ trọng về thu như hiện nay vì ngân sách từ thu thuế và phí (không kể thu từ dầu thô và viện trợ) đã lên đến 19% GDP (phí chỉ có 1% GDP), cao hơn khá nhiều so với Ấn Độ (11%), Philippines (13%), Malaysia (16%), Thái Lan 16,5%, Trung Quốc 17%. Còn ở các nước phát triển cao (không kể đóng góp bảo hiểm xã hội) thì ở Mỹ là 10,6%, Anh là 25%, Pháp là 21%, và Đức là 11,5%.

Về thu ngân sách, có thể xem xét lại thuế thu nhập cá nhân và thuế nhà đất. Riêng thuế nhà đất, thì hiện nay ngoài đất nông nghiệp và nhà ở vùng nông thôn (trừ nơi thị tứ) được miễn trừ, tỷ lệ thuế còn rất thấp, chỉ có 0,3% so với giá trị nhà và 0,5% so với giá trị nhà đất. So với Mỹ thuế suất trung bình là 1,38% thì rất thấp. Do đó, tổng thu thuế nhà đất chỉ bằng 5,2% tổng thu ngân sách.

So với Ấn Độ, Việt Nam cũng dựa quá nhiều vào đánh thuế thu nhập doanh nghiệp mà ít dựa vào thuế thu nhập cá nhân. Ở Ấn Độ, thuế thu nhập cá nhân chiếm 9% tổng thu và thuế doanh nghiệp chỉ chiếm 22% (so với Việt Nam là 53% tuy vậy không hiểu đây có cả thuế VAT mà doanh nghiệp thu giùm hay chỉ là thuế thu nhập doanh nghiệp). Và ở Ấn Độ cũng chỉ có 8% là dựa vào thuế xuất nhập khẩu, tuy vậy phần lớn thu là từ thuế tiêu thụ và tiêu thụ đặc biệt (chiếm đến 27% tổng thu).

Ở đâu cũng vậy, khi kinh tế phát triển và có tổ chức hơn, thuế phải dựa cơ bản vào hai loại: thuế thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp, và thuế tiêu thụ. Điều này thể hiện qua ngân sách thu của Mỹ, và nhiều nước phát triển khác, thu ngân sách dựa vào thuế thu nhập là chính trong đó thu nhập cá nhân là 32%, thuế thu nhập doanh nghiệp là 8%, và đóng góp bảo hiểm cho lao động (gồm cá nhân và doanh nghiệp) là 20%. Riêng ba phần liên quan đến thu nhập nói trên đã là 61%. Ngoài ra là thuế tiêu thụ 10%, thuế nhà đất là 9% và 20% còn lại là phí và lệ phí. Nguyên thu thuế nhà đất thường đủ để chi phí cho giáo dục cơ sở (tiểu và trung học).

[:-/] Xóa nợ thuế tạo điều kiện cho nhiều cá nhân, tập thể thoát tội? (VOV.VN) – Việc xóa nợ thuế sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lợi dụng chính sách và vô hình chung đã hợp thức hóa hành động gian lận và trốn thuế.

Đề xuất xoá các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế là doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thuộc danh sách cổ phần hóa, giao bán, sáp nhập, sắp xếp lại do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mới được Chính phủ trình trước Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 10. Đề xuất này nhận được sự quan tâm nhiều đại biểu quốc hội tại phiên Thảo luận ở tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế.

[:-/] Xóa nợ cho doanh nghiệp nhà nước, lẽ phải ở đâu? (PL) – Đề xuất xóa nợ thuế (khoảng 1.300 tỉ đồng) cho doanh nghiệp nhà nước sẽ tạo ra tiền lệ bất bình đẳng trong doanh nghiệp.


Tập đoàn Vinashin trước đây đã thua lỗ đến 86.000 tỉ đồng. Ảnh: CTV

Sau bài viết “Xóa nợ thuế cho doanh nghiệp nhà nước” trên số báo ngày 28-10, Pháp Luật TP.HCM tiếp tục ghi nhận ý kiến của các đại biểu Quốc hội và chuyên gia về vấn đề này.

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM): Ảnh hưởng đến lợi ích của dân

Trước hết Quốc hội phải xem khoản nợ ấy xuất phát từ đâu, do khách quan hay chủ quan, đặc biệt là nguyên nhân do tham nhũng, thiếu trách nhiệm. Từ trước đến nay chưa có quy định nào cho phép xóa nợ thuế cho DNNN; nếu bây giờ Nhà nước cho phép sẽ tạo tiền lệ xấu. DN sẽ chây ì, cố tình tạo ra những khoản lỗ để lợi dụng chính sách ưu ái của Nhà nước.

Tiền thuế không phải của Chính phủ cũng như Bộ Tài chính mà là tiền của dân, phục vụ dân nên không được tùy tiện xóa để gây thất thu ngân sách, thất thoát tài sản, ảnh hưởng đến lợi ích của dân.

Tôi không đồng tình với ý kiến cho rằng xóa nợ thuế cho DNNN là làm đẹp sổ sách để nâng giá trị DN khi bán cổ phần. Bất kỳ DN nào muốn mua lại DN khác cũng cần biết những khoản nợ của DN đó để định giá thực. Một DN nợ thuế cũng là bình thường và cần công khai để tính toán đúng giá trị khi tiến hành cổ phần hóa.

Cũng cần phải nói thêm rằng Nhà nước phải làm rõ trách nhiệm của người lãnh đạo DNNN khi để xảy ra nợ thuế. Công nhân nếu làm hư hỏng tài sản của DN đều phải đền, trong khi lãnh đạo quản lý để thua lỗ, gây thất thoát tài sản, tồn đọng nợ thuế mà không bị xử lý, chỉ dừng lại ở mức xóa nợ là phủi hết trách nhiệm.

Chuyên gia kinh tế – TS Lê Đăng Doanh: Ai sẽ bù vào khoản thất thoát?

Các đại biểu Quốc hội cần giám sát chặt và yêu cầu Chính phủ đưa ra lý do tại sao lại xóa nợ cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Việc xóa nợ này gắn với sự bình đẳng trong kinh doanh ra sao? Nếu với lý do xóa nợ để thúc đẩy cổ phần hóa, làm đẹp sổ sách hay như ví von của thứ trưởng Bộ Tài chính: Xóa nợ để… cô gái đi lấy chồng là không hợp lý, trái quy luật thị trường, tùy tiện. Chính phủ đề xuất xóa nợ thuế cho DNNN là quá ưu ái, tạo ra tiền lệ bất bình đẳng trong DN.

Đặc biệt, DNNN kinh doanh thua lỗ rồi xin xóa, ai sẽ bù vào khoản thất thoát này? Bởi đây là tiền của dân, công lý lẽ phải ở đâu? Xóa nợ chỉ để cổ phần hóa tức là xóa hết trách nhiệm của người lãnh đạo DNNN. Như vậy làm lãnh đạo DNNN quá sướng, điều hành kém gây ra nợ rồi được xóa và hạ cánh an toàn.

TS Đinh Thế Hiển, chuyên gia kinh tế: Vô tư xóa nợ sẽ tiếp tục sinh ra nợ

Nhiều năm trước đã từng có một đợt xóa nợ cho các tổng công ty 90-91. Khi đó, DNNN này nợ DNNN kia, mà chủ của các đơn vị này đều là Nhà nước cả. Vì vậy thay vì lấy tiền Nhà nước bên này trả vào tiền Nhà nước bên kia thì thôi, xóa đi trong nội bộ cho DN được sạch nợ.

Giả sử như “cố” đòi khoản nợ này thì sao? Thử hình dung tay trái móc túi đưa trả cho tay phải bỏ vào túi trở lại, bởi DNNN thì Nhà nước lấy ngân sách trả nợ mà, cũng không thêm đồng nào. Đấy là về mặt tài chính. Vì vậy mà việc xóa nợ là chấp nhận được.

Tuy nhiên, bây giờ đã vào cơ chế thị trường rồi, bản chất cũng đã khác đi nhiều, nên không thể nói xóa nợ là xóa như trước nữa!

Xét góc độ này thì xóa nợ sẽ không chấp nhận được. Xóa nợ là giải pháp đơn giản nhất, dễ làm nhất và không nên làm. Nếu bây giờ vô tư xóa nợ thì sau này sẽ tiếp tục sinh ra nợ và vô tư xóa tiếp.

Tôi ví dụ, DNNN lập dự án, các cơ quan nhà nước thẩm định duyệt dự án. Đến khi thực hiện, bỏ vốn vào đầu tư, xây dựng nhưng kết quả không như dự án đề ra mà lại bị lỗ. Lúc đấy báo cáo là do thị trường thay đổi, giá đầu vào tăng, đầu ra cạnh tranh không được… Cuối cùng là nợ. Vậy thì nợ này là trách nhiệm của ai? Không thể chỉ xóa nợ không mà phải làm rõ trách nhiệm của khoản nợ. Làm rõ để tránh việc các DNNN lập dự án quá nhiều, cứ thu hút vốn về cho mình nhưng sử dụng vốn không hiệu quả.

Chỉ nên xóa nợ trong một số trường hợp. Ví dụ DN phải thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao nên phát sinh nợ, thực hiện trách nhiệm xã hội, mắc nợ do thay đổi về chính sách.

Trong bất cứ trường hợp nào thì khi xóa nợ cũng phải làm rõ nguyên nhân nợ và trách nhiệm của cá nhân liên quan để việc xóa nợ được rõ ràng chứ không phải tùy tiện, dễ dãi.

Ông ĐỖ KIM DŨNG, Viện trưởng Viện Quảng cáo Việt Nam, Giám đốc Công ty Quảng cáo An Tiêm: Nên cho phá sản

Nếu DNNN có nợ thì nên cho phá sản, chết đi chứ đừng xóa nợ mà cho sống tiếp. DN đã không khỏe thì mới nợ, mà không khỏe thì có xóa nợ cũng đâu khỏe hơn lên! Đặc biệt là phải truy cứu trách nhiệm người quản lý, tại sao anh để cho DN sinh nợ ra như vậy?

Chuyện DN sống hay chết, lời hay lỗ là bình thường, chuyện xóa nợ mới là lạ. Nếu nói xóa nợ đi để dễ dàng thực hiện cổ phần hóa thì không nên. Mà nên thu hồi vốn, bán tài sản để trả nợ, xóa sổ DNNN đó.

Đại biểu Đặng Thành Tâm (TP.HCM): Xóa nợ để làm đẹp sổ sách

Quan điểm của tôi là trong điều kiện các DNNN phải cổ phần hóa, nếu Nhà nước không xóa nợ thuế để làm sổ sách kế toán đẹp hơn thì sẽ không ai mua lại cổ phần. Xóa nợ thuế, Nhà nước vẫn thu được tiền bằng cách bán cổ phần. Các nước khác vẫn làm việc này khi cần thiết.

Vấn đề đặt ra là phải công bằng, minh bạch khi xem xét đến quá trình hoạt động của các DNNN. Nếu trong quá trình xem xét mà phát hiện tiêu cực sẽ phải cân nhắc. Nếu DNNN vẫn còn giá trị thì cũng nên xóa nợ để bán cổ phần.

Với cách nhìn của một doanh nhân thì tôi coi việc xóa nợ là bình thường. Nhà nước xóa đi 5 đồng để đổi lấy 10 đồng còn hơn không làm gì để mất luôn 5 đồng. Nhà nước xóa nợ, bán cổ phần để thu tiền sẽ tốt hơn là để DN chết đi.

[:-/] Bán ‘đất vàng’ để bổ sung ngân sách (Mai Ka TNO) – Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính VN (VAFI) vừa đề xuất 5 giải pháp được cho là có thể mang lại hàng tỉ USD, trong bối cảnh ngân sách quốc gia đang ngày một eo hẹp.

Trong đó, giải pháp thứ 2 là nhà nước nên mạnh dạn bán những bất động sản có giá trị lớn ở vị trí trung tâm TP.HCM, Hà Nội.

Cụ thể theo VAFI, đó là các khu trung tâm thương mại, đất vàng, các khách sạn lớn đang được quản lý bởi doanh nghiệp nhà nước hay là phần vốn góp của thành phố trong các liên doanh nước ngoài như: tổ hợp văn phòng Daewoo, khách sạn Rex, Caravelle, Metropole Hà Nội… VAFI cho rằng, những công trình trên không nên cổ phần hóa, mà bán đấu giá toàn bộ tài sản cho một nhà đầu tư để thu tiền về ngân sách.

Bên cạnh đó, VAFI cũng đề xuất, tập trung bán cổ phần nhà nước tại doanh nghiệp, công ty đã cổ phần hóa và kinh doanh hiệu quả như MobiFone, Viettel, Sabeco, Habeco, Vinamilk…

Dùng giải pháp kỹ thuật để chuyển nhanh các tập đoàn kinh tế lớn, doanh nghiệp nhà nước kinh doanh hiệu quả thành công ty cổ phần, với 3 cổ đông là nhà nước, công đoàn, đảng ủy. Áp thuế tiêu thụ đặc biệt với vàng miếng, vàng nhẫn vì đây là hàng hóa xa xỉ cần phải thực hiện điều tiết.

Riêng hoạt động bán vàng cho Ngân hàng Nhà nước theo giá thế giới thì không phải chịu thuế này. Cuối cùng là ưu tiên xây dựng ngành công nghiệp chứng khoán trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, nòng cốt của đất nước. Nếu làm được, thu ngân sách có cơ sở tăng gấp hơn chục lần so với hiện nay.

Việt Nam vay 3 tỷ USD: Phải biết sợ nợ

Thành Luân (BĐV) – PGS.TS Nguyễn Văn Ngãi lưu ý, khi vay nước ngoài Việt Nam phải thận trọng bởi nếu không trả nợ được, hậu quả sẽ liên quan đến nhiều vấn đề khác.

Tổng nợ không thay đổi nhưng…

Quan tâm đến vấn đề nợ công và đề xuất của Chính phủ về việc phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế, PGS.TS Nguyễn Văn Ngãi, Trưởng khoa Kinh tế, Đại học Nông lâm TP.HCM ngay từ đầu đã nhấn mạnh rằng phải hết sức thận trọng bởi vay nợ bằng cách phát hành trái phiếu quốc tế không giống với vay ODA.

Viet Nam vay 3 ty USD: Phai biet so no
Gánh nặng nợ công ngày càng trở nên nặng nề hơn đối với ngân sách.

“Vay ODA tốt hơn vay thương mại vì nó là vay ưu đãi, có thể ưu đãi về lãi suất, thời gian trả nợ…, còn vay bằng cách phát hành trái phiếu giống như đi vay thị trường. Vấn đề quan trọng là bán được trái phiếu, lấy được tiền về thì sẽ sử dụng tiền vay đó vào mục đích gì?

Nếu để đảo nợ, tức vay món này để trả cho các món nợ quốc tế khác thì coi như tổng nợ không thay đổi. Nếu bán trái phiếu quốc tế đem tiền về và sử dụng cho các mục đích đầu tư trong nước thì chắc chắn nợ phải tăng lên.

Hiện nay vấn đề nợ công của Việt Nam phải hết sức thận trọng vì chúng ta đã vượt ngưỡng 65% nhưng điều đó không có nghĩa là quá sợ nợ. Điều quan trọng là số tiền vay về đó dùng để làm gì, có phát huy được hiệu quả không, có góp phần cho sự phát triển chung của nền kinh tế rồi sau này lấy tiền trả nợ được hay không. Sợ nhất là sử dụng đồng vốn kém hiệu quả”, ông Ngãi nói.

Vị chuyên gia kinh tế cũng đặt ra khả năng Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế cho thấy chúng ta đang gặp khó khăn trong trả nợ công.

“Tôi chưa nắm rõ nếu nếu phát hành được 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế tiền thu được sẽ sử dụng cho mục đích gì nhưng nếu như để đảo nợ thì rõ ràng Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc trả nợ công. Nợ công không còn con đường nào khác là phải tích lũy để trả dần và tới đây phải hạn chế tối đa việc phát sinh thêm.

 Phải xác định rằng nợ công là không thể nào giải quyết được vì nợ thì phải trả, quan trọng là Chính phủ phải tính cho được bây giờ đang nợ những khoản nào, mỗi năm phải trả bao nhiêu rồi tìm nguồn chi trả. Nguồn chi trả đó phải là nguồn tích lũy, còn nếu tiếp tục đi vay để trả thì điều đó càng nguy hiểm hơn cho nền kinh tế.

Tổng nợ có thể không thay đổi nhưng hàng năm tích lũy nợ tăng thêm do lãi suất. Đây là bài toán khá căng thẳng.

Tôi ví dụ, nếu tính GDP của một quốc gia tăng 5% mà nợ đến gần 100% thì chỉ đủ trả nợ. Nếu tăng kinh tế không khéo để gánh 1 gánh nợ điều đó có nghĩa chúng ta không có gì khấm khá hơn, tăng trưởng chủ yếu chỉ để trả nợ thì căng quá”, PGS.TS Nguyễn Văn Ngãi phân tích.

Bàn về một số biện pháp tạo nguồn thu ngân sách của Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) như: bán cổ phần Nhà nước tại doanh nghiệp đã cổ phần hóa và kinh doanh hiệu quả; bán những bất động sản có giá trị lớn ở vị trí trung tâm TP.HCM, Hà Nội; áp thuế tiêu thụ đặc biệt với vàng miếng, vàng nhẫn…, PGS.TS Nguyễn Văn Ngãi cho rằng tính khả thi của chúng không cao.

Ông dẫn chứng đề xuất bán cổ phần Nhà nước tại doanh nghiệp đã cổ phần hóa và kinh doanh hiệu quả: “Hiện các doanh nghiệp lớn đang làm ăn tốt mà cổ phần hóa thì đâu có thu được tiền cho ngân sách? Nếu họ là công ty của Nhà nước thì lợi nhuận phải nộp về cho Nhà nước tăng được nguồn thu cho ngân sách. Cổ phần hóa là nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, lúc ấy lợi nhuận các doanh nghiệp này tạo ra không phải của Nhà nước nữa”.

Tương tự, PGS.TS Nguyễn Văn Ngãi cũng khẳng định việc bán tài nguyên – những mảnh đất vàng không phải là giải pháp để tăng nguồn ngân sách và để trả nợ bởi bán hôm nay, ngày mai lấy gì để bán. Hơn nữa, nó chỉ chứng tỏ một điều trước đây Việt Nam sử dụng phần vốn vay kém hiệu quả và bây giờ phải bán tài sản để trả nợ.

Với đề xuất áp thuế tiêu thụ đặc biệt với vàng miếng, vàng nhẫn, ông Ngãi càng không ủng hộ bởi theo ông, đây không phải là hàng xa xỉ.

Người dân Việt Nam mua vàng không có nghĩa là để đeo, làm đồ trang sức mà phần lớn họ mua vàng để tích lũy do sợ đồng tiền mất giá. Điều cần làm đối với thị trường vàng Việt Nam là phải tiến tới thị trường vàng cạnh tranh, áp sát với thị trường thế giới.

Phải biết sợ nợ

Nhấn mạnh các biện pháp nói trên của VAFI không giúp Việt Nam giải quyết được nợ công, PGS.TS Nguyễn Văn Ngãi nói rằng, Việt Nam có nhiều lợi thế khác nhau, căn bản và phải sử dụng chúng.

Khi kinh tế phát triển thì Nhà nước thu được thuế, đồng thời phải tính toán lại chi tiêu, cân đối ngân sách…, giải quyết được nghiêm ngặt những vấn đề này sẽ dẫn đến thặng dư ngân sách và Việt Nam sẽ tích cực trả nợ dần dần.  đang phải thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng, ông Ngãi lưu ý Việt Nam phải tính trước, đừng để chờ tình trạng quá xấu rồi phải lưng buộc bụng.

“Thắt lưng buộc bụng không có nghĩa là không dám chi, còn chi chỗ nào thì phải hiệu quả và phải tính đến chuyện vay để chi như vậy thì sau này khả năng thu hồi để trả nợ là có”.

“Đã đến lúc Việt Nam phải biết sợ nợ. Nợ công khác nợ tư ở chỗ: đối với nợ tư thì người vay cũng là người trả nợ, nhưng nợ công thì người vay và người trả khác nhau, đời này vay thì thế hệ sau trả.

Bởi vậy khi đi vay phải hết sức thận trọng, dù rằng sau này ai trả đi nữa nhưng nó là gánh nặng của quốc gia, phải đứng trên quyền lợi của toàn bộ quốc gia để tính toán nhìn lâu dài. Đó là việc quan trọng nhất. Thứ hai, phải sử dụng hiệu quả tiền vay, nếu không thì đừng có vay để tránh rơi vào cái vòng luẩn quẩn vay, tiêu rồi lại vay để trả nợ.

Tôi muốn nhắc lại rằng, nếu vay rồi trả nợ thì tổng nợ không đổi nhưng hàng năm còn thêm phần tiền lãi. Nếu chúng ta không trả được lãi, lại không trả trước được nợ nữa thì khi ấy nợ công lại tăng lên, đến lúc nào đó không chịu đựng được nữa sẽ vỡ nợ, suy sụp toàn bộ nền kinh tế.

Nguy cơ đó phải được tính ngay từ bây giờ. Chúng ta không có lối thoát nào để giải quyết nợ công, thay vào đó phải trả nợ dần dần. Muốn thế phải có thặng dư, có nguồn tiền để trả mà tiền ấy không phải là vay tiếp.

Nếu phát hành trái phiếu quốc tế để lấy tiền đầu tư trong nước, tạo ra sản phẩm trong xã hội, đem lại hiệu quả kinh tế, sau này lấy nguồn thu để trả nợ thì chấp nhận được. Nhưng vay quốc tế vẫn phải thận trọng, vay ở dạng bán trái phiếu thì càng tính toán kỹ càng bởi nợ quốc tế không đơn giản.

Nếu không trả nợ được, hậu quả của nó còn liên quan đến nhiều vấn đề khác, mà trước hết là khiến các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước sợ”, PGS.TS Nguyễn Văn Ngãi nói.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s