Nợ công: khi lộ hết bản chất sẽ dẫn tới vỡ nợ

Posted: November 3, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nam Nguyên (RFA) – Áp lực nợ công đè nặng ngân sách quốc gia, trong bối cảnh bội chi triền miên. Đây là vấn đề được Quốc hội Việt Nam bàn thảo nhiều nhất trong kỳ họp cuối cùng hiện nay. Nợ công của Việt Nam đã tăng hơn 4 lần trong một thập niên, hiện nay theo Bộ Kế hoạch Đầu tư nợ công là 66,4% GDP Tổng sản phẩm nội địa, còn bộ tài chính thì báo cáo chỉ có 59,6% tính đến hết năm 2014.

� Xem thêm: Khó tăng lương công chức trong năm tới + Vì sao quốc hội phản bác đề nghị của chính phủ xóa nợ thuế cho doanh nghiệp nhà nước?

000_Hkg10225331.jpgCông an và dân quân đứng gác tại một ngã tư theo lộ trình đoàn xe buýt chở các đại biểu tham dự đại hội đảng cộng sản tại Hà Nội hôm 2/11/2015AFP photo

Phần âm thanh

Phải chăng nợ công của Việt Nam đã rơi vào tình trạng nguy hiểm vượt trần cho phép 65% và khả năng trả nợ rất khó khăn. Nam Nguyên tìm hiểu vấn đề này qua phỏng vấn Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế hiện sống và làm việc ở Hà Nội, trước hết PGSTS Ngô Trí Long nhận định:

PGSTS Ngô Trí Long: Tôi nghĩ cách tính thứ nhất phải đi theo thông lệ quốc tế, đó là chuẩn nhất. Thứ hai quan trọng nhất không phải mức nợ bao nhiêu, mà vấn đề hiện nay xu hướng nợ công của Việt Nam tăng nhanh và nguồn để trả nợ rất là hạn hẹp, hầu như không có. Một trong những vấn đề từ bài học nhãn tiền của Hy Lạp là gì? là sự không minh bạch, không rõ ràng mà báo cáo tô toàn màu hồng, rồi đến một lúc nào đó bản chất của nó lộ ra thì sẽ đi đến vỡ nợ.

Sự thực đó hiện nay là vấn đề Quốc hội đang quan tâm, thứ nhất là vấn đề ngân sách thiếu bền vững. Mặc dù thu thì luôn luôn vượt chỉ tiêu, nhưng mà thu lại không đáp ứng được chi. Vấn đề thứ hai là hiệu quả đầu tư công, hiệu quả sử dụng đồng vốn. Tất cả đều là nguyên nhân tiềm ẩn, hiện nay đối với các nước thí dụ ở Châu Âu chuẩn nợ công là 60% GDP, thâm hụt ngân sách 3% là báo động đỏ. Việt Nam thì lại khác, tất nhiên so sánh các nước là để so sánh, nghiên cứu thôi. Nhưng vấn đề bản chất của nó là khả năng chi trả, có khả năng hay không? vấn đề làm ăn có hiệu quả hay không? Vấn đề quan trọng là đánh giá thực trạng, nhưng mỗi một cơ quan lại đánh giá khác nhau và Chính phủ thì dựa vào Bộ Tài chính, cho nên số liệu là màu hồng. Đây là những cảnh báo nguy cơ vấn đề nợ công của Việt Nam.

Nam Nguyên: Như Giáo sư có nói, vay để phát triển có nghĩa là vốn vay phải giúp làm lợi, sinh lời có tiền để trả nợ và tái đầu tư. Nó liên quan đến hiệu quả đầu tư, chi phí và năng suất lao động. Phải chăng Việt Nam rất kém, không thuận lợi trong những đánh giá này?

   Vấn đề quan trọng là đánh giá thực trạng, nhưng mỗi một cơ quan lại đánh giá khác nhau và Chính phủ thì dựa vào Bộ Tài chính, cho nên số liệu là màu hồng. Đây là những cảnh báo nguy cơ vấn đề nợ công của Việt Nam.
– PGSTS Ngô Trí Long    

PGSTS Ngô Trí Long: Điều này hoàn toàn chính xác, bởi vì trong cơ cấu tổng số nguồn chi của ngân sách, trong cơ cấu thu và chi mặc dầu thu luôn luôn vượt dự toán nhưng chi lại quá phần thu đó, đấy là sự nguy hiểm. Nguy hiểm thứ hai là cơ cấu chi của ngân sách, chi thường xuyên chiếm quá lớn, hiện nay là hơn 70% và phần còn lại thì chủ yếu là để trả nợ. Trong khi theo qui định của Việt Nam cũng như quốc tế, chi để trả nợ trên 25% nguồn thu là cực kỳ nguy hiểm, Việt Nam đang tiếp cận ngưỡng đó. Trong điều kiện đó vay hiện nay nói là phục vụ cho đầu tư nhưng thực chất phục vụ cho vấn đề tiêu dùng, chi thường xuyên. Cho nên bối cảnh thực trạng nợ công Việt Nam thì đây là sự cảnh báo, báo động rất là cao. Nếu cứ tiếp diễn thì trước hay sau hậu quả nhãn tiền như Hy Lạp đã xảy ra.

Nam Nguyên: Thưa Giáo sư, trong 5 năm tới VN sẽ phải vay trên 3 triệu tỷ đồng để bù vào bội chi và nợ gốc đến hạn. Câu chuyện này thực chất như thế nào, có đại biểu Quốc hội nói nợ 10 năm đời con phải trả, nợ 30 năm thì đời cháu phải thanh toán. Nhận định gì?

PGSTS Ngô Trí Long: Nói chung nguy cơ về nợ công không phải trong tương lai mà đã hiện hữu trước mắt rồi. Không những trước mắt phải trả mà đời con, đời cháu phải trả, không làm khác được. Với cái kiểu như hiện nay thì vài chục năm nữa cũng chưa trả hết nợ được, điều này là nhãn tiền. Thực trạng nợ công Việt Nam hiện nay nói tóm gọn là như vậy.

Làm sao giữ cho nợ công an toàn

Nam Nguyên: Thưa Giáo sư, khi biết được tất cả những thiếu sót khiếm khuyết của hệ thống như vậy, có giải pháp nào được đưa ra để giữ cho nợ công được an toàn hay không ?

PGSTS Ngô Trí Long: Nói chung như tôi đã có bài viết, trên báo chí cũng có rất nhiều giải pháp. Nhưng vấn đề căn bản thực thi nó như thế nào, lời nói có đi đôi với nhau hay không mới là vấn đề quan trọng. Giải pháp thì rất nhiều chuyên gia có đề án tái cơ cấu, quản lý, xử lý đầy đủ mọi lĩnh vực, tất cả rất rõ. Nhưng căn bản thực thi có đúng hay không, có thanh kiểm tra đúng hay không và có kiên quyết hay không. Thí dụ như vậy, chứ Luật Đầu tư công đã bắt đầu ban hành rồi, nhưng thực thi nó như thế nào có hiệu quả hay không thì đó là một vấn đề. Giải pháp rất là nhiều, các chuyên gia, các đề án, cơ quan chức năng đều nói nhưng cốt lõi vẫn là vấn đề thực thi. Đây chính là sự nguy hiểm báo động của vấn đề nợ công hiện nay ở Việt Nam.

Nam Nguyên: Và cái chính có phải là phải giảm chi tiêu hay không, hiện nay vẫn quá tay chi tiêu rất bừa bãi. Thưa điều này có đúng hay không?

PGSTS Ngô Trí Long: Với một bộ máy, cồng kềnh như của Việt Nam mà ngay đại biểu Quốc hội cũng nói là, rất nhiều tổ chức cùng song hành như tổ chức Đảng, tổ chức Chính quyền, tổ chức các đoàn thể và tất cả đều ăn lương nhà nước, trong khi đó năng suất lao động thì thấp,  đây là sự nguy hiểm. Ở Quảng Ninh đã thí điểm nhất thể hóa giữa cơ quan Đảng với cơ quan Chính quyền. Người ta thấy vấn đề đó nhưng họ không triển khai, không thực hiện và với một bộ máy cồng kềnh lớn như hiện nay thì không có một nguồn ngân sách nào có thể kham nổi, đủ nuôi nổi bộ máy như vậy. Chắc chắn với việc đầu tư, trong khi phải nuôi bộ máy quá lớn như vậy thì tiền phát triển cho đầu tư, mà chính nguồn này mới là để trả nợ, không được coi trọng, không đúng thì mức nợ tăng cao và nguồn thu để trả mức nợ đó lại không có, hạn hẹp. Cuối cùng có dẫn tới vỡ nợ thì cũng là chuyện bình thường.

   Giải pháp rất là nhiều, các chuyên gia, các đề án, cơ quan chức năng đều nói nhưng cốt lõi vẫn là vấn đề thực thi. Đây chính là sự nguy hiểm báo động của vấn đề nợ công hiện nay ở Việt Nam.
– PGSTS Ngô Trí Long   

Nam Nguyên: Thưa ngoài những chuyện bộ máy kềnh càng lớn quá, phải chi cho bộ máy nhiều quá thì lại còn vấn đề thực hiện những dự án không thiết thực tiêu tốn rất nhiều tiền, thí dụ các dự án tượng đài, hoặc dự án cải cách sách giáo khoa lên tới mấy chục ngàn tỷ, rồi sau mới rút xuống. Thực trạng là chi tiêu bừa bãi không nghĩ tới việc phải trả nợ?

PGSTS Ngô Trí Long: Đây là vấn đề thanh kiểm tra giám sát việc chi tiêu hay là đầu tư không hiệu quả, đầu tư dàn trải, thất thoát, tham nhũng rất là lớn. Ví dụ đầu tư cho giáo dục hiện nay so với thế giới thuộc loại rất cao so với GDP, nhưng thực chất hiệu quả không có. Nói cách khác hiệu quả rất là kém, việc này chắc chắn dẫn tới hiện tượng là khó có thặng dư, tức tiền thừa để có thể trả nợ được.

Hiệu quả theo chúng tôi hiểu một cách rất đơn giản, đó là thu lớn hơn chi hay là đầu ra lớn hơn đầu vào. Điều này Việt Nam hoàn toàn không có và sẽ gây hậu quả khó lường.

Nam Nguyên: Cảm ơn Giáo sư Ngô Trí Long đã trả lời phỏng vấn.

[:-/] Khó tăng lương công chức trong năm tới (TBKTSG Online) – Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho biết khả năng tăng lương cho cán bộ công chức trong năm tới là rất khó khăn do ngân sách hạn hẹp.

Trong báo cáo về kết quả thực hiện ngân sách nhà nước năm 2015; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2016 để đại biểu Quốc hội thảo luận ở hội trường chiều 3-11, Chủ nhiệm Ủy ban Phùng Quốc Hiển đều khẳng định khó khăn trong hai luồng ý kiến đồng tình, và phản đối tại Quốc hội.

Không tăng lương vì không có nguồn

Về loại ý kiến cho rằng, chưa thể tăng lương trong bối cảnh ngân sách nhà nước (NSNN) hiện nay, ông Hiển cho biết các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, dự toán thu NSNN đã được Chính phủ xây dựng sát thực tế nên khó có thể dự toán ở mức cao hơn.

Báo cáo cho biết, Chính phủ dự toán thu nội địa đã dự ước tăng 16,9% so ước thực hiện năm 2015, cao hơn dự kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế và trượt giá; thu dầu thô đã tính giá bình quân 60 đô la Mỹ/thùng, cao hơn giá thời điểm hiện tại (48-50 đô la Mỹ/thùng); thu cân đối từ hoạt động XNK tăng 8,1%; đồng thời đã tính vào thu cân đối NSNN cả 30.000 tỷ đồng thu từ tiền bán bớt phần vốn Nhà nước tại một số doanh nghiệp.

Thứ hai, bố trí dự toán chi NSNN đã rất chặt chẽ.

Bố trí chi trả nợ thấp so với yêu cầu (còn phải vay để đảo nợ 95.000 tỷ đồng).

Dự toán chi thường xuyên đã bố trí triệt để tiết kiệm, đã giảm 10% dự toán chi thường xuyên của các bộ, cơ quan Trung ương so với dự toán năm 2015, hạn chế tối đa chi cho bộ máy quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công, chi mua sắm phương tiện, trang thiết bị đắt tiền; giảm tối đa kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo.

Chi đầu tư phát triển bố trí ở mức thấp so với nhu cầu nên khó cắt giảm; không thể vay để chi tăng lương vì không đúng quy định của Luật NSNN và dẫn đến tăng bội chi và nợ công năm 2016 và các năm tiếp theo.

Thứ ba, thực tế cho thấy năng suất lao động của khu vực hành chính nhà nước của ta còn thấp, bộ máy hành chính nhà nước cồng kềnh.

Trong khi tinh giản biên chế chưa được thực hiện quyết liệt và hiệu quả, cải cách khu vực sự nghiệp công còn chậm, việc tăng lương cũng dẫn tới tăng chi lớn cho NSNN, làm giảm nguồn lực cho chi đầu tư phát triển, đảm bảo các chính sách an sinh xã hội, nhất là khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn là những đối tượng không hưởng lương nhà nước. (…)

Ngân sách Trung ương thâm thủng

Trước đó, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội, thu cân đối ngân sách trung ương (NSTW) hụt khoảng 31.300 tỷ đồng.

Để xử lý phần hụt thu của NSTW, Chính phủ đã đề nghị phương án sử dụng một phần tiền bán bớt cổ phần Nhà nước tại doanh nghiệp (khoảng 10.000 tỷ đồng), đồng thời, tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên những tháng cuối năm 2015 (khoảng 650 tỷ đồng) và một phần dự toán dự phòng NSTW (khoảng 3.500 tỷ đồng).

Phần dự ước hụt thu NSTW còn lại (17.150 tỷ đồng), Chính phủ khẳng định sẽ tiếp tục rà soát các nguồn thu, quyết liệt tổ chức chống thất thu, chống nợ đọng thuế, phấn đấu tăng thu cao hơn, bảo đảm bù đắp số hụt thu này của NSTW.

Trường hợp còn hụt thu sẽ sử dụng một phần trong số 10.000 tỷ đồng từ nguồn bán bớt cổ phần của Nhà nước tại doanh nghiệp.

Vì sao quốc hội phản bác đề nghị của chính phủ
xóa nợ thuế cho doanh nghiệp nhà nước?

Lê Dung/ SBTN (VNTB) – Vừa xuất hiện thêm một xung đột lớn giữa Quốc hội và Chính phủ CSVN, liên quan đến đề nghị “xoá các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế là doanh nghiệp nhà nước” của bên hành pháp.

Một số đại biểu quốc hội và báo chí cùng lúc lên tiếng phản bác: Việc xóa nợ thuế sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lợi dụng chính sách, và vô hình chung đã hợp thức hóa hành động gian lận và trốn thuế.

Ngay cả đại biểu Trần Hoàng Ngân – một nhân vật luôn ca ngợi “tính đúng đắn” trong hầu hết báo cáo tô hồng quá đáng của Chính phủ, cũng phải cho rằng không nên thực hiện xóa nợ thuế doanh nghiệp nhà nước. Vì lẽ nếu xóa nợ các khoản thuế này sẽ không đảm bảo sự cạnh tranh công bằng giữa các loại hình doanh nghiệp theo tinh thần của Hiến pháp 2013. Ông Ngân còn đề nghị không những không được xóa nợ, mà còn cần phải truy thu đến cùng và làm rõ trách nhiệm khi chậm và nợ thuế lớn.

Một đại biểu khác – ông Phùng Văn Hùng (Cao Bằng) – cho rằng rất có thể trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp trốn thuế hàng nghìn tỷ đồng. Nếu điều tra ra rất có khả năng phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Nay nhà nước quy định xóa nợ thuế của các doanh nghiệp như vậy sẽ không truy trách nhiệm của nhiều tập thể, cá nhân đã gây ra thất thu lớn. Những tập thể, cá nhân như vậy nghiễm nhiên là có thể thoát tội.

Không khí phản bác trên xuất hiện trong kỳ họp Quốc hội Việt Nam đang diễn ra tại Hà Nội.

Trước đó vào tháng 9/2015, Bộ tài chính và Chính phủ cũng lấp ló đề nghị xóa khoảng 10,000 tỷ đồng tiền thuế cho các doanh nghiệp nhà nước. Có một chi tiết hơi lạ là vào lúc đó, đề nghị này lại nhận được sự đồng tình của một ít đại biểu quốc hội và một số tờ báo. Khá nhiều lý do “kể khổ” đối với tình cảnh lỗ lã của khối doanh nghiệp nhà nước đã được nại ra để thuyết phục dư luận và Quốc hội. Đó cũng là thời gian mà Hội nghị trung ương 11 kết thúc với cán cân nhân sự cao cấp có vẻ khá “bằng phẳng”.

Nhưng sau Hội nghị trung ương 12, một số tin tức cho biết tương quan lực lượng đã trở nên bất lợi cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và do đó cho phía chính phủ. Không quá khó hiểu là không ít đại biểu quốc hội và báo chí cũng “tự chuyển hóa” quan điểm, chuyển sang phản bác những đề xuất trái tai gai mắt của giới quan chức chính phủ. Thậm chí vài đại biểu còn can đảm nhắc lại bài học về Vinashin và Vinalines – hai tập đoàn gây lỗ, nợ và án hình sự kinh khủng, như một cách gián tiếp đề cập đến trách nhiệm của Thủ tướng Dũng.

Một lý do “tế nhị” khác, là nếu không được xóa nợ thuế, nhiều khả năng sẽ xuất hiện yếu tố tội phạm hình sự tại một số doanh nghiệp nhà nước, có liên quan đến giới quan chức chính phủ. Nếu những việc này bị giới đảng điều tra, không loại trừ phe chính phủ càng bị thất thế trước đại hội đảng cầm quyền lần thứ 12.

Làn sóng phản bác việc xóa nợ thuế doanh nghiệp nhà nước diễn ra gần như đồng thời với tiết lộ chưa từng có của ông Bùi Quang vinh- Bộ trưởng kế hoạch và đầu tư – về thực trạng ngân sách trung ương chỉ còn vẻn vẹn 45,000 tỷ đồng mà ‘không biết dùng cho cái gì”.

[:-/] Thử xem xét ngân sách Việt Nam (BĐV) – Không biết có nước nào giống Việt Nam là ngân sách mà Quốc hội thông qua lại chỉ mang tính dự toán, kể cả phần chi và phần thu.

Phần thu thì tất nhiên chỉ có thể dự toán vì Quốc hội nước nào cũng thế, chỉ có thể ra luật về sắc thuế, còn thu được bao nhiêu là tùy thuộc vào tình hình kinh tế.

Thế nhưng với phần chi, đặc biệt là phần chi không có tính quy định như chi lương hưu thì quốc hội nhiều nước ra luật quyết định số chi cho từng bộ ngành và chương trình hoạt động. Chính phủ không được phép vượt chi vì vượt chi là phạm luật.

Ở Việt Nam, do được coi là dự toán, Chính phủ có vẻ chi tiêu rất thoải mái, năm nào cũng vậy, chi vượt dự toán, không chỉ vài phần trăm mà hàng 30-40%. Và ở ta, chi vượt dự toán chỉ có thể biết được sau ít nhất hai năm.

[:-/] Ấn tượng QH: Lợi ích nhóm và chuyện xóa nợ thuế DNNN (BĐV) – Có nên xóa nợ thuế cho doanh nghiệp nhà nước hay không là tranh luận gay gắt tại phiên thảo luận ngày 29/10.

An tuong QH: Loi ich nhom va chuyen xoa no thue DNNN
Đại biểu Trần Hoàng Ngân cho rằng không nên xóa nợ thuế đối với
doanh nghiệp nhà nước thuộc diện sắp xếp lại, chuyển đổi sở hữu

Đại biểu (ĐB) Trần Hoàng Ngân (TP HCM) nhận định việc xóa nợ thuế đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thuộc diện sắp xếp lại, chuyển đổi sở hữu đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt là không nên bởi sẽ không bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa các loại hình DN.

“Với DNNN, thu thuế cũng là nộp về ngân sách mà cổ phần hóa (CPH) cũng về ngân sách. Do đó, để bảo đảm sự minh bạch, không nên xóa nợ thuế. Đồng thời, nên truy thu đến cùng và làm rõ trách nhiệm nợ thuế. Ngoài ra, đề nghị cơ quan soạn thảo cho biết mức đề nghị xóa nợ này tương đương bao nhiêu tiền để ĐB cân nhắc, quyết định” – ĐB Ngân nói.

ĐB Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) cũng cho rằng xóa nợ thuế sẽ tạo ra sự không bình đẳng, khuyến khích trốn thuế. Theo ông, nhà nước phải quản lý chặt, nếu không là có lỗi lớn.

ĐB đoàn Hà Nội – bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường nêu quan điểm DNNN sử dụng vốn nhà nước để kinh doanh, khi CPH phải xác định tài chính cho đúng. “Thống kê cho thấy 69% DN của ta không đủ tiền nộp thuế, DN phải thoái lui khỏi thị trường.

Năm 2016, ngân sách sẽ rất khó khăn, thế mà lại cho họ miễn khi CPH? Quy định này không công bằng, không bình đẳng. Theo quy trình, DN CPH phải xác định theo giá thị trường mới tạo ra sự bình đẳng. Tôi không đồng ý với việc miễn giảm thuế với DN sắp xếp CPH” – bà Hường thẳng thắn.

Nói về vấn đề này, ĐB Trần Du Lịch (TP HCM) cho rằng nếu nhà nước xóa nợ thuế thì dù mất một khoản cho ngân sách nhưng doanh nghiệp sau khi sắp xếp lại, sẽ có thể phục hồi, mạnh lên và bán được cổ phần. Lúc đó, “nhà nước bỏ cái trước, lấy được cái sau”. Còn hơn là nhà nước cứ đè doanh nghiệp ra để đòi nợ thuế, làm doanh nghiệp âm vốn và giải thể.

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm, phó bí thư Thành ủy TP.HCM, đã gay gắt phản đối: “Quốc hội đồng ý điều khoản sửa đổi này thì coi như là doanh nghiệp đã qua truông. Tôi đề nghị phải kiểm tra kiểm toán thua lỗ thế nào, nguyên nhân lỗ là thế nào, không đóng thuế được là vì cái gì rồi sau đó mới làm chính sách cho Quốc hội thì sẽ công bằng hơn.”

Tỏ ra rất quyết liệt, đại biểu Tâm hỏi đại biểu Lịch: “Cho tôi hỏi anh Lịch một câu riêng tư, liệu Quốc hội có làm lợi ích nhóm chỗ này không?. Tôi nghĩ người dân không đồng tình với cái đó đâu, không thể hợp thức hóa tiêu cực”.

(…) “Kể cả tài sản người chết để lại cũng còn phải trả nợ mới chia thừa kế chứ không có chuyện xù nợ. Pháp luật thì phải tìm đến sự công bằng.” – Đại biểu Huỳnh Ngọc Ánh nói.

Trước phản ứng này của các đại biểu cùng đoàn, đại biểu Trần Du Lịch nói rõ là quan điểm ủng hộ của ông phải kèm theo việc thống kê hiện nay có bao nhiêu doanh nghiệp được xóa nợ thuế, số tiền sẽ xóa là bao nhiêu và cái lợi sau đó nhà nước thu được là gì. “Phải đánh giá tác động chứ không để người ta nghi ngờ”, đại biểu Trần Du Lịch nói

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm tiếp tục tranh luận, bà nêu ra thắc mắc: “Mấy kỳ Quốc hội vừa rồi, Ủy ban ban tài chính ngân sách đã không đồng ý, không hiểu sao kỳ này lại đồng ý”.

“Không khéo Quốc hội làm chính sách để lợi ích nhóm lợi dụng” – Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm nói.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s