Nỗi lo về nền nông nghiệp không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Posted: November 4, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Thảo (BizLIVE) – Hiện nay người dân Philippines mua gạo Việt với giá rẻ chỉ bằng 2/3 giá gạo tiêu thụ trong nước, vô tình người nông dân Việt Nam đang phải “bất đắc dĩ làm nghĩa vụ quốc tế về an toàn lương thực”, PGS. TS Vũ Trọng Khải, nguyên Hiệu trưởng Trường cán bộ quản lý Nông nghiệp và phát triển nông thôn II cho biết.

� Xem thêm: Nông sản không an toàn đang đầu độc người dân một cách hợp pháp?


Ảnh minh họa

Mở đầu phiên thảo luận tại Diễn đàn Chính sách nông nghiệp thường niên 2015 với chủ đề “Nền nông nghiệp và người nông dân Việt Nam đối diện thách thức hội nhập” diễn ra sáng 4/11 tại Hà Nội, PGS.TS Vũ Trọng Khải nêu thực tế, nền nông nghiệp Việt Nam hiện nay không chỉ lạc hậu về mọi mặt mà điều nguy hiểm hơn sự lạc hậu là nó đang đầu độc người dân bằng các loại nông sản không an toàn.

Ông Khải cho rằng, nếu không khắc phục nông nghiệp Việt Nam chẳng những không tận dụng được cơ hội do hội nhập quốc tế mang lại mà còn bị những thách thức của tiến trình hội nhập quố tế nhấn chìm.

Theo đó, PGS.TS Vũ Trọng Khải cho rằng có 5 trở ngại và thách thức lớn nhất đối với nông nghiệp Việt Nam.

Thứ nhất, về thể chế quản lý kinh tế vĩ mô, một bộ phận trong bộ máy công quyền và công chức còn quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu đang làm triệt tiêu ý chí khởi nghiệp và đầu tư phát triển của người dân và doanh nghiệp.

Thứ hai, sai lầm trong chiến lược phát triển công nghiệp và đô thị chỉ tạo ra một nền công nghiệp gia công, lắp ráp có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng thấp, dựa vào khai thác tài nguyên tự nhiên và sử dụng lao động cơ bắp với giá rẻ, chấp nhận ô nhiễm môi trường.

Không ít người nông dân bỏ đồng ruộng vào làm việc tại các khu công nghiệp với mức lương không đủ sống nên thường xuyên phải làm tăng ca, thêm giờ với cường độ lao động cao do vậy họ không thể trở thành người lao động công nghiệp chuyên nghiệp.

“Họ sẽ bị giới chủ sa thải khi không còn đủ sức khoẻ làm việc ở tuổi đời chưa già và cũng không còn trẻ để đổi nghề nghiệp họ đành trở về nông thôn chia lại ruộng đấy và công việc vốn đã ít ỏi”, ông Khải nói.

Thứ ba, không có chiến lược sản phẩm nông nghiệp quốc gia theo vùng nông nghiệp sinh thái, nông sản chủ lực có khối lượng và giá trị cao hiện nay ở những vùng nông nghiệp dường như là kết quả của quá trình tự phát.


 Diễn đàn Chính sách nông nghiệp thường niên 2015. Ảnh: N.Thảo

Ông Khải dẫn chứng, vùng đồng bằng Sông Cửu Long (Tây Nam Bộ), vốn là vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất cho sự phát triển của nghề trồng lúa nước, hiện đang cung cấp tới 90% lượng gạo xuất khẩu hàng năm. Khối lượng lúa được sản xuất và xuất càng ngày một tăng nhờ có đầu tư về thủy lợi, giao thông và các biện pháp nông học (như giống mới, kỹ thuật canh tác 3 giảm, 3 tăng…).

Nhưng khối lượng lúa sản xuất và xuất cảng tăng tỉ lệ nghịch với thu nhập của nông dân và tỉ lệ thuận với ô nhiễm môi trường.

“Hiện nay, người dân Philipines mua gạo Việt Nam với giá rẻ, chỉ bằng 2/3 giá gạo tiêu thụ trong nước. Vô tình, chúng ta, trước hết là nông dân Việt Nam đang phải “bất đắc dĩ làm nghĩa vụ quốc tề về an toàn lương thực”, ông Khải nêu.

Vị chuyên gia này cho rằng, điều quan trọng khi xác định chiến lược sản phẩm quốc gia theo vùng kinh tế – sinh thái là trước hết xác định thị trường, khách hàng mục tiêu – tiêu thụ nội địa hay xuất cảng, ở những mức độ khác nhau của mỗi loại nông sản, chứ không phải chạy theo doanh số xuất cảng như hiện nay.

Thứ tư, người nông dân vẫn đang sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, áp dụng công nghệ cũ kỹ vừa cho năng suất lao động và năng suất nông sản thấp, với giá thành sãn xuất cao, vừa không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, gây ô nhiễm môi trường.

Nông dân Việt Nam hiện nay vẫn là “nông dân cha truyền con nối”, nên “lão nông mới tri điền”. Mỗi nông hộ sản xuất tự phát theo hội chứng đám đông, hay theo tín hiệu thị trường của thương lái, không phải là mắt khâu của chuỗi giá trị ngành hàng từ trang trại đến bàn ăn.

Trong khi doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản với công nghệ lạc hậu và kinh doanh theo kiểu “ăn đong”, “có gì mua nấy”, “có gì bán nấy”, không phải là người tổ chức, lãnh đạo chuỗi giá trị ngành hàng.

Thứ năm, Việt Nam chủ trương và thực hiện đầu tư xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao, thay vì đầu tư phát triển một nền nông nghiệp công nghệ cao.

“Vô hình chung, chúng ta thừa nhận một cách vô thức sự tồn tại hợp pháp một nền nông nghiệp không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm”, ông Khải cho hay.

Nông sản không an toàn đang đầu độc người dân một cách hợp pháp?

Xuân Thân (VOV.VN) – PGS.TS Vũ Trọng Khải: Nguy hiểm hơn cả là nền nông nghiệp Việt Nam đang đầu độc cả dân tộc một các hợp pháp bằng các loại nông sản không an toàn.

Tham luận mở đầu Diễn đàn chính sách nông nghiệp thường niên 2015 với chủ đề “Nền nông nghiệp và người nông dân Việt Nam đối diện thách thức hội nhập”, PGS.TS Vũ Trọng Khải, nguyên Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II tại TPHCM cảnh báo: “Nền nông nghiệp Việt Nam hiện nay, không chỉ lạc hậu về mọi mặt, mà điều nguy hiểm hơn cả sự lạc hậu là nó đang đầu độc cả dân tộc một các hợp pháp bằng các loại nông sản không an toàn”.


Nông sản Việt chủ yếu được sản xuất thủ công, nhỏ lẻ (Ảnh minh họa:KT)

Theo ông Khải, nếu không khắc phục tình trạng này, nền nông nghiệp Việt Nam chẳng những không tận dụng được cơ hội do hộp nhập quốc tế mang lại, mà còn bị những thách thức của tiến trình hội nhập quốc tế nhấn chìm. Khi đó, sự tổn thất cho nông nghiệp, nông dân nói riêng và cho cả nền kinh tế và người dân Việt Nam nói chung, là hết sức to lớn”.

Sai lầm trong chiến lược phát triển

Chứng minh cho cảnh báo này, PGS.TS Vũ Trọng Khải nêu hàng loạt nguyên nhân chính đẩy nền nông nghiệp nước ta phải đối mặt những thách thức nhãn tiền không dễ vượt qua nhanh chóng. Đó là do sai lầm trong chiến lược phát triển công nghiệp và đô thị gây ra. Quá trình phát triển công nghiệp và đô thị trong những năm qua đã kéo người nông dân rời bỏ đồng ruộng vào làm việc ở các khu công nghiệp. Nhưng họ không thể trở thành người lao động công nghiệp chuyên nghiệp, gắn bó cả đời với công nghiệp. Khi bị giới chủ loại thải, họ lại trở về với ruộng đồng.

Vì thế, phát triển công nghiệp và đô thị không tạo ra nguồn cung đất nông nghiệp cho thị trường đất đai để tạo ra các trang trại sản xuất nông sản hàng hóa qui mô lớn, áp dụng công nghệ cao, thực hiện GAP, làm ra nông sản đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm với giá cả đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó, ông Khải cho rằng, Việt Nam đã không có chiến lược sản phẩm nông nghiệp quốc gia theo vùng nông nghiệp sinh thái. Những nông sản chủ lực, có khối lượng và giá trị cao hiện nay ở từng vùng nông nghiệp dường như là kết quả của quá trình tự phát. Ví dụ, vùng đồng bằng Sông Cửu Long, vốn là vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất cho sự phát triển của nghề trồng lúa nước, hiện đang cung cấp tới 90% lượng gạo xuất khẩu hằng năm. Nhưng khối lượng lúa sản xuất và xuất khẩu tăng tỷ lệ nghịch với thu nhập của nông dân và tỷ lệ thuận với ô nhiễm môi trường.

Đáng buồn là, hiện nay người dân Philippines mua gạo Việ Nam với giá rẻ chỉ bằng 2/3 giá gạo tiêu thụ trong nước. Vô tình, nông dân Việt Nam đang phải “bất đắc dĩ làm nghĩa vụ quốc tế về an toàn lương thực”.

Mất phương hướng khi hội nhập quốc tế

Trong khi đó, theo ông Khải lo lắng, “chúng ta lại say sưa với việc hoạch định chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế tỉnh, với tiêu chí GDP tỉnh, cơ cấu kinh tế tỉnh. Tỉnh nào cũng cần những con số đẹp về GDP và cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỉ trọng giá trị sản xuất công nghiệp bằng mọi giá”.

Sau một thời gian phát triển theo tư duy này, người ta mới ngộ ra rằng, phải phát triển kinh tế theo vùng, nên các địa phương đang phải “ngồi lại” với nhau để bàn phương án liên kết vùng. Đó là quy trình ngược theo kiểu “thả gà ra vườn rồi phải đi bắt lại từng con để nhốt vào chuồng”. Bởi phương án chiến lược sản phẩm và quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng của mỗi vùng kinh tế sinh thái đã bao gồm nội dung liên kết giữa các tỉnh theo vùng.

Điều quan trọng, theo ông Khải, “khi xác định chiến lược sản phẩm quốc gia theo vùng kinh tế – sinh thái là trước hết xác định thị trường, khách hàng mục tiêu – tiêu thụ nội địa hay xuất khẩu, ở những mức độ khác nhau của mỗi loại nông sản, chứ không phải chạy theo doanh số xuất khẩu như hiện nay”.

Do vậy, “khi hội nhập kinh tế quốc tế, nông nghiệp Việt Nam dường như đang mất phương hướng. Tình trạng nay trồng mai chặt vẫn đang diễn ra khá phổ biến. Thậm chí biết trồng sẽ lỗ nhưng vẫn phải trồng, vì người nông dân chẳng biết làm gì khác ngoài sản phẩm truyền thống”-ông Khải nhấn mạnh.

Một nguyên nhân khác đẩy nông nghiệp Việt Nam đang chịu áp lực nguy cơ thua trên sân nhà khi hội nhập quốc tế, theo ông Khải, do người nông dân vẫn đang sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, áp dụng công nghệ cũ kỹ, vừa cho năng suất lao động và năng suất nông sản thấp, với giá thành sản xuất cao, vừa không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, gây ô nhiễm môi trường. Có tình trạng nông dân sản xuất tự phát theo hội chứng đám đông, theo tín hiệu thị trường của thương lái…. Doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản với công nghệ lạc hậu và có gì mua nấy, có gì bán nấy, không phải là người tổ chức, lãnh đạo chuỗi giá trị ngành hàng.

Sai lầm quan trọng nữa là, chúng ta chủ trương và thực hiện đầu tư xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao, thay vì đầu tư phát triển một nền nông nghiệp công nghệ cao. “Vô hình chung, chúng ta thừa nhận một cách vô thức sự tồn tại hợp pháp một nền nông nghiệp không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm” – ông Khải nói.

[:-/] Bộ trưởng Cao Đức Phát: Sử dụng chất cấm trong chăn nuôi là tội ác (TBKTSG Online) – Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát khẳng định: “Phải đấu tranh với chất cấm trong chăn nuôi như với ma túy. Tôi báo cáo và nêu với các cơ quan chức năng, đối với tôi, việc sử dụng chất cấm là một tội ác.”

Ông Phát đã khẳng định tinh thần trên tại phiên thảo luận của Quốc hội được truyền hình trực tiếp sáng ngày 3-11. Ông Phát cho biết, Bộ Nông nghiệp nhận thức rất rõ yêu cầu bức thiết của nhân dân đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nên đã luôn xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm số 1 của toàn ngành và áp dụng nhiều biện pháp.

Tuy nhiên, ông cho biết, kết quả giám sát trong 9 tháng đầu năm cho thấy tỷ lệ mẫu vi phạm còn cao, và chưa có cải thiện so với năm 2014.

Về thủy sản có 1,01% mẫu kiểm tra có hóa chất và kháng sinh vượt ngưỡng; rau có 10,3% thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng; thịt có 7,6% mẫu có thuốc kháng sinh vượt ngưỡng.

“Do vậy chúng tôi đã phát động đợt an toàn vệ sinh thực phẩm kéo dài đến tháng 2-2016 để chấn chỉnh tình hình và rút kinh nghiệm,” ông Phát nói.

Ông nhấn mạnh, trong đợt này có chương trình về cấm sử dụng chất cấm trong chăn nuôi. Ông cho biết, sau khi các cơ quan chức năng vào cuộc mạnh hơn thì sử dụng chất cấm trong chăn nuôi có giảm, nhất là khu vực xung quanh TP.HCM, nhưng vẫn còn.

“Chúng ta kiểm tra mẫu thịt của con heo chỉ là ngọn, chúng tôi chủ trương xóa bỏ trong đợt này các đường dây mua bán chất này,” ông cam kết.

Lời khẳng định của Bộ trưởng Phát đưa ra sau khi các đại biểu Quốc hội bày tỏ bức xúc với các yếu kém trong quản lý của Bộ này tại phiên thảo luận ngày hôm trước.

Đại biểu Đỗ Văn Đương (TP. HCM) nói tại phiên thảo luận hôm qua 2-11: “Tôi đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của người đã nhập khẩu 68 tấn chất tạo nạc là chất cấm trong chăn nuôi. Hôm nay tôi kính đề nghị các bác nông dân vì sức khỏe cộng đồng đừng dùng thuốc diệt chuột, diệt cỏ để tẩm ướp vào rau, quả đem ra thị trường. Vì yêu quê hương, đất nước thì đừng biến khoai tây Trung Quốc thành khoai Đà Lạt.”

Ông Đương cho rằng, nhà nước phải đấu tranh quyết liệt với việc nhập khẩu, sử dụng chất cấm, chất tạo nạc trong chăn nuôi như đấu tranh với tội phạm ma túy.

Về trình trạng sử dụng phân bón, tại buổi chất vấn sáng nay, Bộ trưởng Phát cho biết, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ chủ trì quản lý phân bón hữu cơ và phân bón khác, còn Bộ Công thương quản lý phân bón vô cơ. Hiện nay đang lưu hành 5.300 tên phân bón, ông cho biết.

Tuy nhiên, ông Phát giải thích, nước ta cần có nhiều loại phân bón là do chúng ta có nhiều loại cây trồng, có yêu cầu các loại phân bón với tỷ lệ phối trộn khác nhau cho các vùng đất, mùa vụ và giai đoạn sinh trưởng khác nhau. Ông nói: “Tôi nhận thấy tên thế là nhiều, trong suốt hai năm qua tôi đã chỉ đạo chấn chỉnh, siết chặt lại, nhưng chúng tôi cũng chỉ làm được trong phạm vi của mình.”

Bộ trưởng Phát cho biết, ông đã tìm hiểu kinh nghiệm quản lý của Thái Lan thì thấy họ quản lý bằng cách quy định điều kiện kinh doanh cho doanh nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật cho từng loại phân bón, chứ không thấy nêu về từng loại hay số lượng phân bón.

Ông cho biết, để ngăn chặn tình trạng có quá nhiều phân bón, và chấn chỉnh tình trạng phân bón giả, kém chất lượng, Chính phủ đang chỉ đạo các bộ thực hiện nhiều giải pháp, trong đó có hai giải pháp chính. Thứ nhất là xây dựng quy chuẩn kỹ thuật cho từng loại phân bón; và quản lý chặt chẽ theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn. Thứ hai, yêu cầu doanh nghiệp đảm bảo điều kiện kinh doanh.

Ông khẳng định: “Đến 1-2-2016, nếu doanh nghiệp nào không đạt yêu cầu sẽ bị đóng cửa. Tôi đang cùng Bộ Công thương thực hiện theo tinh thần đó.”

Có thể khẳng định những thiệt hại do sử dụng phân bón giả, phân bón kém chất lượng gây cho mùa màng, môi trường, sức khỏe cộng đồng và uy tín của thương hiệu nông sản Việt Nam là khôn xiết.

Báo Nhân dân ra ngày 12-10 vừa qua đã nêu ra con số mỗi năm chúng ta thiệt hại khoảng 2 tỷ đô la Mỹ do sử dụng phân bón giả, phân bón kém chất lượng. Hàng năm, trong nhiều nghìn tỷ đồng phân bón được thu từ túi tiền của nông dân trên cả nước có tỷ lệ lớn tiền mua bán các loại phân bón rởm, phân bón giả, gây nhiều thiệt hại cho nông dân, nông nghiệp và nền kinh tế quốc gia.

Thực trạng này rất dễ nhận thấy nhưng giải pháp khắc phục cho đến nay chưa mấy hiệu quả và việc xử lý chưa thật nghiêm minh. Nhiều năm qua nông dân cả nước vẫn tiếp tục khốn đốn về các loại phân bón rởm, phân bón giả, phân bón kém chất lượng và ngày càng tràn lan. Nông dân không có cách nào phân biệt thực hư trước khi mua phân bón. Thực trạng này như một loại dịch bệnh vô phương cứu chữa và cứ đổ hết lên đôi vai của người nông dân Việt Nam.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s