Tư duy già cỗi và hành trình … đi ngược

Posted: November 7, 2015 in Uncategorized
Tags:

Kỳ Duyên – Sự hội nhập của thế giới hiện đại, là cuộc chơi bình đẳng, sòng phẳng thể hiện sức mạnh nội lực của mỗi quốc gia, không thể có sự chiếu cố, hay nhân nhượng. Mà muốn vậy, không chỉ cần có tư duy văn minh, hiện đại, tầm nhìn chiến lược- quyết định sống còn, mà cần cả tấm lòng, khí phách biết đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Chợt nhớ câu thơ: “Trong hồn người có ngọn sóng nào không?”

� Xem thêm: Việt Nam sẽ mất cơ hội nếu không biết nuôi “con gà đẻ trứng vàng” + Những nguyên nhân khiến nguồn nhân sự quản lý người Việt khan hiếm + Gần 200.000 cử nhân thất nghiệp sẽ đi về đâu?

“Trong hồn người có ngọn sóng nào không?”

Những ngày này, không hiểu sao, chợt nhớ bài thơ Tổ Quốc- nhìn từ biển của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, mỗi câu thơ như mỗi con sóng Biển Đông xô bờ, rưng rưng và xa xót:

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không?

Một câu thơ như câu hỏi nhói lòng!

Không nhói lòng sao được? Bởi từ thuở trái đất hình thành nên các quốc gia sau khi trải qua biết bao cuộc chinh chiến, bao thăng trầm ấm lạnh của lịch sử, trong thế giới hiện đại ngày nay, niềm tự hào của mỗi quốc gia là sự phát triển mạnh mẽ, vững chắc kinh tế- XH hay …ngược lại để khẳng định đẳng cấp, thương hiệu quốc gia mình, hoặc thú nhận sự… bất lực.

Với VN, hàng mấy chục năm qua, diện mạo XH đã có nhiều thay đổi lớn, từ hạ tầng cơ sở đến mức sống người dân. Nhưng tiếc thay, kinh tế- XH nước Việt so với yêu cầu phát triển, và so với tốc độ vận hành của nhiều quốc gia ngay trong khu vực như Campuchia, Lào đang tiến theo hướng thuận thì VN vẫn ở tình huống lý thuyết xanh tươi, cây đời… không xanh tươi lắm.

Trả lời phỏng vấn của báo VnEconomy, ngày 01/11, ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm UB Kinh tế Quốc hội cho rằng: “Nhìn cả quá trình thì từ 2008 đến nay Việt Nam có xu hướngphát triển… ngược thế giới”. Ngược thế nào?

Ở tầm vĩ mô, theo ông Nguyễn Đức Kiên, tái cơ cấu kinh tế không có nhiều điểm sáng, tái cơ cấu đầu tư công không thành công, bội chi ngân sách vẫn cao. Tái cơ cấu DNNN chậm chạp, khi mà có 432 tập đoàn, tổng công ty Nhà nước phải cổ phần hóa theo kế hoạch, nhưng đến nay còn hơn 100 tập đoàn, TCT chưa CPH được. Trong lúc DNNN nắm giữ 1,5 triệu tỷ đồng và tổng tài sản là gần 5 triệu tỷ đồng, không những không có tác động tích cực với nền kinh tế mà còn đang bon chen với DN dân doanh kiếm lợi nhuận từ nền kinh tế. Chính sách tài khóa một đằng, chính sách tiền tệ một nẻo. Từ đó tốc độ nợ công tăng nợ cao hơn GDP. Tốc độ tăng nợ bình quân đến 18% bình quân, còn GDP tăng chỉ có 5,88%, rất nguy hiểm.

Đáng chú ý, quản lý nhà nước vẫn ngồi… “nhầm chỗ” khi can thiệp quá sâu vào kinh doanh.

Đây có lẽ là sự đi ngược lại nguyên lý chung của cơ chế kinh tế thị trường. Dư luận XH hẳn còn chưa quên, ông Tony Blair khi sang thăm VN vào tháng 3 năm nay đã có một lời khuyên chí tình xuất phát từ thực tiễn kinh tế thị trường nước Anh và các quốc gia phát triển: Đó là, trong cải cách kinh tế, vai trò của CP rất cần thiết khi bảo vệ lợi ích quốc gia, tạo khuôn khổ cho nền kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, vai trò của CP lại không hiệu quả lắm trong điều hành các tổ chức kinh doanh, đưa ra sáng kiến với doanh nghiệp (DN).

Như vậy, về bản chất, trong sâu sa, tư duy của nước Việt vẫn là loại tư duy xưa cũ, bắt nguồn và mọc rễ từ nền kinh tế bao cấp, kinh tế kế hoạch hóa, mà chưa phải là tư duy kinh tế thị trường, tôn trọng sự khác biệt và tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng cho tất cả các loại hình DN khác nhau, bất kể DNNN, DN tư nhân, DN FDI, kinh tế hộ gia đình…

Trong muôn vàn sự đổi mới, có đổi mới nào không bắt đầu từ tư duy, từ nhận thức? Và cũng không có  sự gian khó nào bằng đổi mới tư duy. Tư duy xơ cứng, già cỗi chính là vật cản đầu tiên, rất ảo về hình hài nhưng rất thật trong những trì trệ của sự phát triển.

Ở một góc độ khác của tư duy này, đó là căn bệnh thành tích, mà như ông Nguyễn Đức Kiên đã thẳng thắn- khó khăn lớn nhất của nền kinh tế là bệnh thành tích, thích theo chủ nghĩa dân túy mà không nhìn vào bản chất sự việc là mô hình tăng trưởng không thay đổi. Chúng ta đã không cầm cương được nền kinh tế. Nếu tình hình xấu thì bảo là do thế giới tác động mà không thấy khuyết điểm do điều hành

Điều này, ngẫu nhiên cũng trùng hợp với nhận xét của Bộ trưởng KH& ĐT Bùi Quang Vinh khi ông cho rằng, VN đang tồn tại 02 hệ thống chỉ tiêu quốc gia và hệ thống chỉ tiêu các bộ ngành. Cần làm rõ đâu là chỉ tiêu quốc gia, đâu là chỉ tiêu các bộ, ngành. Hệ thống chỉ tiêu quốc gia mang tính chất cốt lõi nhất, căn bản nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế, chứ không thể “một mình một chợ”.  Cái ông làm ra thành tích ấy thì thường con số không khách quan, bởi người ta vẫn muốn con số đẹp, vì vậy mới cần thống kê độc lập để có con số chính xác. (VietNamNet, ngày 04/11).

Đúng là tại cái nước Việt mình nó thế– như sự hài hước hóm hỉnh của GS Văn học Hoàng Ngọc Hiến khi còn sống. Phát ngôn này trở thành sự biện hộ chuẩn xác cho những bất cập của nước Việt một khi…. không giải thích được, vì sao!

Ở tầm vi mô, ông Đặng Ngọc Tùng – Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động VN bày tỏ lo lắng trước QH sáng 4/11 về năng suất lao động. Theo ông, Bộ KH & ĐT cho biết, nếu VN duy trì năng suất lao động bình quân trong giai đoạn 2007-2012 thì đến năm 2038 năng suất lao động của VN mới bắt kịp được Philippine, năm 2069 mới bắt kịp được Thái Lan.

Nhưng người viết bài muốn đặt câu hỏi: Liệu Thái Lan và Philippine có chịu…. đứng im để VN đuổi kịp không? Hay là tốc độ của VN 5 thì của họ 10, của VN 10 thì họ 20?

Nên sự xót xa và tự ái dân tộc của ông Đặng Ngọc Tùng là dễ hiểu, nhất là khi ông đặt câu hỏi: Năng suất lao động của chúng ta thấp có phải trách nhiệm người lao động hay không? Hay do CP điều hành nền kinh tế? Rồi cũng chính ông tự trả lời: Năng suất lao động quốc gia hoàn toàn không phải phụ thuộc vào người lao động mà phụ thuộc rất nhiều yếu tố. Quan trọng nhất là công nghệ. Chúng ta cứ lạm dụng nhân công giá rẻ mà nhập công nghệ lạc hậu vào thì làm sao nâng cao năng suất lao động? Cứ công nghệ rẻ của Trung Quốc cộng với nhân công rẻ của VN thì chết đất nước này trong những năm tới.

Đó là cách lý giải ở tầm vi mô. Hoàn toàn chính xác.

Nhưng ở tầm vĩ mô, người viết không đồng tình với cách lý giải của ông Nguyễn Đức Kiên, khi ông cho rằng, chính sách của ta đề ra rất đúng, lộ trình đề ra rất đúng, song thực hiện thì có vấn đề.

Lý giải này hoàn toàn không mới, thậm chí rất… cũ. Bởi XH đã nghe tới hàng mấy chục năm nay cách biện hộ này trước những “thất bát” về phát triển, trong kinh tế. Ở góc độ nào đó, nó cũng đậm “chất thành tích”.

Bởi nếu chính sách của ta đề ra rất đúng, thì vì sao môi trường kinh doanh cạnh tranh của nước Việt lại bị coi là thiếu lành mạnh, bất bình đẳng dai dẳng đến vậy? Khi mà các DNNN “hiện đang sử dụng 70% đất đai và 70% viện trợ chính thức ODA trong khu vực sản xuất kinh doanh, 60% tín dụng của nền kinh tế nhưng chỉ đóng góp 32% tổng GDP cả nước- nhận định của ông Vương Đình Huệ, Trưởng ban Kinh tế TƯ (baomoi.com, ngày 06/6/2014). Trong khi DN tư nhân, dù đóng góp 39% tổng đầu tư toàn xã hội và khoảng 50% GDP, nhưng lại không có những sự hỗ trợ các chính sách về đầu tư tài chính, đất đai, thuế má, chưa kể còn bị gây khó dễ trong các điều kiện kinh doanh (Tuần Việt Nam, ngày 17/10)

Chính sự bất bình đẳng, thiếu lành mạnh trong môi trường cạnh tranh nhất bên nặng, nhất bênnhẹ đó đã dẫn đến hai hệ lụy:

Một, các DNNN vừa được chiều chuộng, ưu tiên hỗ trợ đủ thứ, ngoại trừ một số DNNN ăn nên làm ra, vẫn là mảnh đất xin- cho mầu mỡ, nơi nảy nở các loại hoa hồng- thực đơn béo bở của lợi ích nhóm, mà thực chất là tệ nạn tham nhũng. Ngay cả khi để chuẩn bị cho hội nhập, ký kết TPP, chịu sự ràng buộc của những cam kết quốc tế, việc cổ phần hóa- một quy chuẩn không thể thiếu, thì tiến độ CPH cũng rất…. uể oải. Bởi nó thực sự đụng chạm tới lợi ích nhóm.

Hai, các DN tư nhân mặc dù đóng góp lớn, nhưng thiếu động lực để có tầm nhìn xa, có thể góp phần phát triển hơn nữa cho XH.

Bởi nếu chính sách phòng chống tham nhũng đúng đắn thì chắc chắn, giặc nội xâm phải bị đẩy lùi. Vậy tại sao, đến thời điểm này, tham nhũng vẫn “được” đánh giá là “trầm trọng”, “một bộ phận không nhỏ cán bộ suy thoái về đạo đức”? Phải chăng, cách đấu tranh phòng chống tham nhũng quá duy ý chí, khi chỉ đặt niềm tin ở cuộc vận động về tư tưởng, mà thiếu hẳn những giải pháp khoa học đã từng được các quốc gia văn minh áp dụng? Đó là xóa bỏ tận gốc cách giao thương bằng tiền mặt? Là thiết lập nền quản trị quốc gia công khai, minh bạch.

Chính vì thiếu hẳn những chính sách, sách lược đúng đắn đó, mà sự kê khai tài sản của quan chức trong diện quy định, rút cục vẫn là câu chuyện của một nửa sự thật không còn là sự thật. Khiến nước Việt đến thời điểm này, vẫn đứng trên … cung bậc tham nhũng, mà dư âm cay đắng của nó luôn ám ảnh toàn XH.

Cồng kềnh (ơ) cồng kềnh…

Bỗng nhiên người viết bài nhớ một giai điệu của ca khúc Huyền thoại Hồ Núi Cốc của nhạc sĩ Phó Đức Phương, khi nghĩ về một trong những nguyên nhân lớn của sự trì trệ phát triển kinh tế. Đó là sự cồng kềnh bộ máy. Cồng kềnh (ơ) cồng kềnh. Cồng kềnh (ơ) cồng kềnh…

Chả lẽ giờ đây, các nhà quản lý lại chính lại là tác giả của “huyền thoại”… cải cách hành chính?

Bởi cũng chính đầu năm 2015, CP đã quyết định lấy năm 2015 là năm Cải cách thủ tục hành chính. Quyết định này dựa trên thực tiễn bộ máy công chức đang mắc bệnh “béo phì”, với 2,8 triệu công chức làm việc trong các cơ quan, đơn vị hành chính công. Đương nhiên, Bộ Nội vụ phải là “thầy thuốc” đưa ra phương án, lộ trình “giảm béo” bộ máy này đến năm 2020. Nếu ý tưởng thành hiện thực, sẽ góp phần làm thon nhẹ đi gánh nặng ngân sách quốc gia mà người dân luôn phải… oằn lưng gánh vác

Tuy nhiên tiến trình “giảm béo” bộ máy công chức có thành công hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào việc ngành nội vụ có đủ giải pháp, năng lực không?

Chỉ biết, còn 02 tháng nữa là kết thúc năm 2015, thì điệp khúc cồng kềnh (ơ) cồng kềnh, cồngkềnh (ơ ) cồng kềnh bỗng tiếp tục ngân lên, tại nghị trường ngày 03/11 mới đây. Khi hai nữ ĐBQH- Phó Bí thư Quảng Ninh Đỗ Thị Hoàng và Phó Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thị Quyết Tâm đề xuất, hoặc đề nghị QH mổ xẻ câu chuyện lãng phí trong bộ máy hiện nay để có quyết sách đúng.

Rõ ràng kế hoạch “giảm béo” bộ máy công chức xem ra, đã không thành công.

Cả hai nữ ĐBQH, với cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều có những tâm đồng. Đó là cơ chế tuyển dụng bất cập, bởi không có sàng lọc. Thế nên nhiều người sống chết cũng phải tìm được cách có chân trong cái sự “béo phì”, vì ở môi trường không sàng lọc, sẽ chỉ có đến mà không có đi.

Đó là sự chồng chéo nhân sự, tìm việc cho người, không phải tìm người cho việc, đã nảy sinh hiện tượng bộ máy phát sinh “phục vụ chính mình” chiếm tỷ lệ 20-35% trong tổng biên chế .

Còn theo người viết bài này, có cả do tư duy quản lý, quy hoạch thiếu tầm nhìn chiến lược, tách – nhập, nhập- tách, khiến bộ máy quản lý khủng hoảng thừa mà không sao tinh gọn, bởi những lý do tế nhị. Chưa kể hiện tượng lợi ích nhóm một người làm quan cả họ được nhờ, hẳn không hiếm.

Thật ra, những hiện tượng mà hai ĐBQH nêu trên không mới. Nó cũng xưa như trái đất. Năm 2014, vấn đề “giảm béo” bộ máy đã được kiến nghị tại các phiên thảo luận của QH với hai mục tiêu: Tiết kiệm ngân sách và tinh giản bộ máy. Thế nhưng mục tiêu thì rõ, mà giải pháp thì hơi…. mờ, thậm chí hiệu ứng “ngược”. Bởi đến ngay Bộ Nội vụ, ngành chức năng từng triển khai việc tự đánh giá công việc của cán bộ, công chức nhưng làm xong thì không có đơn vị nào xin giảm biên chế mà đều xin… tăng! Đội ngũ hưởng lương thì rất lớn nhưng người làm việc chuyên môn ít, bộ máy tổ chức cồng kềnh. Rõ là ốc không mang nổi mình ốc…

Cũng  tại phiên thảo luận của QH năm 2014, ĐB Trần Du Lịch nhấn mạnh nếu cứ duy trì bộ máy chính quyền địa phương 03 cấp với tất cả ban bệ hệ thống như hiện nay thì không dân nào đóng thuế nuôi nổi bộ máy này.

Thế nhưng đến nay, hiện trạng tiếp tục nguyễn y vân. Để những điệp khúc về bộ máy nhân sự cồng kềnh (ơ) cồng kềnh… lại cất lên, lúng túng vì nan giải

Hóa ra, cải cách hành chính mới là cuộc cải cách khó khăn nhất. Nó đụng chạm đến cơm áo không đùa với …. công chức (mượn câu thơ của Xuân Diệu). Nhưng xét cho cùng, lỗi tại tư duy quản lý nước Việt luộm thuộm, ngắn hạn. Được biết, mới đây, ĐBQH Bùi Thị An đề nghị QH nên lấy năm 2016 là Năm tiết kiệm và kỷ cương hành chính (VOV, ngày 04/11)

Ôi trời! Người viết bài chỉ sợ, đến cuối năm 2016, lại được nghe điệp khúc tiếp cồng kềnh (ơ) cồng kềnh, cồng kềnh (ơ) cồng kềnh của … “huyền thoại” cải cách hành chính. Bởi mọi mục tiêu cần những giải pháp quyết đoán, văn minh khoa học, không nên lấy năm nọ, lấy năm kia để làm cái đích. Thực tế cho thấy có rất nhiều mục tiêu đã không… cán đích. Vì cách tư duy kế hoạch kiểu đó đầy duy ý chí, rút cục chẳng có hiệu quả.

Trong khi TPP đang sáp gần. Sự hội nhập của thế giới hiện đại, là cuộc chơi bình đẳng, sòng phẳng thể hiện sức mạnh nội lực của mỗi quốc gia, không thể có sự chiếu cố, hay nhân nhượng. Mà muốn vậy, không chỉ cần có tư duy văn minh, hiện đại, tầm nhìn chiến lược- quyết định sống còn, mà cần cả tấm lòng, khí phách biết đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.

Chợt nhớ câu thơ: Trong hồn người có ngọn sóng nào không?

Vâng, đó là câu hỏi day dứt cần thức tỉnh mỗi chúng ta, từ bậc lãnh đạo đến thường dân.

Việt Nam sẽ mất cơ hội nếu không biết nuôi “con gà đẻ trứng vàng”

Chuyên gia Bùi Kiến Thành (GDVN) – Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành thẳng thắn chỉ ra hạn chế trong chính sách điều hành tiền tệ và đào tạo nguồn lao động khiến Việt Nam mất đi cơ hội khi TPP.

Không biết nuôi “con gà đẻ trứng vàng”

Ngày 5/10/2015 ghi dấu ấn quan trọng trên con đường hội nhập của Việt Nam với thế giới khi Việt Nam cùng 11 quốc gia khác đã thống nhất và đi đến kết thúc quá trình đàm phán tham gia Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Trở thành thành viên của TPP, Việt Nam sẽ tham gia tổ chức hợp tác kinh tế xuyên lục địa mạnh nhất từ trước tới nay khi chiếm đến 40% thương mại toàn cầu. Trong đó có những nền kinh tế hàng đầu tư Mỹ, Nhật Bản, Canada…


Các nước tham gia đàm phát Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP (ảnh nguồn NDH).

Ở khía cạnh kinh tế, Việt Nam được xem là quốc gia sẽ hưởng lợi nhiều nhất bởi chính sách thuế quan. Cụ thể, theo thỏa thuận hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các quốc gia trong khối TPP sẽ có mức thuế quan ưu đãi, thậm chí bằng 0 với một số mặt hàng.

Điều này tạo thuận lợi cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp tăng GDP đặc biệt khi Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu may mặc, giày dép, gỗ vào thị trường lớn của các nước trong khối TPP như Mỹ, Nhật, Australia.

Thuận lợi đó nhưng xem chúng ta có gì trước cơ hội này?

Thứ nhất, để nhận được mức thuế quan ưu đãi hàng hóa Việt Nam phải đảm bảo tỷ lệ nội địa lớn. Ví dụ may mặc phải tính từ sợi được sản xuất trong nước. Như vậy vấn đề đặt ra là làm sao để phát triển ngành công nghiệp này bởi từ trước đến nay sợi chúng ta chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thứ hai, ngay cả khi vấn đề sợi được giải quyết, chúng ta đã có hàng xuất khẩu nhưng vào thị trường Mỹ như thế nào? Qua trung gian hay trực tiếp, nếu qua trung gian thì lợi nhuận của chúng ta không đáng là bao vì mình vẫn là gia công. Vì vậy làm sao phải đảm bảo chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ, phải bán hàng trực tiếp.

Muốn bán hàng trực tiếp, doanh nghiệp Việt phải đối mặt vấn đề thanh toán bởi đối tác sẽ nhận hàng nhưng không thanh toán ngay mà sẽ trả chậm trong vòng 2-3 tháng. Thậm chí đối tác yêu cầu tiếp tục sản xuất đơn hàng mới trong khi đơn cũ vẫn chưa thanh toán.


Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam (ảnh H.Lưc)

Tất cả vấn đề nêu trên thực chất là câu chuyện tạo nguồn vốn cho doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Với lãi suất 6-7% như hiện nay, doanh nghiệp sẽ khó sống được.

Điều đáng nói nhất khi lý giải việc lãi suất cho vay doanh nghiệp cao, Ngân hàng Nhà nước lại cho rằng “huy động cao thì cho vay cao”. Lý giải như vậy không hợp lý. Tại sao Ngân hàng Nhà nước không cho các ngân hàng thương mại vay với lãi suất 1% và chỉ đạo ngân hàng thương mại chỉ cho doanh nghiệp vay với lãi suất 2% – 3%. Không ai cấm chúng ta làm như vậy.

Nhiệm vụ Ngân hàng Nhà nước là kiểm soát lưu lượng tiền tệ cho nền kinh tế phát triển bền vững. Không nhiều quá để gây ra lạm phát và ít quá để gây tiểu phát.

Mặt khác về chính sách tài khóa, tại Mỹ khi thấy nền kinh tế suy yếu người ta tìm hiểu tại sao doanh nghiệp gặp khó trong sản xuất kinh doanh. Để từ đó có chính sách giảm thuế và cho vay để doanh nghiệp vực dậy tiếp tục sản xuất.

Nhưng chúng ta không biết nuôi “con gà đẻ trứng vàng”, không biết nuôi doanh nghiệp để có nguồn thu.

Đào tạo lao động lãng phí

Để nuôi nền kinh tế phát triển cần có nguồn lao động chất lượng, trong khi hiện nay chúng ta đang lãng phí lao động một cách cực kỳ nguy hiểm.

Thứ nhất lãng phí nguồn lao động có trình độ, sinh viên học đại học nhưng về đi làm công nhân làm không đúng với trình độ nghiệp vụ được đào tạo. Nhưng đó là còn có công ăn việc làm còn may mắn, nếu thất nghiệp không có việc làm còn lãng phí hơn.

Lao động là tài nguyên quốc gia chứ không phải chỉ là vấn đề của một cá nhân. Tài nguyên này mất đi không thể trở lại được.

Thứ hai, định hướng trong giáo dục đào tạo, chúng ta đào tạo lao động nhưng không nghĩ đến nhu cầu của nền kinh tế cái đó là lỗ hổng. Có hai cách giáo dục: Giáo dục khoa học tự nhiên, khoa học cơ bản và giáo dục để đào tạo nhân lực cho nền kinh tế. Hai vấn đề này chúng ta chưa làm được.

Trước đến nay ngành giáo dục của Việt Nam chỉ chăm chăm đào tạo khoa học cơ bản. Đào tạo các ngành khoa học nói chung là tốt nhưng thực tế nhu cầu lao động cho xã hội chỉ cần một lượng nhỏ. Trong khi mình bỏ ngỏ vấn đề đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho phát triển kinh tế.

Giữa cơ quan quản lý kinh tế, doanh nghiệp và ngành giáo dục phải ngồi lại cùng nhau nghiên cứu chỉ ra nhu cầu kinh tế – xã hội với lao động.

Thứ ba, chất lượng lao động được đào tạo có vấn đề. Doanh nghiệp thiếu lao động, đặc biệt lao động có trình độ nhưng sinh viên ra trường gần như doanh nghiệp phải mất một thời gian đào tạo lại. Nói cách khác, chất lượng lao động được đào tạo kém khiến doanh nghiệp phải bỏ thời gian, chi phí đào tạo lại. Đây là một vấn đề thực tế cần nhìn nhận không phải chỉ nói ra rồi để đấy.

Giải quyết tất cả vấn đề trên trong vấn đề giáo dục đào tạo, cần nhìn vào nhu cầu thực tế của nền kinh tế. Đào tạo nguồn lao động để phát triển nền kinh tế. Ngành giáo dục cần biết và chỉ ra nhu cầu xã hội để có kế hoạch đào tạo chứ không phải ai cũng chăm chăm đi học đại học, học xong về làm gì?

Vì vậy phải làm sao để người lao động có việc làm, tạo cho họ công việc có hiệu suất lao động cao nhất, tất cả người lao động làm việc với hiệu suất lao động cao nhất đất nước sẽ phát triển.

Một lãng phí nữa về nguồn lao động có trình độ mà chúng ta đang lãng phí đó là lao động là con em Việt kiều ở tất cả các quốc gia. Việt Nam có khoảng 4 triệu kiều bào, trong đó có khoảng 500.000 được đào tạo đại học sau đại học, họ có vị thế kinh tế, là một lực lượng phát triển kinh tế.

Nếu chúng ta biết huy động lực lượng lao động này giúp cho nền kinh tế thì cực kỳ thuật lợi. Lực lượng này sẽ là chân rết cho nền kinh tế ở khắp các quốc gia có Việt kiều sinh sống.

Ví dụ doanh nghiệp muốn tiếp cận thị trường mới rất khó nhưng thông qua doanh nhân Việt kiều tại các quốc gia lại rất dễ bởi họ có trình độ, có sự am hiểu thị trường.

Ngoài ra chúng ta cũng cần có cơ chế riêng thập chí hấp dẫn hơn dành cho doanh nghiệp FDI cho các doanh nhân hay nguồn vốn Việt kiều về đầu tư trong nước.

Làm được tất cả những điều này, Việt Nam sẽ có thêm lực lượng lao động tốt có trình độ, có nguồn vốn giúp nền kinh tế phát triển.

► Xem thêm: Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Thoái vốn Nhà nước, sợ nhất là bán rẻ cho con cháu

Những nguyên nhân khiến nguồn nhân sự quản lý người Việt khan hiếm

Hồng Lĩnh (PLO) – Khan hiếm nguồn nhân sự cấp trung và cấp cao của các công ty nước ngoài tại Việt Nam từ lâu đã trở thành một bài toán chưa có lời giải. Theo các chuyên gia trong lĩnh vực này, hiện đang tồn tại nhiều nguyên nhân tạo nên tình trạng khan hiếm nói trên…


Tiếng Anh vẫn là trở ngại lớn đối với nhân sự quản lý người Việt

Cạnh tranh gay gắt về mức lương

Navigos Search, công ty hoạt động trong lĩnh vực tuyển dụng  nhân sự trung và cao cấp, vừa công bố Báo cáo về “Những thách thức trong việc tuyển dụng và giữ chân nhân sự cấp trung và cấp cao người Việt tại các công ty nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam”.

Khảo sát của Navigos Search cho thấy, có 41% người tham gia khảo sát tại Việt Nam chia sẻ trong vòng 12 tháng qua, họ không tìm được đủ nhân sự cấp trung và cấp cao người Việt cho doanh nghiệp mình.

Và có đến 56% ý kiến tham gia khảo sát tại Việt Nam cho rằng họ đang gặp phải thách thức lớn nhất đến từ sự cạnh tranh gay gắt về mức lương, thưởng tốt hơn từ các công ty cùng ngành.

Tại một số thị trường các nước trong khu vực,  mức độ cạnh tranh về lương còn gay gắt hơn. Cụ thể có đến 84% ý kiến ở Thái Lan và 82% ý kiến ở Singapore cho thấy đây chính là khó khăn lớn nhất đối với họ khi giữ chân nhân sự cấp quản lý.

Tiếng Anh là một trở ngại lớn

Các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam đưa tiếng Anh vào Top 3 các yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định tuyển dụng nhân sự cấp trung và cấp cao. Trong khi đó, tại Singapore, tiếng Anh được coi là kỹ năng thành thạo đương nhiên đối với đội ngũ nhân sự này.

Báo cáo của Navigos phản ánh, chỉ có 2% người tham gia tại Singapore cho rằng tiếng Anh là yếu tố quan trọng đối với họ khi đưa ra quyết định tuyển dụng, trong khi tỷ lệ này tại Việt Nam là 31%.

Kết quả xếp hạng của công ty đào tạo ngôn ngữ EF Education First vừa được công bố cũng cho biết, kỹ năng tiếng Anh của người Việt được xếp ở mức độ  “trung bình”.

Theo các chuyên gia, việc vẫn phải đưa yếu tố tiếng Anh vào trong các quyết định tuyển dụng nhân sự quản lý người Việt tại các công ty nước ngoài cho thấy, kỹ năng thành thạo tiếng Anh ở đội ngũ này vẫn đang là một trở ngại trong việc hòa nhập với môi trường làm việc đa quốc gia.

Thiếu kỹ năng lãnh đạo

Các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam cho rằng, họ chưa thật sự hài  lòng về kỹ năng lãnh đạo của nguồn nhân sự cao cấp người Việt. Đây cũng là kỹ năng nhận được sự hài long thấp nhất trong số các kỹ năng mà doanh nghiệp tuyển dụng nước ngoài đặt ra.

Tuy nhiên, nguồn nhân sự này tại thị trường Việt Nam được nhận xét có điểm mạnh là tinh thần sẵn sàng học hỏi cao và nhanh nhẹn, có tinh thần trách nhiệm và thân thiện với cấp dưới.

Vẫn phải vừa học vừa làm

Nhiều doanh nghiệp cho biết, không riêng gì nguồn nhân lực là công nhân lao động sau khi được tuyển dụng vào công ty thì phải được đào tạo lại; Thực tế cho thấy, nguồn nhân sự cấp cao và cấp trung trên thị trường hiện nay làm việc tại các doanh nghiệp nước ngoài, vẫn phải vừa học vừa làm.

Phần lớn các doanh nghiệp đều phải đưa chương trình đào tạo vào hoạt động chính của công ty. Nội dung đào tạo cho nguồn nhân lực cấp quản lý chính là đào tạo kỹ năng lãnh đạo, và hình thức đào tạo phổ biến nhất vẫn là làm việc dưới sự hướng dẫn của các cấp quản lý cao hơn.

[:-/] Gần 200.000 cử nhân thất nghiệp sẽ đi về đâu? (CAND) – Tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm, tuy nhiên số lượng người có trình độ đại học trở lên thất nghiệp vẫn tiếp tục tăng với khoảng 199,4 nghìn người, chiếm 17,4% số người thất nghiệp, tăng khoảng 22 nghìn người so với quý trước đó.


Cần tư vấn, hướng nghiệp cho thanh niên lựa chọn ngành nghề thích hợp. Ảnh: Thiện Hoàng.

Theo Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam quý II năm 2015 do Viện Khoa học Lao động Xã hội vừa công bố, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm, tuy nhiên số lượng người có trình độ đại học trở lên thất nghiệp vẫn tiếp tục tăng với khoảng 199,4 nghìn người, chiếm 17,4% số người thất nghiệp, tăng khoảng 22 nghìn người so với quý trước đó.

Việc gia tăng tình trạng cử nhân thất nghiệp cho thấy, đây chính là hệ quả tất yếu của việc đào tạo không gắn liền với nhu cầu thị trường lao động, cùng với đó là những bất cập trong công tác phân luồng, hướng nghiệp cho học sinh ngay từ bậc phổ thông.

Theo tính toán của các chuyên gia, mỗi năm thị trường lao động Việt Nam chỉ có nhu cầu tuyển dụng khoảng 20 nghìn người có trình độ đại học trở lên trong khi các trường đại học cho “ra lò” khoảng 400 nghìn người, dẫn đến việc cử nhân, kỹ sư thất nghiệp, làm trái nghề, làm lao động chân tay là khó tránh khỏi. Hiện tỷ lệ cử nhân của nước ta là rất cao (khoảng 250 sinh viên/1 vạn dân), vượt mức trung bình của thế giới, nhưng chất lượng đào tạo lại thấp.

Phần lớn sinh viên đã tốt nghiệp còn yếu về chuyên môn, thiếu năng lực thực tiễn và khả năng thích ứng trong môi trường cạnh tranh. Bên cạnh đó, kinh tế khủng hoảng, các doanh nghiệp phá sản hoặc thu hẹp sản xuất, kinh doanh dẫn đến dư thừa lao động thì sự gia tăng quá nhanh các trường đại học và các ngành học không theo quy hoạch, đào tạo tràn lan, chất lượng thấp, không gắn với sử dụng nhân lực đã dẫn đến hậu quả nặng nề là tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên mới ra trường ngày một tăng cao.

Phân tích cụ thể hơn về con số cử nhân thất nghiệp của quý II năm 2015, bà Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội cho biết: Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật (chứng chỉ sơ cấp trở lên) có 10,7 triệu người, chiếm hơn 20% lực lượng lao động.

Trong đó, riêng trình độ đại học trở lên có 4,47 triệu người. Điều này cho thấy, nước ta đang mất cân đối về cơ cấu lao động qua đào tạo nghề và giáo dục đại học, người có bằng đại học dư thừa, nhưng lao động tay nghề lại thiếu. Năm học vừa qua, thí sinh 12 điểm vẫn có thể đỗ vào đại học, sau này, những người đó chỉ có bằng đại học chứ không phải người có trình độ đại học.

… PGS Văn Như Cương, Chủ tịch Hội đồng quản trị trường dân lập Lương Thế Vinh (Hà Nội) cho rằng: Chúng ta đang sống trong một xã hội hiếu học lạc hậu bởi ai cũng muốn vào đại học dù số đông sinh viên ra trường không có việc làm. Tệ hại hơn nữa là bậc trung cấp thiếu người học, nghề thiếu người học mặc dù những hệ đào tạo này học xong có thể có việc làm ngay.

“Dường như, mục đích của giáo dục hiện nay chủ yếu là học sinh học xong tiểu học, lên trung học cơ sở, tiếp theo là trung học phổ thông và cuối cùng là vào đại học. Đây là nền giáo dục ứng thí, phục vụ toàn dân lên lớp, toàn dân học đại học mà không đảm bảo điều kiện cải thiện chất lượng cuộc sống. Điều này sẽ gây ra những hậu quả về nguồn lực lao động khi chúng ta hội nhập ASEAN và TTP. Khi đó, chúng ta có thể thất bại vì phải nhập thợ chất lượng cao của nước ngoài, còn thợ của Việt Nam chỉ có thể làm thuê ở những ngành nghề đơn giản”- thầy Cương đặt vấn đề.

TS Lê Viết Khuyến, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD&ĐT cũng nhấn mạnh: Mỗi quốc gia có đặc điểm kinh tế, xã hội khác nhau, nếu không xác định được nền giáo dục của nước mình đi theo luồng nào thì lại học tập theo kiểu chắp vá sẽ không đạt hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, việc phân luồng rất quan trọng vì nó giúp học sinh sớm định hướng được tương lai, nghề nghiệp chứ không phải cứ học mãi một con đường lên đại học rồi thất nghiệp như những năm qua.

[:-/] Hàng trăm nghìn cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp: Vì đâu nên nỗi? (CAF) – Theo một thống kê, có tới 199.400 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp. Người tìm việc vẫn thất nghiệp trong khi doanh nghiệp vẫn ‘khát’ nhân lực. Vậy nguyên nhân do đâu?

Theo một thống kê, có tới gần 200.000 cử nhân , thạc sĩ không tìm được việc làm. Trước tình trạng mất cân đối trên, đã có một số nguyên nhân được đưa ra:

– Do việc học không đi đôi với hành, nên đa số sinh viên đã tốt nghiệp bị sốc trước các câu hỏi thực tế của nhà tuyển dụng.

– Cũng theo thống kê, cứ 10 sinh viên tốt nghiệp ra trường, có tới 6 người thiếu kỹ năng và tiếng Anh, 4 người thiếu kiến thức chuyên môn.

– Trong khi cứ 10 doanh nghiệp tuyển dụng, có 6 doanh nghiệp không hài lòng về chất lượng đào tạo ở bậc CĐ, ĐH.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s