Việt-Trung: ‘Láng giềng’ và ‘chủ nghĩa xã hội’ mới là cốt lõi

Posted: November 7, 2015 in Uncategorized
Tags: ,

(NV) – Phát biểu trước Quốc Hội Việt Nam, ông Tập Cận Bình, tổng bí thư kiêm chủ tịch Trung Quốc, không hề đả động đến Biển Đông mà chỉ nhấn mạnh hai bên là “láng giềng” và cùng là “chủ nghĩa xã hội.”

� Xem thêm: Chiến lược ‘thôn tính mềm’ của Tập Cận Bình + Thêm những “ vòng kim cô” sau chuyến thăm của ông Tập Cận Bình…


Chủ Tịch Tập Cận Bình phát biểu trước Quốc Hội Việt Nam.
(Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Theo tiết lộ của chủ nhiệm Văn Phòng Quốc Hội Việt Nam thì chính ông Tập Cận Bình, muốn nói chuyện với Quốc Hội Việt Nam khi đến thăm Việt Nam trong hai ngày 5 và 6 Tháng Mười Một. Cũng vì vậy, chính quyền Việt Nam đã sắp xếp để đáp ứng yêu cầu này của ông.

Về lý thuyết, Quốc Hội Việt Nam đại diện cho khoảng 90 triệu công dân Việt Nam. Vì thế, đề nghị nói chuyện với 493 đại biểu Quốc Hội của ông Tập Cận Bình giống như phát biểu với dân chúng Việt Nam.

Theo tường thuật của báo chí Việt Nam, sáng 6 Tháng Mười Một, tất cả đại biểu đã đứng dậy chào và vỗ tay hoan nghênh ông Tập Cận Bình, người từng vài lần khẳng định với cộng đồng quốc tế rằng: “Biển Đông là của Trung Quốc.”

Thậm chí, hồi trung tuần tháng trước, ông còn “chú thích” thêm rằng, từ xưa, các đảo và bãi đá ở Biển Đông vốn đã thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Đó là tài sản do tổ tiên của người Trung Hoa để lại. Cũng vì vậy, Trung Quốc sẽ không cho phép bất kỳ ai vi phạm chủ quyền, các quyền và lợi ích của Trung Quốc tại Biển Đông.

Lúc đầu, ông Tập báo với chính quyền Việt Nam rằng ông sẽ nói chuyện với Quốc Hội Việt Nam khoảng 10 phút. Tuy nhiên, trên thực tế, nhà lãnh đạo Trung Quốc phát biểu đến 20 phút, gấp đôi thời lượng dự kiến.

Trong 20 phút đó, ông liên tục lập đi lập lại rằng Việt Nam là “láng giềng” của Trung Quốc. Trước nay, nhiều người vẫn cho rằng, Việt Nam rõ ràng là thiếu may mắn khi có một “láng giềng” như Trung Quốc. Lịch sử Việt Nam cho thấy, Việt Nam luôn là nạn nhân đầu tiên và trực tiếp từ những tham vọng của Trung Quốc. Hiện nay, ngoài chính trị, kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc Trung Quốc.

Đó cũng là lý do ông Tập bày tỏ mong muốn Việt Nam là một “láng giềng tốt.” Thậm chí, ông còn ví von “anh em xa” không bằng “láng giềng gần.”

Ngoài việc nhấn mạnh yếu tố “láng giềng,” ông còn hứa hẹn rằng, “Trung Quốc kiên định ủng hộ Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội.”

Cho đến trước sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan 981 đến thăm dò và khai thác dầu khí tại quần đảo Hoàng Sa, các viên chức lãnh đạo đảng, quốc hội, chính phủ, thậm chí cả những viên chức quốc phòng như các ông Phùng Quang Thanh (bộ trưởng Quốc Phòng), Nguyễn Chí Vịnh (thứ trưởng Quốc Phòng), từng liên tục khẳng định, Việt Nam đã và sẽ kiên trì duy trì quan hệ hữu hảo với Trung Quốc vì hai bên “có cùng thể chế chính trị.” Thể chế chính trị này giúp đảng CSVN duy trì độc quyền lãnh đạo Việt Nam.

Ngoại trừ ông Nguyễn Sinh Hùng, chủ tịch Quốc Hội Việt Nam, bày tỏ sự biết ơn “sự giúp đỡ của đảng, chính phủ và nhân dân Trung Quốc trong hai cuộc kháng chiến cứu nước cũng như công cuộc xây dựng bảo vệ Việt Nam,” hy vọng “quan hệ hai bên tiếp tục phát triển đúng với tinh thần mà Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Chủ Tịch Mao Trạch Đông đã định hướng: Hòa bình – hữu nghị – hợp tác,” tất cả các đại biểu Quốc Hội Việt Nam đều im lặng!

Ngoài việc trò chuyện với Quốc Hội Việt Nam, ông Tập Cận Bình đã hội đàm với ba lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, như tổng bí thư, chủ tịch nước, và thủ tướng.

Cả ba nhân vật này đều đề nghị Trung Quốc không quân sự hóa Biển Đông, duy trì hòa bình trong khu vực.

Tuy nhiên, trong 20 phút trò chuyện với Quốc Hội Việt Nam, ông Tập Cận Bình không hề đả động đến Biển Đông. Nhân vật này chỉ bảo rằng, “láng giềng” đôi khi có thể có va chạm và cần kiên trì, đã “giải quyết được đại sự thì không khó để giải quyết tiểu sự!” (G.Đ.)

Chiến lược ‘thôn tính mềm’ của Tập Cận Bình

Ngô Nhân Dụng (NV) – Những người dân bị cướp đất, cướp ruộng từ Bình Thuận và Bến Tre cũng về Sài Gòn biểu tình trước lãnh sự quán Trung Cộng cùng với các sinh viên và trí thức tranh đấu.


Sài Gòn biểu tình ở Hồ Con Rùa, Ảnh: Bạch Cúc

Việc tham dự biểu tình chống Tập Cận Bình của các “dân oan” này có ý nghĩa đặc biệt. Phản đối đón tiếp Tập Cận Bình là do lòng yêu nước, bất bình vì cảnh chính quyền lệ thuộc Cộng Sản Trung Quốc. Ông Trần Bang, một bộ đội đã cầm súng chống đoàn quân xâm lược của Ðặng Tiểu Bình năm 1979 là một người tiêu biểu. Ông đã bị tay sai của chế độ côn đồ đánh vào đầu, đổ máu. Còn Dân Oan biểu tình vì phẫn uất trước một chính quyền tham lam, đã bòn rút, cướp bóc, hà hiếp dân lành mà họ là nạn nhân trực tiếp. Khi những nỗi bất bình chống ngoại xâm và những tấm lòng phẫn uất vị bị bóc lột kết hợp với nhau, sẽ tạo thành sức đẩy giúp vận mệnh nước Việt Nam phải thay đổi.

Bao giờ đất nước thay đổi? Khó biết trước được. Trước năm 1989 không ai đoán trước được ngày bức tường Berlin vỡ. Trước năm 2011 không ai ngờ có ngày dân Tunisie đứng lên phát động Mùa Xuân Á Rập. Vì tương lai diễn biến bất ngờ, chúng ta cần nhìn trước, nhìn xa, và nhìn vấn đề một cách khách quan, tỉnh táo.

Trước khi ông Tập Cận Bình đến Hà Nội nhiều người Việt đã hỏi nhau: Tập Cận Bình qua đây có ý đồ gì? Ông ta có duyệt phê danh sách trù bị cho đại hội đảng thứ 12 năm tới biểu quyết chấp nhận hay không? Những ai sẽ được ông ta chọn đưa vào danh sách đó? Nhiều người lại thắc mắc có phải ông Tập Cận Bình sang trấn an những phần tử thân Bắc Kinh vì vụ tàu chiến Mỹ Lassen đi tuần sát gần các đảo nhân tạo ở Biển Ðông khiến có đàn em chao đảo hay chăng?

Những câu hỏi trên có thể gây bàn cãi sôi nổi; nhưng không nêu đúng vấn đề. Ông Tập Cận Bình không cần tới Hà Nội phê duyệt danh sách nào cả. Cũng không phải lo phe thân Trung Cộng thoái trào. Mọi chuyện đó đã được các cấp dưới thu xếp cả rồi. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc nắm ảnh hưởng quyết định trên đảng Cộng Sản Việt Nam, nhưng họ không cần gửi một ông tổng bí thư qua tận Hà Nội mới nói ra và đạt được những điều họ muốn. Bang giao giữa Việt Nam, Mỹ và Trung Quốc là một diễn trình kéo dài nhiều năm, thể hiện trên nhiều mặt, cũng không cần các ông tổng bí thư qua lại để giải quyết từng vụ.

Ðảng Cộng Sản Trung Quốc muốn những gì, người Việt ai cũng biết. Chính quyền của các hoàng đế Trung Hoa từ các đời Hán, Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh và Trung Quốc Quốc Dân Ðảng, cho tới Trung Cộng bây giờ đều ước muốn: Nếu có thể, hãy biến Việt Nam thành một tỉnh của Trung Quốc, người Việt thành thần dân Trung Quốc. Nếu không làm nổi thì đặt chế độ bảo hộ trên một chính quyền chịu nghe lệnh các hoàng đế hay ông tổng bí thư Cộng Sản Trung Quốc.

Trung Cộng ảnh hưởng trên đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1950, trước khi tư tưởng Mao Trạch Ðông được ghi vào cương lĩnh của Ðảng Lao Ðộng, sau chủ nghĩa cách mạng của Marx và lý thuyết nhà nước chuyên chế của Lenin. Ngay sau đó, các cố vấn Tàu được gửi qua huấn luyện và chỉ đạo đảng và quân đội Việt Nam.

Ảnh hưởng của chính quyền Trung Cộng trên nước Việt Nam bắt nguồn từ mối quan hệ giữa hai đảng Cộng Sản. Có thời gian, năm 1990, đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội không thèm nói chuyện với Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch, mọi quyết định đi qua Ban Ðối Ngoại của hai đảng, như hồi ký của Trần Quang Cơ tiết lộ. Hội nghị Thành Ðô bắt đầu một thời kỳ lệ thuộc. Trung Cộng can thiệp vào việc sắp xếp nhân sự trong đảng và trong chính phủ Cộng Sản Việt Nam. Như ông Dương Danh Dy, nhà nghiên cứu Trung Quốc và cựu tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu đã trình bày, “Chấp nhận thỏa thuận Thành Ðô, Ðại hội VII ÐCSVN, họp từ ngày 17 tháng 6 đến 27 tháng 6, 1991, đã gạt đồng chí Nguyễn Cơ Thạch ra khỏi Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng, không để ông giữ bất kỳ chức vụ nào trong đảng và nhà nước.” Từ đó tới nay Trung Cộng tiếp tục đóng một vai trò quyết định trong thành phần lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam. Thành phần tiến bộ nhất trong guồng máy nhà nước là những nhân viên Bộ Ngoại Giao; vì họ có học thức cao hơn, lại thêm kinh nghiệm được mở mắt ở nước ngoài. Nhưng trong những lần đại hội đảng từ sau hội nghị Thành Ðô, những người làm Bộ Ngoại Giao dần dần bị loại hết ra khỏi Trung Ương Ðảng.

Ảnh hưởng quyết định của Trung Cộng thực hiện qua nhiều ngả, nhiều thủ đoạn. Như ông Trần Quang Cơ, cựu thứ trưởng Ngoại Giao vào thời gian hội nghị Thành Ðô, mới viết gần đây: “Họ tiến hành cái tôi tạm gọi là ‘thôn tính mềm,’ không gây ầm ĩ như cuộc chiến tranh chớp nhoáng tháng 2 năm 1979, mà dùng những thủ đoạn hiểm độc hơn nhiều: đó là vừa dùng sức mạnh quân sự để uy hiếp trắng trợn, vừa dùng tiền tài mua chuộc; vừa phá từ trong phá ra, vừa bao vây từ ngoài lấn vào.” Một cách cụ thể, ông mô tả: “Còn bên trong nước ta, họ dùng chiến thuật hiểm độc, chiến thuật ‘con mối,’ cứ lặng lẽ mà đục ruỗng nước ta bằng nhiều thủ đoạn, như mua chuộc và tha hóa cán bộ ta, … rồi cuối cùng thì nuốt chửng, mà ta lúc này (như trên đã nói) với tệ tham nhũng hoành hành khắp nơi – không loại trừ có bàn tay của Trung Quốc – đã như một khúc gỗ mục.”

Trong phần “phá từ trong phá ra,” Cộng Sản Trung Quốc nuôi dưỡng và ràng buộc, “mua chuộc và tha hóa” một số người Việt đóng vai ngăn chặn mọi ý kiến muốn thoát khỏi ảnh hưởng phương Bắc, không khác gì bọn côn đồ đánh chảy máu đầu ông Trần Bang trong cuộc biểu tình. Như ông Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc Phòng, đã mở miệng than rằng người Việt Nam mà lại chống Trung Cộng thì nguy cho nước Việt! Không hiểu ông này đứng về phía Trần Hưng Ðạo, Quang Trung hay muốn noi gương Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống?

Thủ đoạn “dùng tiền tài mua chuộc” để biến nước ta thành “như một khúc gỗ mục” thì nhiều không kể hết. Các công ty Trung Quốc trúng thầu hầu hết các công trình xây dựng không phải vì họ giỏi nhất hoặc chi phí ít tốn kém nhất. Hàng lậu, hàng giả, và hàng kém phẩm chất luồn qua các cửa biên giới, tràn ngập khắp nơi, giết công nghiệp nội hóa của người Việt từ trong trứng nước. Hàng ngàn công nhân Trung Quốc đang thành lập các thị trấn Trung Quốc nho nhỏ, làm những việc mà công nhân Việt Nam dư sức làm. Con của một ông bộ trưởng Giao Thông Vận Tải đã được một công ty Trung Quốc phong chức phó tổng giám đốc của công ty ở bên Tàu mà không cần phải làm gì cả, chỉ lâu lâu qua Bắc Kinh, Thượng Hải ăn chơi. Với những thủ đoạn đó, guồng máy đặc vụ tình báo của Trung Cộng đã được gài khắp nơi, với đám tay sai “đồng chí anh em” đã được nuôi nấng nhiều năm. Ðúng là những con mối, chúng từ từ đục ruỗng rường, cột ngôi nhà Việt Nam. Ðám mối này làm việc ngay đêm, không ngồi chờ có chuyện gì rồi mới phản ứng. Chắc chắn Cộng Sản Trung Quốc không cần gửi một ông tổng bí thư đích thân qua Hà Nội lo việc xếp đặt nhân sự và khích lệ đám mối này.

Với một mạng lưới sâu và rộng để gây ảnh hưởng trên nước Việt Nam về mọi mặt, Trung Cộng cũng không phải lo ngại trước những sự kiện đối ngoại như Việt Nam gia tăng giao thiệp với Mỹ, như khi gia nhập tổ chức Mậu Dịch Liên Thái Bình Dương (TPP). Bởi vì Việt Nam không phải là một vấn đề quan trọng nhất trong thế tương quan giữa Mỹ với Trung Cộng ở vùng Ðông Nam Á, như người mình hay nghĩ. Chính quyền Mỹ nào cũng chỉ lo bảo vệ quyền lợi của nước Mỹ chứ không yêu hay ghét một quốc gia nào cả. Trong các cuộc mặc cả với nhau các nước đều có thể tùy cơ ứng biến, trao đổi lợi lộc, ai trả giá cao hơn thì mua được, ai có món hàng tốt thì bán được.

Chính sách của chính phủ Mỹ về các vấn đề ở Biển Ðông họ đã nói rõ ràng. Nước Mỹ không có ý kiến về chuyện nước nào làm chủ những hòn đảo nào; họ không can dự vào các vụ tranh chấp và kiện tụng. Chính sách này được áp dụng từ năm 1974 khi hải quân Mỹ không can thiệp giúp hải quân Việt Nam Cộng hòa đang bị Trung Cộng đánh để chiếm Hoàng Sa. Từ năm 1968 chính phủ Nixon đã chủ trương rút khỏi Việt Nam, chấp nhận miền Nam sẽ bị quân miền Bắc chiếm sau khi Mỹ cắt viện trợ. Vì vậy, đối với chính quyền Mỹ vào năm 1974, quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền nước cộng sản Trung Hoa hay thuộc nước cộng sản Việt Nam thì cũng như nhau. Cuộc tranh chấp đó không đáng để lôi kéo nước Mỹ vào một cuộc chạm súng trên biển với Trung Cộng. Việc chiến hạm Lassen đi tuần sát cạnh các hòn đảo nhân tạo Trung Cộng mới đắp, cũng như việc bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ mời bộ trưởng Quốc Phòng Malaysia cùng lên mẫu hạm Mỹ đi dạo trong vùng Biển Ðông, không phải nhắm khiêu khích. Họ chỉ muốn gửi một thông điệp tới Trung Cộng và các nước chung quanh biết rằng chính phủ Mỹ nhất định bảo vệ một quy tắc trong luật pháp quốc tế: Các hòn đảo nhân tạo không có giá trị xác định chủ quyền. Và xác định rằng Mỹ nhất định bảo vệ quyền tự do hàng hải trong vùng này. Chính phủ Mỹ hành động vì chủ ý của họ như thế, không phải vì họ nghĩ tới quyền lợi của nước Việt Nam.


Biển Đông như “cán đuốc” (Bản đồ Trung Quốc chiếu trên TV Trung Quốc) Ảnh: Viet-studies

Trong các vấn đề Biển Ðông, Ðảng Cộng Sản Trung Quốc muốn gì? Ai cũng đồng ý với ông Trần Quang Cơ, ông viết: “Hướng bành trướng của Trung Quốc là xuống phía Nam, mà Việt Nam lại là chướng ngại vật lớn cản trở tham vọng bành trướng đó nên Trung Quốc đang có kế hoạch thôn tính Việt Nam bằng mọi thủ đoạn… Tham vọng của Trung Quốc là làm chủ cả Biển Ðông. Muốn thế trước hết phải uy hiếp và khống chế Việt Nam là nước có bờ biển thông ra Biển Ðông dài nhất.”

Kế hoạch “làm chủ cả Biển Ðông” kể trên sẽ được thực hiện không phải trong một nhiệm kỳ tổng bí thư của Trung Cộng, cũng không phải trong một thế hệ, mà sẽ kéo dài rất lâu. Từ đời nhà Nguyên, nhà Minh, các hoàng đế Trung Hoa đã bắt đầu kế hoạch này. Trong tình trạng hiện nay, Trung Cộng có thể giữ “nguyên trạng” trong một thời gian rất lâu để khỏi đụng chạm quyền lợi của Mỹ trong vùng này. Trong khi đó họ tiếp tục ép những người cầm quyền ở nước ta chỉ thảo luận “song phương” với các châm ngôn “bốn tốt” và “16 chữ vàng.” Cấm không được đưa các vấn đề tranh chấp giữa hai nước ra trước cả thế giới! Họ cũng tiếp tục mua chuộc một số nước trong khối ASEAN để không bao giờ đồng ý coi các vấn đề ở Biển Ðông là vấn đề chung. Cứ như thế, nước Việt Nam sẽ bị cô lập không những đối với thế giới mà cả ngay trong vùng Ðông Nam Á.

Trong vùng biển Ðông Nam Á, mà Trung Cộng đã xác nhận là “quyền lợi cốt lõi” (quốc gia hạch tâm lợi ích, 国家核心利益) chướng ngại lớn nhất cho chính sách bá quyền của Trung Cộng là một nước Việt Nam giầu mạnh, với một chính quyền Việt Nam đặt quyền lợi quốc gia trên quyền lợi cá nhân và phe đảng.

Nếu Bắc Kinh giữ nguyên được tình trạng một nước Việt Nam yếu kém về kinh tế, với một chính quyền tiếp tục lệ thuộc vào Trung Cộng thì họ không phải lo đối phó với nước Mỹ hay bất cứ một quốc gia nào khác trong cuộc cạnh tranh trên Biển Ðông. Với đường lối “giữ nguyên trạng” này, Trung Cộng tiếp tục đàm phán “song phương” với Việt Cộng và các nước khác sẽ không có lý do nào để phản đối tình “đồng chí anh em” giữa hai đảng Cộng Sản! Tình trạng này càng kéo dài càng thuận tiện cho họ. Lâu lâu họ lại lấn thêm mộ bước, từng bước một. Trong thời gian đó, các con mối vẫn tiếp tục “lặng lẽ mà đục ruỗng nước ta” như ông Trần Quang Cơ đã báo động.

Khi nào nước Việt Nam còn nghèo nàn, lạc hậu, chính quyền Việt Nam còn bị thao túng và lũng đoạn, thì Bắc Kinh chỉ cần kiên trì thi hành chính sách “giữ nguyên trạng” của họ. Cứ như thế, nắm chắc chính quyền Việt Nam trong tay rồi, dần dần họ sẽ thành bá chủ vùng Ðông Nam Á; như ước mơ của Minh Thành Tổ và Mao Trạch Ðông.

Vậy phải làm gì để đối phó với âm mưu bành trướng của Trung Cộng? Nước Việt Nam phải phát triển kinh tế. Muốn vậy, phải thiết lập một guồng máy cai trị có khả năng, trong sạch, đáp ứng những nguyện vọng của dân, đặt quyền lợi Tổ quốc trên quyền lợi phe đảng. Nghĩa là thiết lập một chế độ dân chủ tự do. Những đồng bào dân oan từ Bình Thuận và Bến Tre về Sài Gòn biểu tình chống Tập Cận Bình thể hiện cả hai nguyện vọng. Dân Việt quyết tâm chống lệ thuộc Trung Cộng. Dân Việt đòi phải thay đổi thể chế chính trị để chấm dứt tham nhũng, bất công; cho kinh tế có cơ hội phát triển. Chỉ khi nào nước ta dân chủ hóa để phát triển kinh tế rồi thì mới bảo vệ được độc lập và tự do.

[:-/] Đại Nguy cho Dân Việt: Thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam – Bộ Công an Trung Quốc (CAND) – Chiều 6/11, tại Hà Nội, Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam tiếp đồng chí Lý Vỹ, Thứ trưởng Bộ Công an Trung Quốc.


Bộ trưởng Trần Đại Quang cùng Thứ trưởng Bộ Công an Trung Quốc Lý Vỹ.

Phát biểu tại buổi tiếp, Bộ trưởng Trần Đại Quang bày tỏ vui mừng gặp lại Thứ trưởng Bộ Công an Trung Quốc Lý Vỹ nhân dịp chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Công an Trung Quốc Lý Vỹ chân thành cảm ơn Bộ trưởng Trần Đại Quang đã dành thời gian tiếp; bày tỏ vui mừng thời gian qua quan hệ hợp tác giữa Bộ Công an Trung Quốc – Bộ Công an Việt Nam không ngừng mở rộng, phát triển, đạt được nhiều kết quả thiết thực trên các lĩnh vực hợp tác.

Thêm những “ vòng kim cô” sau chuyến thăm của ông Tập Cận Bình…

Nhà văn Phạm Viết Đào – Chuyến thăm Việt Nam kỳ này của Đoàn Trung Quốc chỉ vẻn vẹn hai ngày, ngày 5 và 6/11/2015 nhưng đã để lại bao dư âm và bao chuyện thế sự đáng luận bàn.

Trên bàn nghị sự, chúng ta luôn thấy ông Tập Cận Bình cập kè tả-hữu 2 quân sư ghê gớm: Lật Chiến Thư bên hữu và Vương Hộ Ninh bên tả -( P.V.Đ sẽ có bài riêng đối thoại và đối chất với ” quốc sư” 3 triều Trung Quốc Vương Hộ Ninh) ; Còn những Vương Nghị, Dương Khiết Trì, Hứa Kỳ Lượng… thì ngồi cánh gà, lẩn khuất xa xa…


Vừa hợp tác, vừa giả đò đấu tranh Hi Hi Hi…

Người ta thấy không chỉ trên văn bản mà đích thân từ miệng của ông Tập Cận Bình nhiều lần nói ra: 2 nước phải: “cầu đồng tồn dị”…; người viết bài này không thông thạo Hán văn lắm nhưng trong tiếng Hán, chữ “cầu” chắc cùng tương nghĩa với chữ “cầu” trong tiếng Việt; Họ lập lờ sử dụng cái vốn tiếng Hán thâm thúy này để che đậy những “khẩu dụ” mang tính định hướng, sắp đặt ngôi thứ cho Việt Nam; Đại sứ Trung Quốc Hồng Tiểu Dũng trước chuyến thăm chẳng đã phát biểu với báo chí là Trung Quốc sang sẽ định hướng quan hệ; Mới là ông ‘Tiểu” mặt còn búng ra sữa mà đã ngang ngược tuyên bố là sẽ định hướng phát triển cho một quốc gia gần 100 triệu dân vậy thì ông “Đại” sẽ thế nào đây; quả là khó lường; lời của các chính trị gia Việt Nam thốt ra với báo chí…Đúng là “ uốn lưỡi cú diều để sỉ mắng triều đình, đam thân dê chó mà bắt nạt tể phụ…”

Chữ “cầu’ thường là lời lẽ, ứng xử của kẻ yếu thế, kẻ phận dưới, chiếu dưới, nếu có cái gì không vừa lòng, thấy bị thua thiệt, còn “ tồn dị” thì chỉ còn phương thức là “ cầu đồng” cầu cùng mới mong giải cho phần nào vài trăm triệu USD gì đó; chứ các chú không thể đứng ngang hàng cùng phân chia lợi ích sòng phẳng, bình đẳng với “ đại ca” được đâu…

Đây là câu vừa cửa miệng, vừa có cả trong tuyên bố chung này mang tính định hướng ngôi thứ trong quan hệ Trung-Việt; Sự phân chia này đã khiến cho người viết bài này nhớ lại mối quan hệ ngôi thứ ở chốn giang hồ mà đã có lúc được nếm trải , (trong thời gian 15 tháng ở tù); Ngay những bước chân vào nhà tù, kẻ bỉ nhân này đã được các anh chị của chốn giang hồ dạy bảo, thuật ngữ trong tù gọi là “ học luật”: ở ngoài đời tuổi ông có thể là cha chú chúng tôi, địa vị xã hội của ông thế nào chúng tôi không cần biết; khi đã vào đây thì ông là một thằng tù, thằng tù sau phải gọi thằng từ trước là đại ca, huynh, xưng em và tiểu đệ…rõ chưa; ông trải đời rồi thì liệu đường mà khu xử: “ngoan thì cái gì cũng có, ngoan quá thì không có gì “ ?!

Tóm lại có thể diễn nôm cái câu: cầu đồng tồn dị mà ông Tập nói là một định hướng cho Việt Nam là phải ngoan với Trung Quốc: vừa là đồng chí, vừa là anh em, lại là láng giềng gần; cái gì chưa vừa ý thì phải bỏ tiền ra mà mua, mà chạy, mà cúng, mà cầu mà “ cầu đồng”, “phải kiểm soát tốt bất đồng”; không được phép đứng ra tranh dành hơn thua với đại ca, với bề trên, với thiên triều…

Với “bàn tay lông lá” bọc lụa gấm Tứ Xuyên, đoàn Trung Quốc do ông Tập cầm đầu đã vẫn tỏ ra cái “cơ địa” của kẻ đại bá, thiên triều, “đặt vòng”  cho nhiều quan hệ Việt-Trung trong đó đáng chủ ý nhất, nguy hiểm nhất đó là:

1/Củng cố tin cậy chính trị ?

Trước đến nay các “chú” Việt Nam đã tin “ông anh” thiên triều Trung Quốc thì tiếp tục củng cố cái sự tin cậy; tức Việt nam tiếp tục bị bịp, củng cố cái sự bị bịp bợm ấy của Trung Quốc…

“Củng cố tin cậy chính trị” tưởng là một phạm trù rất mơ hồ, mông lung về phương diện pháp lý, nó mông lung như một cái vòng kim cô mà Tôn ngộ không phải cam chịu…

Khi nhận xét về một con người, một tổ chức, hay một quốc gia người ta thường đề cập tới thái độ chính trị của con người đó, tổ chức đó hay quốc gia đó…

Về cá nhân thì thái độ chính trị được hình thành bởi: thành phần xuất thân, tôn giáo, đảng phải, sắc tộc;

Về tổ chức thì thái độ chính trị được hình thành bởi thuộc nhóm đảng phái nào ?

Còn một quốc gia thì thái độ chính trị là thể chế chính trị của nước đó…

Việt Nam và Trung Quốc là 2 quốc gia được thế chế mô hình xã hội chủ nghĩa, đặt dưới quyền lãnh đạo của một đảng duy nhất là đảng cộng sản ?

Vậy tăng cường tin cậy chính trị phải chăng là tăng cường củng cố những chính sách mà hai bên đã thỏa thuân với nhau; Tạo niềm tin và thực hiện nhất quán các thỏa thuận đã đạt được giữa lãnh đạo 2 đảng; tức 2 bên tiếp tục tôn trọng nhau, trung thành với nhau trong các quan hệ đối tác..

Hay vấn đề “Củng cố tin cậy chính trị” được TBT Nguyễn Phú Trọng diễn giải đơn sơ trong phần “một là” khí phát biểu với ông Tập Cận Bình trogn buổi hội đàm:” duy trì tiếp xúc cấp cao, tăng cường tin cậy chính trị; thúc đẩy hiệu quả các cơ chế hợp tác và tăng cường giao lưu hữu nghị nhân dân. Hai bên cần thường xuyên duy trì các chuyến thăm, gặp gỡ, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước với nhiều hình thức linh hoạt để trao đổi tình hình và các biện pháp thúc đẩy hợp tác, tìm biện pháp giải quyết các vấn đề tồn tại và nảy sinh; triển khai hiệu quả các chương trình, cơ chế giao lưu, hợp tác đã thỏa thuận giữa hai Đảng, hai nước; đẩy mạnh hơn nữa giao lưu, hợp tác giữa cơ quan Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc hai nước; phát huy vai trò của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc trong điều phối, thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác giữa hai bên; tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực quan trọng như ngoại giao, quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh các hoạt động giao lưu nhân dân, nhất là giữa thế hệ trẻ, nhân sỹ và trí thức hai nước, phối hợp tổ chức tốt Liên hoan thanh niên Việt-Trung vào năm 2016, tăng cường tuyên truyền về tình hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước…”

Trong lịch sử quan hệ giữa 2 nước, nhiều chính sách, chủ trương có vẻ hai bên đồng thuận nhất trí, đẹp mã… nhưng lại không hiệu quả và không đáng tin cậy? Đường sắt Cát Linh-Hà Đông ký tá với nhau, đấu thầu với nhau rồi thì ì ạch ra đấy, chây ra đấy và cuối cùng thì đội giá lên gần gấp đôi; chưa biết sau này vận hành chạy có xảy ra tai nạn không, có thường xuyên trục trặc không; xem hồi sau mới rõ ?

Nhiều vấn đề lịch sử đã ghi nhận là phía Trung Quốc đã có nhiều hành vi, chính sách khiến cho một người dân Việt bình thường cũng mất lòng tin chứ đứng về phương diện quốc gia, nhà nước. Qua nhiều tư liệu cho thấy: Trung Quốc quả có giúp Việt Nam khí tài vật lực trong chiến tranh chống Pháp để dành lại độc lập; Sự giúp đỡ này có vô tư trong sáng, tin cậy về chính trị không ? Khi mà phía Trung Quốc sau chiến thắng Điện Biên Phủ đã ép Việt Nam ký văn bản hiệp định Genever về Việt Nam phải chịu thua thiệt; việc phân chia biên giới 2 miền ở vĩ tuyến 17 là do Trung Quốc áp đặt ?

Hay khi Mỹ mở rộng chiến tranh tại Việt Nam, một mặt Trung Quốc tuyên bố: 800 trăm triệu nhân dân Trung Quốc là hậu phương lớn của nhân dân Việt Nam; Trung Quốc đã cho dân xuống đường biểu tình phản đối Mỹ, nhưng mặt khác lại tuyên bố một câu đầy ẩn ý: Mi không đụng đến ta thì ta không đụng đến mi ? Ngầm bật đèn xanh cho Mỹ muốn đánh Việt Nam kiểu gì thì đánh miễn đừng động tới Trung Quốc…Còn Trung Quốc thì đánh Mỹ đến người Việt nam cuối cùng.

Vào cuối cuộc chiến Việt-Mỹ, Mỹ đã tỏ dấu hiệu xuống thang, muốn rút ra khỏi cuộc chiến, rút quân về nước; Đây là thời điểm Việt Nam đang dồn sức để quyết chiến, tung ra những cú đánh chiến lược, dứt điểm với Mỹ thì Trung Quốc tìm cách bắt tay với Mỹ và 2 bên đã ký Thông cáo Thượng Hải, một “gáo nước đá” dội vào cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam ở vào thời khắc quyết định ?

Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam là 2 nước làng giềng, vẫn thường thông báo là có truyền thông hữu nghị, thế nhưng chính Trung Quốc lại bật đèn xanh cho Paul Pot gây ra cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam; Đây là cái cớ Trung Quốc đẩy Việt nam vào thế bị cô lập với thế giới do việc tự vệ, bảo vệ mình đã đưa quân đội truy kích tàn quân Khmer đỏ sang tận Cămpuchia… Quan hệ chính trị hai nước đẹp đẽ thế đấy ?!

Trung Quốc có truyền thống đưa quân xâm lược, chiếm đất Việt Nam; Trung Quốc cận đại đã nhiều lần có những chính sách tráo trở, lật lọng với Việt Nam; làm sao người Việt Nam tin được Trung Quốc; Vậy thì củng cố tin cậy chính trị là củng cố cái gì? Khi nói củng cố tức làm chắc kiên cố hơn cái đã có; Trong quá khứ cái mà Trung Quốc để lại niềm tin cho dân tộc Việt là rất ít và mất lòng tin nghi ngờ là nhiều ? Vậy thì bây giờ tiếp tục hô nhau củng cố cái không có hay cái mà Trung Quốc đã gây “hiệu quả âm” cho Việt Nam chăng ? “ Âm” nhân với “ “âm” thành “ dương chăng ?

Phần lớn cư dân bắc Việt Nam đều là dân Bách Việt bị chính quyền Trung Ương Trung Quốc và các bậc trưởng thượng, đàn anh xua đuổi khỏi Trung Quốc mà sang Việt Nam kiếm kế sinh nhai; Sự căm hận chính quyền phương bắc có trong máu người Việt này giống như sự căm hận của những đứa con vị thành niên, vì một hư hỗn nhất thời nào đó mà bị bố mẹ đuổi ra khỏi nhà; nó sẽ mang theo mối hận truyền kiếp với ông bố, bà mẹ thất đức, thất đức, thất nhân tâm…Điều này giải thích được nhiều triều đại phong kiến Việt Nam huy động được sức dân đứng lên chống lại ách nô dịch của chính quyền phương bắc

Quan hệ 2 nước trong quá khứ đã có nhiều chuyện nhem nhuốc, lởm khởm do chính quyền trung ương Trung Quốc không ứng xử như một nước lớn, đàn anh mà ứng xử như một đại ca, một kẻ bá quyền vậy thì nếu đặt vấn đề ra là “ củng cố tin cậy chính trị” chỉ là khẩu hiệu ngoại giao, lừa mỵ những người vô sư, vô sách, nhẹ dạ, ngu tín, bịp bợm…

Người dân có mù tịt thông tin đâu mà các vị giờ hô các cơ quan chức năng, dân củng cố tin cậy chính trị ?

Trung Quốc vẫn có truyền thống trong quan hệ với Việt Nam nói một đường làm một nẻo: miệng nói quân tử tay hành xử như tiều nhân vậy thì tin cậy chính trị cái nỗi gì mà củng với cố …

Giải pháp củng cố tin cậy theo phương thức tăng cường hợp tác trên các kênh Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và giữa các bộ, ngành, địa phương của hai nước; rồi thì tăng cường đào tạo cán bộ đảng…“ Kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2016-2020,” là những cái bẫy do Trung Quốc cài độ, mua chuộc, lôi kéo một số người cam tâm phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc, bán rẻ đất nước để vinh thân, phí gia…

Vừa phỉnh nịnh, vừa ru, vừa phủ dụ và…kèm đe nạt ẩn sau những ngôn từ ngoại giao, văn nghệ dân dã trong các lời phát biểu của ông Tập Cận Bình ngay tại diễn đàn Quốc hội…

Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay kế cả những kẻ mù, người đui, những bà bán hàng xén ngoài chợ cũng biết thừa là chơi với Trung Quốc, xài hàng Trung Quốc là hàng lởm, hàng độc hại, là thứ không ra gì nhưng rồi hàng Trung Quốc vẫn cứ tràn ngập lãnh thổ, người ta biết thừa tiếp tay, nhập siêu hàng hóa Trung Quốc giúp hàng Trung Quốc trà trộn, đội nhãn mác Việt là tự giết hàng mình, nền sản xuất nội địa, dân tộc mình thế mà người ta vẫn tham gia cái việc đào huyệt dưới chân mình?

Hè nhau “củng cố tin cậy chính trị” ? Có gì đáng tin đâu? Thế thì tại sao người ta vẫn chưng cái biển hiệu, cái thương hiệu rởm này lên.

Mai đây chắc lịch sử rồi sẽ phải tốn giấy mực lắm đây, phải cần nhiều Tư Mã Thiên ghi chép, mổ xẻ cái giai đoạn lịch sử bi phẫn này ?!

2“ Cùng nhau kiểm soát tốt bất đồng trên biển…”

Nguyên văn trong Tuyên bố chung:” Hai bên nhất trí cùng nhau kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ và có hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), thúc đẩy sớm đạt được “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC)…

Đây là một cái bẫy, cái “vòng kim cô” ác hiểm do Trung Quốc phát minh, sáng chế, cài đặt và vận hành nó!

Trong 2015, có 2 tuyên bố chung của lãnh đạo cấp cao nhất Trung Việt; đọc cả 2 bản Tuyên bố chung này khi đề cập vấn đền Biển Đông, đều lẩn tránh, không đưa được cơ sở pháp lý Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển 1982 ( UNCLOS), chắc Trung Quốc tìm cách gạt ra và Việt Nam không cầu xin đưa vào được mà chỉ đưa ra DOC, là thứ tuyên bố không ràng buộc pháp lý còn Bộ quy tắc ứng xử ( COC), một thứ “ lệ làng” thì chưa hình thành…

Theo dõi các cuộc hội đàm, hội kiến, chỉ thấy ông Trương Tấn Sang có nhắc tới Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển 1982, còn các vị khác chỉ nhắc tới DOC là hết bài ?

Chuyện tranh chấp trên Biển Đông thì thực chất chỉ Việt Nam bất đồng với Trung Quốc chứ Việt Nam có xâm phạm lãnh hải của Trung Quốc đâu mà Trung Quốc bất đồng? Cái vùng lãnh hải trong vùng lưỡi bò trong đó đến 80 % lãnh hải Biển Đông nếu căn cứ vào chứng cứ lịch sử và Công ước về Luật Biển 1982 thì Trung Quốc chẳng có chủ quyền gì trong đó cả…

Hai bên kiểm soát tốt bất đồng thực chất là cái vòng kim cô buộc Việt Nam phải nín nhịn để mặc, làm ngơ cho Trung Quốc lấn lướt…Giả sử, cứ cho cái vùng lãnh hải trong “vùng lưỡi bò” là tham vọng có cơ sở cần được xem xét của Trung Quốc đi; vậy thì theo tinh thần “ cùng kiểm soát tốt bất đồng” Trung Quốc phải gặp gỡ, bàn thảo với các quốc gia trong khu vực; Trung Quốc không được tùy tiện hút cát đá lên xây thành đảo, dựng hải đăng lên xý phần; Thế nhưng Trung Quốc vẫn cứ làm bừa đi, vẫn cho tàu thuyền ra húc tàu cá Việt Nam, họ đâu có chịu kiểm soát…

Thế nhưng nếu Việt Nam có lên tiếng hay có động thái gì không chịu nín nhịn thì lập tức sẽ đưa cái “vòng kim cô”-“ Cùng nhau kiểm soát tốt bất đồng trên biển…” ra “ niệm chú” để khóa mồm, tay chân Việt Nam: làm thế là trái, vi phạm với thỏa thuận cấp cao rồi đấy nhé; Việt Nam phải dẹp biểu tình đi, phải bỏ tù những ai lên tiếng phản đối Trung Quốc ! Trung Quốc sẽ đối xử hậu hĩnh với những ai sang học trường đảng Trung Quốc…

Truyền thồng hữu nghị giữa các tầng lớp nhân dân với nhau là có thật: nhân dân VN kính trọng và yêu mến nhân dân Trung Quốc, yêu mến những giá trị văn hóa Trung Quốc; còn nhân dân 2 nước Việt Nam-Trung Quốc đều là nạn nhân của các thế chế cường bạo, lươn leo, bịp bợm của kẻ đang kinh doang cái sự tịn cậy chính trị của chính quyền;

Một nhà văn từng có mặt tại chiến trường Vị Xuyên Hà Giang trong giai đoạn ác liệt đã kể với người viết bài này một câu chuyện mà lịch sử nhất thiết mai đây phải ghi lại chuyện này; Trong cuộc chiến Viêt-Trung ở Vị Xuyên-Hà Giang giai đoạn 1980-1988, vào giai đoạn cuối cuộc chiến, đã xảy ra một sự thỏa thuận ngoại giao nhân dân của những người lính giữa 2 chiến tuyến ở Cao điểm 685 ở Thanh Thủy, Vị Xuyên; Đây là nơi mà hồi đó lính Hà Giang mệnh danh là “Lò vôi thế kỷ”; những ngọn núi đá vôi, tai mèo ở đây đã bị đạn pháo đôi bên dập cho tơi tả thành vôi bột ?!…

Những người lính của 2 bên thỏa thuận với nhau thôi không bắn nhau nữa; không đánh nhau nữa vì họ nhận thức ra cuộc chiến này chẳng liên quan gì tới họ; đêm đêm những người lính của 2 bên hẹn gặp nhau nhảy múa và trao đổi nhu yếu phẩm cho nhau vì họ thấy họ phải bằn giết nhau vì lợi ích của giới cầm quyền Trung Quốc…

Sự thỏa thuận tẩy chay cuộc chiến khởi đầu từ đội quân hậu cần; quy ước là áo để ngoài quần, giống như chữ thập đỏ và  quân 2 bên không bắn vào lực lượng tiếp tế của nhau…Sau đây lan rộng ra…

Thông tin này đã đến Tổng Cục chính trị của Bộ Quốc phòng VN; phía Việt Nam đã bố trí một sĩ quan cao cấp mang máy quay phim lên để kiếm chứng thông tin, bí mật chứng kiến, ghi lại và sau đó 2 bên đi đến quyết định đi tới thỏa thuận ngừng bắn ở cấp cao…

Người dân Việt Nam và Trung Quốc hoàn toàn không thù hằn gì với nhau; Qua cuộc chiến ở Vị Xuyên-Hà Giang tôi nghiệm thấy rằng: trình độ dân chúng của 2 nước Việt-Trung thời nay không còn ngu trung như thời Tần Thủy Hoàng, Lưu Bang, Chu Nguyên Chương, Lê mạt…để chính quyền Bắc Kinh muốn làm gì thì làm; Vấn đề ở đây là lịch sử phương đông, cái phương thức sản xuất châu Á ấy muôn đời nay vẫn trễ nải, lười nhác, chậm trễ…Ai đó đã tìm ra một câu đồng dao tài tình nói về đặc tính của đám quan chức Hà Nội: Hà Nội không vội được đâu…

Việt Nam có dãy dụa thoát ra khỏi những cái vòng kim cô ác hiểm này không ?

Tôi tin vào tình hữu nghị của 2 dân tộc Việt-Trung đời đời bền vững là có thật và đúng là trong sáng; Tôi không đặt niềm tin vào chính quyền của ông Tập Cận Bình: thường đó là nơi ẩn chứa chấp những quan hệ “ băng đảng”…

Xem thêm những bài của P.V.Đ về quan hệ Việt-Trung:

* Trung Quốc dùng mẹo ” gặt trộm lúa” thời Đông Chu để lấn chiếm Biển Đông ?
* Hội thảo: Lịch sử chủ quyền Biển-Đảo Việt Nam được tổ chức trên nền Điện Kính Thiên
* Thử bàn về đối tác tác chiến lược của quân đội Việt Nam…
* Ông Trọng và những ‘hố bẫy’ do TQ cài 
* ‘Sói đói’ đặt chân vào nhà ‘dê con’
* Ý kiến: ‘Từ Tam Quốc tới Biển Đông’;

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s