Lao động Việt Nam trước nguy cơ thất nghiệp khi tham gia TPP

Posted: November 10, 2015 in Uncategorized
Tags: ,

PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng (VnExpress) – Lực lượng lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp, sức ép cạnh tranh có thể khiến nhiều doanh nghiệp phá sản… là những rủi ro về việc làm tại Việt Nam khi tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương.

� Xem thêm: Vào TPP, vui một nửa! + 17 ảnh hưởng của TPP tới thị trường sản phẩm nông nghiệp Việt Nam.


Tham gia Hiệp định TPP đòi hỏi lực lượng lao động phải có tay nghề kỹ thuật cao.

Lao động và việc làm là một trong những vấn đề nóng khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Hiệu trưởng Đại học Kinh tế – Luật (Đại học quốc gia TP HCM), đây là thách thức lớn với kinh tế Việt Nam

Khi TPP có hiệu lực, cơ hội tiếp cận của hàng hóa có xuất xứ Việt Nam đứng trước cơ hội tiếp cận các thị trường Mỹ, Nhật Bản, Canada… với thuế nhập khẩu bằng 0%. Kết hợp với các cam kết rõ ràng hơn về cải thiện môi trường đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, TPP sẽ góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nhất là từ các tập đoàn lớn.

Nếu biết tận dụng thời cơ này, Việt Nam sẽ hưởng lợi từ làn sóng đầu tư mới, tạo ra nhiều công ăn việc làm, hình thành năng lực sản xuất mới để tận dụng các cơ hội xuất khẩu và tham gia các chuỗi giá trị trong khu vực và toàn cầu.

TPP cũng tạo cơ hội cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, mở rộng sản xuất, kinh doanh, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, trong đó tập trung vào các ngành, lĩnh vực như: may mặc, giầy da, thủy hải sản, lắp ráp thiết bị điện tử …

Trong xu thế hội nhập và chiều hướng phát triển hiện nay, khi gia nhập TPP, với tầm nhìn lâu dài và tổng thể, tiền lương và thu nhập của người lao động có xu hướng được cải thiện tốt hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên cũng có không ít thách thức. Trong số các hiệp định thương mại tự do, TPP có chứa đựng nhiều nội dung không trực tiếp, nhưng có liên quan đến thương mại như quyền của người lao động, các tổ chức xã hội, tiêu chuẩn lao động, tự do thành lập và hoạt động của hiệp hội – công đoàn …

Đây là hiệp định đòi hỏi các quốc gia khi tham gia phải có những điều chỉnh chính sách phù hợp, đặc biệt là sửa đổi hệ thống pháp luật lao động – công đoàn trong nước. Những yêu cầu này về cơ bản, có điểm hiện chưa hoàn toàn phù hợp với thực trạng ở Việt Nam.

Thứ nhất là vấn đề việc làm và thu nhập của người lao động. Bên cạnh những tác động tích cực thì vấn đề tự do hóa thương mại của TPP cũng sẽ làm cho một bộ phận lao động mất việc do các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh, dẫn đến phải thu hẹp sản xuất thậm chí giải thể, phá sản. Vì vậy, trước mắt khi tham gia TPP, lao động Việt Nam có thể phải chịu những bất lợi sau đây.

Đầu tiên là cùng với mở cửa thị trường, hàng hóa của các nước đặc biệt là hàng tiêu dùng sẽ nhập khẩu vào Việt Nam với số lượng ngày càng lớn và đa dạng. Hàng nhập khẩu với nhiều ưu thế về chất lượng, giá cả và tâm lý thích dùng hàng ngoại của người Việt sẽ rất dễ chiếm lĩnh thị trường. Tình trạng này khiến doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn, phải thực hiện tái cơ cấu, sắp xếp lại, thu hẹp sản xuất, phá sản dẫn đến lao động trong các doanh nghiệp đó bị mất việc làm.

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tham gia TPP sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ di chuyển lao động từ nông thôn tới thành phố và các khu công nghiệp. Sức ép về việc làm ở các khu đô thị sẽ tăng lên. Vấn đề mất cân bằng giữa cung và cầu lao động có nguy cơ trở nên trầm trọng hơn dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp có nguy cơ tăng cao.

Ngoài ra, nguồn nhân lực của Việt Nam trẻ và dồi dào nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp. Năm 2013, lực lượng lao động qua đào tạo chiếm gần 18%. Năm 2015, tỷ lệ này là 19,5%. Điều này có thể gây thất nghiệp cao khi các ngành nghề phát triển mạnh nhờ TPP và đồi hỏi yêu cầu cao về chất lượng lao động. Bên cạnh đó, lao động từ các nước láng giềng có thể là sự cạnh tranh gay gắt cho Việt Nam khi mà Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức hình thành.

Thứ hai, về thực thi các tiêu chuẩn quốc tế về lao động. Khi tham gia TPP, ngoài việc phải áp dụng các tiêu chuẩn về lao động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), các quốc gia thuộc TPP sẽ phải áp dụng nhiều tiêu chuẩn cao hơn nữa. Trong đó, đáng lưu ý là “đảm bảo các điều kiện lao động chấp nhận được” gồm tiền công tối thiểu, thời giờ làm việc, an toàn vệ sinh lao động, lao động trẻ em.

Về cơ bản, pháp luật Việt Nam hiện nay đã có những quy định cụ thể về tiền công tối thiểu, thời gian làm việc và an toàn vệ sinh lao động, lao động trẻ em. Nhưng hiệu quả thực tế của những chuẩn mực này vẫn còn nhiều điểm chưa đáp ứng được yêu cầu theo TPP. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ không được hưởng mức thuế nhập khẩu 0% từ các nước thành viên nếu không cải thiện các tiêu chuẩn này.

Thu nhập của người lao động Việt Nam nhìn chung còn thấp; lương tối thiểu mới chỉ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu tối thiểu và khoảng 80% lao động Việt Nam không có tích lũy hoặc chỉ có mức tích lũy dưới 2 triệu đồng một người mỗi tháng.

Tính chung 9 tháng năm 2015, cả nước có gần 228.000 lượt hộ thiếu đói, tương ứng với gần 939.000 lượt nhân khẩu thiếu đói. Mức lương tối thiểu tại Việt Nam hiện nay theo nhiều đánh giá vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu và tích lũy tiết kiệm tối thiểu.

Thời gian làm việc tại một số doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề tăng ca quá mức tại các doanh nghiệp dệt may và trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn thường xuyên diễn ra. Trong khi dệt may và nông nghiệp là những lĩnh vực dự báo sẽ được hưởng lợi rất lớn khi Việt Nam tham gia vào TPP.

Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp nước khi gia công hay hợp tác sản xuất với nước ngoài đã đáp ứng tiêu chuẩn lao động cao (như tiêu chuẩn sạch, xanh, trách nhiệm xã hội). Tuy nhiên, việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động tại đa số các doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn chưa được đảm bảo. Các trang thiết bị, công cụ bảo hộ an toàn cho người lao động còn thiếu thốn, chế tài xử phạt của nhà nước đối với các doanh nghiệp vi phạm an toàn, vệ sinh lao động chưa có tính răn đe cao.

Để có được thành công từ TPP, Việt Nam sẽ phải hết sức nỗ lực, biến thách thức thành cơ hội nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Theo đó, nước ta cần có những điều chỉnh cần thiết và chủ động hơn trong việc đẩy mạnh chất lượng nguồn lao động để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp mở rộng đầu tư sản xuất khi TPP có tác động thúc đẩy xuất khẩu.

Vào TPP, vui một nửa!

Cát Tường/Người lao động (CAF) – Ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright, nói như vậy về những lợi ích thấy trước và các điều khoản thiếu tích cực trong cam kết TPP vừa công bố.

Thưa ông, toàn văn cam kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vừa được công bố tuần qua, đâu là lợi ích dễ thấy nhất của Việt Nam khi TPP vận hành?

Ông Nguyễn Xuân Thành: Hiệp định TPP gồm 30 chương, trong đó các cam kết về xóa bỏ thuế quan sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam; tiếp đó là dịch vụ và đầu tư.

Về xóa bỏ thuế quan, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt  Nam như nông sản, thủy sản, dệt may, giày dép, đồ gỗ, hàng điện, điện tử, cao su… vào thị trường TPP được hưởng thuế suất 0% ngay sau khi hiệp định có hiệu lực hoặc sau 3-5 năm.

Mỹ cam kết bỏ thuế ngay lập tức đối với nhiều hàng dệt may từ 11 nước TPP, trong đó có Việt Nam, thay vì mức thuế trung bình 17,5% như hiện tại. Đáng chú ý, hàng dệt may của Việt Nam được sử dụng một số loại vải, nguyên phụ liệu ngoài TPP trong vòng 5 năm và vẫn được hưởng ưu đãi thuế đầy đủ theo như quy định trong hiệp định.

Đối với thuế nhập khẩu, Việt Nam cam kết một biểu thuế chung cho tất cả các nước TPP, trong đó trên 65% số dòng thuế sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi hiệp định có hiệu lực và gần 98% số dòng thuế sau 10 năm; các mặt hàng còn lại có lộ trình trên 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan.

Trong lĩnh vực dịch vụ, Việt Nam và những nước thành viên cho phép các tổ chức triển khai các dịch vụ tài chính qua biên giới mà không cần phải thành lập chi nhánh, cơ sở hoạt động ở nước sở tại. Như vậy, không chỉ doanh nghiệp mà cá nhân (như chuyên gia tư vấn chẳng hạn) nước ngoài được vào Việt Nam mở dịch vụ, chuyên gia trong nước thì được ra nước ngoài mở dịch vụ. Đây là điểm mới, thông thoáng.

Về đầu tư, các thành viên TPP thống nhất nguyên tắc yêu cầu các chính sách và bảo hộ đầu tư công bằng và không phân biệt đối xử. Vậy là trong khoảng 2 năm nữa, chúng ta tin sẽ có dòng vốn đầu tư mới, lớn hơn từ TPP chảy vào Việt Nam.

Điều được trông cậy từ TPP là áp lực để cải cách hành chính, thể chế… nhằm tăng sức mạnh nội tại, phù hợp với khuôn khổ của sân chơi này. Ông đánh giá thế nào?

Tôi cảm thấy hơi thất vọng từ chương Mua sắm Chính phủ (chương 15), chương Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và hoạt động độc quyền (chương 17).

Ban đầu, tôi hy vọng chương Mua sắm Chính phủ sẽ quy định chặt chẽ nhằm kiểm soát tốt tiền ngân sách, ngăn ngừa tham nhũng song rốt cuộc, cam kết trong TPP về mảng này còn chung chung về mua sắm công, đấu thầu, do đó không đủ mạnh để tạo sức ép nhằm cải thiện tình hình ở ta.

Đặc thù Việt Nam là DNNN đóng vai trò trụ cột của nền kinh tế song đây cũng là khối hiệu quả thấp. Tuy nhiên, cam kết TPP cho phép Chính phủ hoàn toàn được trợ cấp DNNN khi tham gia vào các hoạt động thương mại, kể cả công ích lẫn thương mại, miễn là “không tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với lợi ích của các nước TPP khác” hoặc “không làm tổn hại đến ngành công nghiệp trong nước của thành viên khác”.

Quy định như vậy thì không đủ ảnh hưởng để cải cách, ở ta thì DNNN sẽ tiếp tục bám víu vào bầu sữa ngân sách. Cho nên, nói TPP chỉ mang lại niềm vui một nửa là vì vậy.

Đến nay vẫn còn những cách hiểu khác nhau về quyền “tự do lập hội” trong TPP, ông có thể giải thích thêm?

Chương Lao động (chương 19) khá ngắn gọn, trong đó có nêu: “Trong TPP, các thành viên đồng ý thông qua và duy trì trong luật cùng thông lệ của mình các quyền cơ bản của người lao động như được thừa nhận trong Tuyên bố 1998 của ILO, đó là quyền tự do liên kết và quyền thương lượng tập thể; xóa bỏ lao động cưỡng bức; xóa bỏ lao động trẻ em và cấm các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; loại bỏ sự phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp”.

Quyền tự do liên kết còn gọi là “tự do lập hội” (freedom of association), ở Việt Nam được hiểu là người lao động có quyền thành lập tổ chức đại diện cho mình, bảo vệ quyền lợi cho mình bên cạnh tổ chức Công đoàn nhà nước. Các tổ chức này có thể tồn tại song song, không hẳn đối kháng nhau và người lao động có quyền đứng về phía bên này hoặc bên kia. Điều này buộc tổ chức Công đoàn phải nâng cao tầm vóc của mình thêm, còn các hội được thành lập ấy cũng phải đủ trình độ và bản lĩnh mới làm tốt được chức năng đại diện của mình.

Các nước TPP xem đây là yếu tố để xem xét cạnh tranh thương mại, trừng phạt nhau khi hàng hóa của doanh nghiệp nào đó tại nước nào đó vi phạm nguyên tắc về thương lượng giải quyết tranh chấp trong lao động hoặc phân biệt đối xử về trả lương, tuyển dụng…

Rất ít khả năng gặp trở ngại ở Mỹ

* Ông đánh giá như thế nào về khả năng TPP được quốc hội Mỹ thông qua?

– Các điều khoản cuối cùng của TPP quy định nếu một hay nhiều nước tham gia ký kết không phê chuẩn thì hiệp định vẫn có hiệu lực nếu nó được phê chuẩn bởi ít nhất 6 thành viên chiếm ít nhất 85% tổng GDP của 12 nước vào năm 2013 (theo số liệu chính thức của IMF).

Mỹ chiếm tới 60% tổng GDP của 12 nước TPP năm 2013. Vậy nên, nếu quốc hội Mỹ không phê chuẩn thì TPP “tiêu”.

Sau khi toàn văn hiệp định được công bố, quốc hội Mỹ có 90 ngày để xem xét. Hiện các nghị sĩ Đảng Dân chủ của Tổng thống Barack Obama phản đối TPP vì sợ dân Mỹ mất việc làm; kể cả bà Hillary Clinton – ứng viên tổng thống Mỹ tiềm năng nhất hiện nay – cũng phản đối dù trước đây bà Clinton từng ủng hộ. Tuy nhiên, TPP đang được Đảng Cộng hòa ủng hộ. Nhà Trắng cũng đang vận động mạnh mẽ để TPP được thuận lợi. Từ đó, tôi tin quốc hội Mỹ sẽ thông qua TPP vào đầu năm tới với xác suất cao.

Xem thêm tin tức, bài viết mới nhất về TPP tại Cafef.vn/TPP

[:-/] Ngành nông nghiệp đang tự “đầu độc” chính mình? (CAF) – Nhiều nông dân không dám ăn sản phẩm của chính mình làm ra. Người trồng rau chỉ dám ăn cá, trong khi người nuôi cá chỉ dám ăn thịt gà, người nuôi gà lại chỉ dám ăn rau… dẫn đến hệ quả là nền nông nghiệp nước ta đang tự đầu độc chính mình một cách hợp pháp.

Đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng, hội nhập đã trở thành tiến trình tất yếu. Bởi ngay sau khi chuyển đổi nền kinh tế từ bao cấp, kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường, nông nghiệp đã là khu vực đi đầu trong hội nhập. Hàng chục sản phẩm nông lâm thủy sản của Việt Nam đã tràn ra thế giới. Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lớn về nông sản.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong ngành, nông nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn khi Việt Nam gia nhập TPP, AEC cũng như nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Để làm rõ hơn về những cơ hội và thách thức mà ngành nông nghiệp gặp phải, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Vũ Trọng Khải – Nguyên Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II tại TP.HCM.

[:-/] Không thương hiệu, gạo Việt khó cạnh tranh (CAF) – Chuyển động sau khi TPP được công bố, VN phải thay đổi từ khâu chọn giống, sản xuất cho đến việc xây dựng thương hiệu cho hạt gạo…

Dù khẳng định hạt gạo VN có nhiều lợi thế hơn các đối thủ khi xuất sang các quốc gia thành viên TPP, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng nếu muốn tận dụng được cơ hội, VN phải thay đổi từ khâu chọn giống, sản xuất cho đến việc xây dựng thương hiệu cho hạt gạo.

Trong các thành viên tham gia TPP, trừ Nhật không cam kết trong khi Mexico và Chile sẽ xóa thuế theo lộ trình 8-10 năm, tám quốc gia còn lại đều sẽ xóa thuế ngay cho gạo VN sau khi hiệp định này có hiệu lực. Theo các chuyên gia, đã đến lúc VN cần bắt tay xây dựng thương hiệu gạo một cách bài bản và khoa học để có thể tận dụng được cơ hội này.

17 ảnh hưởng của TPP tới thị trường
sản phẩm nông nghiệp Việt Nam

(Ezlaw) – TPP dự kiến sẽ có hiệu lực từ năm 2018, khi đi vào hiệu lực TPP sẽ mang lại rất nhiều thay đổi đến Việt Nam, đặc biệt là với kinh tế. Sau đây là bảng tổng kết sơ bộ những mặt hàng nông nghiệp từ 11 thành viên khác trong TPP sẽ được miễn thuế nhập khẩu vàoViệt Nam. Không những thị trường mà ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ liên quan đến các mặt hàng, sản phầm này chắc chắn cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Nguồn thông tin: Bộ Nông Nghiệp Mỹ (http://www.fas.usda.gov/)







Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s