199.400 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp – lạ lùng càng học càng dễ…đứng đường

Posted: November 11, 2015 in Uncategorized
Tags:

Thuỳ Linh (GDVN) – Nền giáo dục của ta đi ngược so với thế giới vì hiện Bộ GD&ĐT kiểm soát đầu vào rất chặt chẽ nhưng đầu ra lại không kiểm soát, TS. Nguyễn Tùng Lâm cho biết.

� Xem thêm: Gần 200.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp: Vì đâu nên nỗi? + Người giỏi ra nước ngoài hết, lấy ai phát triển đất nước?


Cử nhân thất nghiệp “đông như quân Nguyên” (Ảnh: dantri.com.vn)

Càng học càng thất nghiệp

Theo Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam quý II năm 2015 do Viện Khoa học Lao động Xã hội vừa công bố, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm, tuy nhiên số lượng người có trình độ đại học, sau đại học thất nghiệp vẫn tiếp tục tăng cao với hơn 199.400 người , chiếm 17,4% số người thất nghiệp (tăng 22.000 người so với quý I).

Theo số liệu thống kê lao động đã qua đào tạo cho thấy ngoại trừ nhóm trình độ cao đẳng có tỷ lệ thất nghiệp giảm so với quý 1/2015 (từ 7,13% xuống còn 6,56%), thì tỷ lệ thất nghiệp của các nhóm trình độ chuyên môn kỹ thuật khác đều tăng.

Cụ thể: Nhóm có trình độ đại học trở lên tăng từ 3,92% lên 4,6%; trình độ trung cấp tăng từ 3,66% lên 4,49% và trình độ sơ cấp tăng từ 2,05% lên 2,71%.

Bà Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội cho rằng, tỷ lệ lao động trình độ đại học thất nghiệp tăng là do quy mô tuyển sinh đại học quá cao so với nhu cầu lao động.

Đây cũng là nguyên nhân chính khiến số lao động có chuyên môn kỹ thuật, đặc biệt là trình độ đại học gia tăng.

Phân tích cụ thể hơn về con số cử nhân thất nghiệp của quý II năm 2015, bà Hương cho biết: Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật (chứng chỉ sơ cấp trở lên) có 10,7 triệu người, chiếm hơn 20% lực lượng lao động.

Trong đó, riêng trình độ đại học trở lên có 4,47 triệu người. Điều này cho thấy, nước ta đang mất cân đối về cơ cấu lao động qua đào tạo nghề và giáo dục đại học, người có bằng đại học dư thừa, nhưng lao động tay nghề lại thiếu.

Thất nghiệp! Lỗi tại ai?

Trao đổi với báo điện tử Giáo dục Việt Nam về nguyên nhân dẫn đến tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp ngày càng nhiều, TS. Nguyễn Tùng Lâm- Chủ tịch Hội tâm lý giáo dục Hà Nội cho rằng lỗi chủ yếu nằm ở 4 đối tượng sau:

Thứ nhất, người lao động (cử nhân ra trường) không căn cứ vào năng lực để chọn học ngành phù hợp. Hoặc trong quá trình học tập thì không chuyên tâm, chuyên sâu để khi ra trường có đủ năng lực, phẩm chất.

TS. Nguyễn Tùng Lâm nhấn mạnh, trong thời buổi cạnh tranh muốn có việc làm thì bắt buộc phải có năng lực chỉ có như vậy nhà tuyển dụng họ mới lựa chọn. Còn nếu cứ học theo kiểu phổ thông, học chỉ để lấy bằng thì thất nghiệp là điều dễ hiểu.

Cùng quan điểm với TS. Nguyễn Tùng Lâm, TS. Lê Thẩm Dương – Trưởng khoa Tài chính, Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh từng chia sẻ trong buổi hội thảo cùng các bạn sinh viên rằng:

Nguyên nhân lớn nhất dẫn đến thất nghiệp là thuộc về mỗi cử nhân, thạc sĩ không chịu tự thân vận động, trau dồi đầy đủ năng lực bao gồm: kiến thức, kỹ năng, thái độ để phục vụ công việc sau khi ra trường.

Nhiều sinh viên mới ra trường nhưng có quan niệm làm quan chứ không chịu làm lính, không bắt đầu với những công việc nhỏ nhất rồi phát triển từ từ. Ngược lại, họ đòi hỏi phải có công việc tốt, lương cao nhưng tất cả không biết mình đang ở đâu, đứng vị trí nào trong xã hội”

Chính vì vậy, ngay lúc này, người lao động cần phải rút kinh nghiệm, cần phải chấn chỉnh rằng học cho bản thân chứ không phải cho bố cho mẹ hay học theo phong trào.

Thứ hai, các cơ sở đào tạo không đến nơi đến chốn dẫn đến sinh viên ra trường không đáp ứng được nhu cầu của thị trường như không có năng lực, phẩm chất hay tay nghề nhất định khiến nhiều doanh nghiệp cần tuyển người nhưng không tuyển được.

Cần phải điều chỉnh để nâng cao chất lượng đào tạo của các trường, ở các ngành nghề.

Thứ ba, do nền giáo dục của ta đi ngược so với thế giới vì hiện Bộ GD&ĐT  kiểm soát đầu vào rất chặt chẽ nhưng đầu ra lại không kiểm soát thể hiện qua con số 100% đầu vào, qua 4 năm 100% sẽ ra. Vậy thì làm sao mà đảm bảo chất lượng.

Trong khi các nước trên thế giới họ không quan tâm việc học thế nào để vào trường nhưng khi muốn ra thì bắt buộc phải đảm bảo chất lượng thì mới cho ra.

Thứ tư, Nhà nước mới chỉ kiểm soát cơ sở giáo dục trên giấy tờ còn cụ thể làm thế nào, có người dạy được hay không thì chưa thực hiện được.

TS. Nguyễn Tùng Lâm cho rằng, vai trò quan trọng nhất của Nhà nước là định hướng phát triển giáo dục nói chung, các trường đại học, cao đẳng nói riêng là quy hoạch nguồn nhân lực cho đúng, quản lý các trường thực hiện đúng theo quy hoạch.

Trong đó, Nhà nước phải quy hoạch nguồn nhân lực dựa trên cơ sở dự báo đúng thị trường lao động.

Cần phải dự báo được kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội để đào tạo theo nhu cầu xã hội chứ sắp hội nhập mà vẫn giữ tâm thế của thời bao cấp, cái gì cũng phân phối thì còn chết.

Nhìn nhận xu thế hội nhập, trả lời trên báo điện tử Công an nhân dân, PGS Văn Như Cương, Chủ tịch Hội đồng quản trị trường dân lập Lương Thế Vinh (Hà Nội) cho rằng:  “Dường như, mục đích của giáo dục hiện nay chủ yếu là học sinh học xong tiểu học, lên trung học cơ sở, tiếp theo là trung học phổ thông và cuối cùng là vào đại học.

Đây là nền giáo dục ứng thí, phục vụ toàn dân lên lớp, toàn dân học đại học mà không đảm bảo điều kiện cải thiện chất lượng cuộc sống.

Điều này sẽ gây ra những hậu quả về nguồn lực lao động khi chúng ta hội nhập ASEAN và TTP. Khi đó, chúng ta có thể thất bại vì phải nhập thợ chất lượng cao của nước ngoài, còn thợ của Việt Nam chỉ có thể làm thuê ở những ngành nghề đơn giản”.

Gần 200.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp: Vì đâu nên nỗi?

(CAF) Theo VTV – Theo một thống kê, hiện nay có tới gần 200.000 cử nhân, thạc sĩ vẫn không tìm được việc làm. Vậy nguyên nhân do đâu?

Gần 200.000 cử nhân, thạc sĩ bước ra từ các ngành đào tạo rất hot, như: Quản trị kinh doanh, Marketing, Tin học, Chứng khoán, Ngân hàng, Điện lực… đã dành 4 năm để học đại học, 2 năm để học lên cao học. Họ đã tốt nghiệp với vô số bằng cấp Khá, Giỏi. Nhưng tất cả đều đang thất nghiệp .

Cũng theo một thống kê, cứ 10 sinh viên tốt nghiệp ra trường, có tới 6 người thiếu kỹ năng và tiếng Anh; trong 10 cử nhân, có tới 4 người thiếu kiến thức chuyên môn. Vậy nên, cứ 10 doanh nghiệp tuyển dụng, có tới 6 doanh nghiệp không hài lòng về chất lượng đào tạo ở bậc cao đẳng, đại học và sau đại học. Và cũng chính vì học không đi đôi với hành, nên đa số cử nhân, thạc sĩ bị sốc trước các câu hỏi thực tế của nhà tuyển dụng.

.

Người giỏi ra nước ngoài hết,
lấy ai phát triển đất nước?

Chân Luận thực hiện (PL) – Trình độ, năng suất lao động của Việt Nam hiện đang ở tốp cuối trong 12 nước tham gia TPP.

(Điều cần làm rõ là cần đất nước phát triển hay cần bảo vệ chế độ? 199.400 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp ở trong nước không có ai giỏi?)


Hiện giá lao động thấp là một trong những lực hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: HTD

“Nếu chúng ta cứ ảo tưởng, coi giá lao động thấp là một lợi thế cạnh tranh thì chúng ta sẽ sai lầm”.

PGS Hoa Hữu Lân , Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế và xã hội Hà Nội, nhấn mạnh như trên khi trao đổi với Pháp Luật TP.HCM bên lề hội thảo “Thuận lợi và thách thức với Hà Nội khi Việt Nam (VN) gia nhập TPP” vừa tổ chức tại Hà Nội. PGS Lân nói:

“Một trong những điểm đặc biệt của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là cho phép luân chuyển lao động trong các nước thành viên. Lao động VN có thể tìm kiếm những cơ hội việc làm ở các nước khác trong TPP. Ngược lại, lao động các nước cũng có cơ hội tràn vào nước ta”.

Đừng ảo tưởng về lao động giá rẻ

. Phóng viên: Liệu VN có nên tiếp tục coi giá lao động rẻ là lợi thế cạnh tranh và thu hút đầu tư như lâu nay không, thưa ông?

+ PGS Hoa Hữu Lân: Dân số VN đang ở thời kỳ vàng và giá cả lao động cũng đang thấp hơn 1-12 lần so với các nước trong TPP. Đây có thể coi là một trong những lực hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Giá lao động thấp cũng đồng nghĩa với việc tay nghề và trình độ, thu nhập của lao động VN thấp. Trước mắt, với tỉ lệ thất nghiệp và nhu cầu việc làm của VN đang tăng cao thì tận dụng lợi thế lao động giá rẻ để thu hút đầu tư, mang lại việc làm trong ngắn hạn là điều cần thiết.

Tuy nhiên, về lâu dài điều này không tốt cho quá trình phát triển bền vững của VN. Nếu chúng ta cứ ảo tưởng, coi giá lao động thấp là một lợi thế cạnh tranh thì chúng ta sẽ sai lầm.

. Số liệu công bố mới đây cho thấy phải 50 năm nữa năng suất lao động của VN mới đuổi kịp Thái Lan, còn so với các nước trong TPP thì sao, thưa ông?

+ VN là thành viên trẻ nhất và cũng là thành viên “đội sổ” trong 12 nước TPP về nhiều mặt. Trong đó, trình độ lao động của VN hiện đang ở tốp cuối TPP.

Các nước thành viên TPP có nền kinh tế phát triển, trình độ lao động và quản lý rất cao. Họ vào VN đầu tư nên cần những lao động có kỹ năng thao tác, tác phong công nghiệp chuẩn mực, chính xác. Bên cạnh đó phải có trình độ ngoại ngữ và sự am hiểu luật pháp quốc tế. Nếu lao động chúng ta không đáp ứng được các yêu cầu này các doanh nghiệp nước ngoài sẽ không thu nhận và họ phải đưa lao động nước họ qua.

Khi đó lao động có trình độ từ các nước sẽ tràn vào VN, đánh bật lao động VN ra khỏi những cơ hội việc làm tốt.

Lo “chảy máu” lao động chất xám

. Việc cho phép luân chuyển lao động trong nội khối TPP có làm ông lo ngại lao động chất lượng cao của VN sẽ di chuyển ra nước ngoài làm việc?

+ Tôi cho rằng việc lao động giỏi, có trình độ, tay nghề sang các nước khác làm việc để có thu nhập cao, ổn định cuộc sống là chuyện hết sức bình thường. Tuy nhiên, xét về mặt lâu dài là không có lợi cho quốc gia, cho sự tồn vong của dân tộc.

Nếu những người giỏi, có trình độ cao cứ đi hết ra nước ngoài làm việc có nghĩa là trong nước chỉ còn lại những lao động trình độ thấp. Vậy làm sao đất nước phát triển được? Một người lao động nếu ở VN được trả lương cao như ở nước ngoài, môi trường, điều kiện làm việc tốt thì làm gì có chuyện chảy máu chất xám!

Một kỹ sư Nhật sang VN làm việc, ngoài lương cao họ còn được hưởng các phụ cấp khác khi ở nước ngoài, xa gia đình, xa quê hương… Hay ở Mỹ, hiện nay giá nhân công cao gấp 40 lần VN. Mỹ hiện đang thiếu 10.000 điều dưỡng viên cao cấp, lương điều dưỡng viên khoảng 3.500-4.000 USD/tháng. Giáo viên tiểu học lương khoảng 2.800 USD/tháng cũng đang rất thiếu.

Rõ ràng với mức đãi ngộ như vậy, khi TPP có hiệu lực, lao động được luân chuyển tự do hơn, dẫn đến nguồn lao động chất xám của VN sẽ di chuyển sang các nước. Tôi rất lo ngại về xu hướng chảy máu lao động trình độ cao ra nước ngoài.

Môi trường nhếch nhác tạo ra người nhếch nhác

. Các nhà đầu tư nước ngoài thường đánh giá lao động VN cần cù nhưng tính kỷ luật lao động thấp. Ông nghĩ gì về điều này?

+ Sự cần cù, chăm chỉ của lao động VN chưa đủ để đứng vững trên thị trường lao động. Yếu tố quyết định là trình độ chuyên môn, đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp và vốn ngoại ngữ. Bằng cấp cao không phải là yếu tố quyết định khi xin việc mà là khả năng đáp ứng yêu cầu tuyển dụng, đảm bảo kiến thức chuyên môn và kỹ năng.

. Bài toán nâng cao năng lực, trình độ cho lao động VN để hội nhập đã đặt ra từ lâu nhưng vẫn chưa gặt hái được nhiều thành công. Theo ông, vì sao và chúng ta phải làm gì để khắc phục?

+ Tôi cho rằng một nền kinh tế tự chủ phải níu kéo được những lao động có tay nghề cao ở lại trong nước, bằng chính sách đãi ngộ xứng đáng, môi trường làm việc tốt, nhân văn.

Song song đó để nâng cao chất lượng lao động VN cần phải tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ. Chẳng hạn về trình độ ngoại ngữ. Thực tế nhiều lao động có tay nghề cao nhưng không có ngoại ngữ nên khó có thể trở thành công dân toàn cầu, khó có thể hội nhập vào môi trường làm việc trình độ cao.

Đặc biệt, thể chế phải tương thích với môi trường hiện đại, tác phong công nghiệp. Tôi lấy ví dụ đơn giản, nếu mặc một bộ quần áo bình thường, ta có thể lê la vỉa hè. Nhưng khi đã khoác trên người bộ complet, chắc chắn chúng ta không thể lê la tán gẫu như thế. Môi trường của chúng ta nhếch nhác nên mới tạo ra những lao động nhếch nhác. Còn nếu môi trường văn minh chắc chắn sẽ tạo ra những con người văn minh.

Đáng tiếc là hiện nay tư duy của chúng ta vẫn là tư duy tiểu nông “ba xoa hai đập”, làm ăn manh mún. Điều này khó có thể tạo ra được những lao động có phong cách công nghiệp, phù hợp với thế giới. Mà điều này thì lại tùy thuộc rất nhiều vào chiến lược giáo dục.

. Xin cám ơn ông.

Chất lượng nhân lực gần chót bảng

Chất lượng nguồn nhân lực của VN còn thấp và có khoảng cách khá xa so với nhiều nước trong khu vực. Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá VN đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Nếu lấy thang điểm 10 thì chất lượng nhân lực của VN chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của WB.

Năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp ở châu Á-Thái Bình Dương. Cụ thể thấp hơn Singapore 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần. Năng suất lao động của VN chỉ bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan. Như vậy, phải 50 năm nữa chúng ta mới bắt kịp Thái Lan về năng suất lao động.

Nếu sử dụng lao động trẻ em hoặc lao động cưỡng bức thì một công ty, một nhà máy mặc dù làm ra hàng hóa có chất lượng cao, các nước trong TPP cũng không nhập khẩu hàng hóa đó. Đây là một trong những điểm mang tính nhân văn của TPP theo Công ước bảo vệ trẻ em của Liên Hiệp Quốc.

PGS Hoa Hữu Lân

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s