“Chưa bao giờ tinh thần kinh doanh của doanh nghiệp lại thấp như hiện nay”

Posted: November 13, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Thảo (BizLive) – Những rào cản cho sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông dân Việt Nam có chiều hướng gia tăng. Mặc dù đặt mục tiêu tháo gỡ khó khăn nhưng thực tế không những không tháo được, các nút thắt khác lại tăng thêm.

� Xem thêm: Tại sao doanh nghiệp phải chung chi “tiền đen” cho hải quan? + Chuyên gia: Lợi ích nhóm đang chi phối quyết định của Nhà nước.


Chuyên gia kinh tế, bà Phạm Chi Lan. Ảnh: TL

Tích cực tự do hoá bên ngoài, hạn chế tự do hoá bên trong

Tại hội thảo “Cơ hội đối tác để Việt Nam tham gia thành công vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) diễn ra sáng 13/11, chuyên gia kinh tế, bà Phạm Chi Lan cho biết, báo cáo Việt Nam đứng thứ 2,3 về sự sẵn sàng khi tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chỉ là hình thức khi cùng lúc thực hiện các giải pháp lại phát sinh nghịch lý tích cực tự do hoá bên ngoài và hạn chế tự do hoá bên trong.

“Việt Nam giảm hàng loạt hàng rào thuế quan đối với các nước khi tham gia các FTA nhưng đối với doanh nghiệp trong nước nhiều hàng rào dựng lên thậm chí doanh nghiệp FDI cũng phải chịu điều này”, bà Lan nói.

Bà Lan nhấn mạnh, rào cản cho sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông dân Việt Nam, lực lượng tham gia cạnh tranh lớn ngày càng có chiều hướng tăng mà không giảm. “Ngần ấy năm tháo gỡ khó khăn, không tháo được lại tăng thêm các nút thắt khác”, bà Lan nhấn mạnh.

Vị chuyên gia dẫn chứng, thủ tục hành chính của Việt Nam hiện cực kỳ phức tạp và nhiêu khê, các cấp đều có quyền gây khó cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, thuế phí ở Việt Nam quá nhiều, chẳng hạn 1 quả trứng phải “cõng” 14 loại thuế phí, con lợn chịu 51 loại thuế, phí.

Cũng theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, hiện doanh nghiệp nhà nước vẫn được bảo hộ và nhận đặc quyền do đó không quan tâm nhiều đến hội nhập, vấn đề mà khối doanh nghiệp nhà nước quan tâm là tiếp cận Nhật Bản, EU để có vốn ODA.

Trong khi đó, doanh nghiệp FDI đã chủ động kết nối giữa Việt Nam và ASEAN còn doanh nghiệp tư nhân chịu sức ép lớn nhưng chưa quan tâm.

Nguyên nhân vì có đến 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động nội địa không tham gia xuất nhập khẩu nên không thể có được những cảm nhận như doanh nghiệp xuất khẩu.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa thậm chí siêu nhỏ bị mối lo trước mắt quá lớn, phải đối phó với các vấn đề môi trường kinh doanh, và ám ảnh bởi những “kỷ lục” số doanh nghiệp giải thể. “Họ lo về tồn tại hơn là cạnh tranh, chưa bao giờ tinh thần kinh doanh của doanh nghiệp lại thấp như hiện nay”, bà Lan lo lắng.

Tốc độ tăng trưởng Lào, Campuchia cao hơn Việt Nam

Bình luận thêm về độ sẵn sàng của Việt Nam khi gia nhập AEC, bà Lan cho biết trong kết nối có 3 lĩnh vực quan trọng là thể chế, con người và hạ tầng.

Bà chia sẻ rằng, kết nối thể chế của Việt Nam từng khiến bà giật mình vì tháng 6 vừa qua, Văn phòng Quốc hội mới mời bà tham dự Hội thảo với nội dung làm thế nào để hài hoà hệ thống luật pháp với ASEAN.

“Đây là việc làm quá muộn màng. Khoảng cách giữa Việt Nam với các nước ASEAN đang giãn ra. Các nước Campuchia, Lào đang có sự cải cách tốt, tốc độ tăng trưởng đang cao hơn Việt Nam. Khoảng cách giữa Việt Nam với các nước có trình độ phát triển đang rất xa. Sau 20 năm gia nhập ASEAN, Việt Nam vẫn chấp nhận nằm trong nhóm 4 nước CLMV Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam”, bà Lan cho hay.

Theo đó, bà Lan cho rằng, khi xác định đổi mới tư duy và nhận thức cần định vị lại, 9 nước còn lại trong khối ASEAN có tầm quan trọng như thế nào trong số 57 nước Việt Nam tham gia FTA. “Việt Nam nhìn nhận lợi ích của Việt Nam khi gia nhập FTA là xuất khẩu và đầu tư do đó tỷ lệ hưởng lợi từ AEC với các nước thành viên ASEAN là thấp so với các FTA khác”, bà Lan nhận định.

Bà Lan cũng cho rằng, nếu ASEAN hội nhập với nhau nhưng lại đi làm với các “ông lớn” khác, như vậy tính hình thức của ASEAN cũng cao quá.

Trước các chuyên gia đến từ Nhật Bản, bà Lan chia sẻ mong muốn Nhật Bản giúp Việt Nam có nghiên cứu đầy đủ hơn Việt Nam trong AEC, so sánh Việt Nam với 4 nước phát triển hơn, định vị Việt Nam như nào trong các nước này và cách để phát triển tốt hơn. Làm tăng vai trò của doanh nghiệp Việt Nam thay vì trông chờ vào FDI trong các chỉ tiêu tăng trưởng đầu tư, xuất khẩu.

“Việt Nam phải làm thế nào để biến tiềm năng thành năng lực thật sự để phát triển vì thời gian không chờ đợi ai”, bà Lan kết luận.

Tại sao doanh nghiệp phải chung chi
“tiền đen” cho hải quan?

Lê Thanh (BizLive) Theo Báo Tuổi Trẻ – Tại sao doanh nghiệp phải chi “tiền đen” cho cán bộ hải quan? Không chi “tiền đen”, khó làm thủ tục hải quan. Cục Hải quan TP. HCM bị kêu nhiều nhất với tỉ lệ này lên tới hơn 53%.


Ảnh minh họa.

Khoảng 28% số doanh nghiệp (DN) được khảo sát cho biết phải chi “tiền đen” cho cán bộ hải quan, trong đó Cục Hải quan TP.HCM bị kêu nhiều nhất với tỉ lệ này lên tới hơn 53%, chưa kể nhiều thủ tục rắc rối, gây khó cho hoạt động xuất nhập khẩu…

Đó là một số kết quả khảo sát đánh giá của DN về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, do Phòng Thương mại và công nghiệp VN (VCCI) thực hiện và công bố vào ngày 12/11.

28% DN phải trả chi phí “đen”

Theo ông Đậu Anh Tuấn – trưởng ban pháp chế VCCI, phần lớn DN tham gia khảo sát cho biết thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan sẵn có, dễ tìm. Tuy nhiên, vẫn còn tới 20% DN phàn nàn rằng quá phức tạp, khó hiểu. Đặc biệt, 28% DN cho biết đã phải trả chi phí không chính thức, còn 37% DN không trả lời.

Cũng theo khảo sát, các cục hải quan lớn tại các tỉnh thành trọng điểm kinh tế lại nằm trong nhóm mà DN cho biết phải trả chi phí không chính thức cao. Chẳng hạn, 53,35% DN cho biết đã phải trả chi phí không chính thức ở Cục Hải quan TP.HCM. 31% DN cho biết nếu không trả chi phí “đen” sẽ bị phân biệt đối xử như kéo dài thời gian làm thủ tục, bổ sung những giấy tờ, chứng từ không có trong quy định…

Với 6 nhóm thủ tục hành chính hải quan (thông quan, xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát, quản lý thuế, kiểm tra sau thông quan, xử lý vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo), có tới 30% DN đánh giá rất khó thực hiện với thủ tục hoàn thuế, không thu thuế và xét miễn thuế.

Trong đó, Cục Hải quan Kiên Giang bị kêu nhiều nhất khi có tới 50% số DN cho rằng gặp khó trong việc hoàn thuế. Đối với thủ tục xét miễn thuế, 35% DN kêu thực hiện ở Cục Hải quan Quảng Ngãi là khó, trong khi tỉ lệ này ở Cục Hải quan Cà Mau chỉ là 5%.

Theo kết quả khảo sát, khi thực hiện thủ tục thông quan, DN cũng gặp khó khăn rất lớn khi 73% DN kêu nhiều biểu mẫu khai báo và hay thay đổi; 31% DN phản hồi là bị cơ quan hải quan yêu cầu cung cấp thông tin, giấy tờ ngoài quy định.

Thậm chí, DN còn gặp khó khăn khi không được cán bộ hải quan hướng dẫn đầy đủ, tận tình khi thực hiện thủ tục này. Đánh giá sự phục vụ của công chức hải quan, 55-61% DN cho biết việc thực hiện kỷ cương của cán bộ hải quan ở mức bình thường.


Nguồn: Phòng Thương mại và công nghiệp VN – Đồ họa: Vĩ Cường

Thủ tục còn phiền hà

Ông Phạm Thanh Bình, chuyên gia hải quan, đánh giá rằng những con số trên cho thấy DN vẫn thật sự gặp khó khăn, khổ sở khi thực hiện thủ tục hải quan.

Là người tập hợp ý kiến, kiến nghị của DN cho báo cáo, ông Bình cho hay trong số hơn 3.100 DN phản hồi, có gần 1.000 phản ánh những vướng mắc liên quan đến 4 lĩnh vực gồm: thủ tục kiểm tra, giám sát hải quan; thuế, phí; phương thức phương tiện quản lý hải quan; chính sách pháp luật quản lý chuyên ngành.

Tuy nhiên, những vướng mắc tập trung chủ yếu về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát và quản lý hải quan chiếm tới 42% tổng số kiến nghị của DN.

Nhiều DN cũng cho rằng Bộ Tài chính ban hành nhiều thông tư hướng dẫn về thủ tục. Có nhiều thông tư vừa ban hành đã được thay đổi bằng một văn bản khác. Chuyện kiểm tra sau thông quan cũng còn rất nhiều bất cập như kiểm tra cả những tờ khai đã được kiểm tra thực tế.

Một số đơn vị hải quan tổ chức địa điểm làm thủ tục chưa hợp lý, làm khó cho DN như bố trí ở những phố cấm xe tải lưu thông trong giờ hành chính, quy định xuất nhập khẩu ở cảng nào thì phải làm thủ tục hải quan tại chi cục hải quan đó…

Theo ông Bình, có nhiều thay đổi, cải tiến trong chính sách hải quan như quy định về kiểm tra trước hoàn thuế sau giúp DN được hưởng lợi rất nhiều. Tuy nhiên, tiêu chí phân loại quản lý rủi ro chưa phù hợp.

Chẳng hạn, hàng hóa thuộc quản lý chuyên ngành được đưa vào luồng vàng (kiểm tra chứng từ, hồ sơ) và luồng đỏ (kiểm tra 100% lô hàng), khiến tỉ lệ hàng bị kiểm tra tăng lên rất nhiều, chiếm 35% tổng số lô hàng.

“Tại sao hàng quản lý chuyên ngành đã được một cơ quan nhà nước giám sát, kiểm tra rồi mà cơ quan hải quan lại quản lý nữa?”, ông Bình đặt câu hỏi. Thủ tục hoàn thuế cũng rất rườm rà, rối mù nhiêu khê. “Là người có 30 năm làm trong ngành hải quan mà đọc nhiều khi cũng thấy rối hết cả đầu chứ nói gì đến DN”, ông Bình nói.

Về tham vấn giá, nhiều DN phản ảnh lần nào cũng nhập mặt hàng đó nhưng đều phải tham vấn giá và thực hiện không thống nhất giữa các cơ quan hải quan, cán bộ hải quan. Đây cũng là câu chuyện mà nhiều DN kêu bị phiền hà.

“Có DN nhập một lô hàng, hải quan cửa khẩu xác định thuế nhập khẩu là 5%, nhưng khi đưa đi phân tích phân loại thì lô hàng áp mã số có thuế là 0%, kiểm tra thông quan lại xác định mã có mức thuế là 9%. Để hàng hóa lưu thông, DN phải nộp thuế nhưng giờ không biết làm thế nào”, ông Bình cho biết.

DN sẽ không còn lo chuyện hoàn thuế(?)

Sau khi lắng nghe và tiếp thu những ý kiến của chuyên gia và nhóm khảo sát, ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn, thứ trưởng Bộ Tài chính, thừa nhận báo cáo phản ánh tương đối đúng tình hình về ngành hải quan hiện nay. Cũng theo ông Tuấn, Bộ Tài chính rất đồng tình với phản ánh về sự khác nhau trong áp mã hàng hóa, nhưng thực chất đây là mức thuế.

“Khi còn 49 mức thuế như hiện nay, hàng hóa có tính chất như nhau, thay thế cho nhau nhưng lại có chênh lệch mức thuế 2-3 lần thì còn tạo khe hở cho gian lận thương mại, tiêu cực, sách nhiễu và cản trở thủ tục hành chính”, ông Tuấn nói.

Theo ông Tuấn, để giải quyết căn cơ vấn đề này, trong Luật thuế xuất nhập khẩu sắp được thông qua, hàng hóa có tính chất như nhau phải có một mức thuế, tránh trường hợp phôi thép hình vuông có mức thuế là 5%, không phải hình vuông thì chịu mức thuế 9%. Về việc hàng hóa luồng vàng và luồng đỏ gia tăng, ông Tuấn cho biết Bộ Tài chính cũng nhắc nhở một chi cục hải quan về việc này.

Liên quan đến thời gian hoàn thuế, ông Tuấn cho biết một trong những điểm quan trọng trong Luật thuế xuất nhập khẩu lần này là không thu thuế và hoàn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất rồi xuất khẩu.

Nếu Luật thuế xuất nhập khẩu được thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/7/2016 sẽ thuận lợi hơn cho DN trong kinh doanh ở những ngành thủy sản, ngành gia công, ngành chế biến…, nhất là tránh những phiền nhiễu, tiêu cực…

Chuyên gia: Lợi ích nhóm đang chi phối
quyết định của Nhà nước

Chiến Thắng (TBKTSG) – Nói về những chủ trương thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo, thúc đẩy tăng trưởng, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan rất không tán đồng với những bất hợp lý trong chính sách thuế như tăng giảm loại thuế gì, với đối tượng nào. Bà cho rằng, vấn đề lợi ích nhóm đang chi phối quyết định của Nhà nước.


Cái nghèo khi đi cùng tham nhũng, sự kém cỏi của bộ máy
sẽ nhân lên và tạo nên những bất ổn xã hội

TBKTSG: Nhà nước thường nhấn mạnh nhiều vào tốc độ giảm nghèo, nhưng ít đề cập khoảng cách giàu nghèo đang gia tăng. Bà nhận định thế nào về tình trạng này ở Việt Nam?

Bà Phạm Chi Lan: Khoảng cách giàu – nghèo ở Việt Nam đang tăng lên, tốc độ tăng không kém so với việc giảm nghèo.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hai năm một lần làm tổng điều tra dân số về mức sống. Khoảng cách giữa nhóm cao nhất và thấp nhất luôn ngày càng xa. Năm 2012, con số này đã gấp gần 10 lần. Năm 2014 chưa công bố nhưng tôi tin đã vượt 10 lần.

Đó là mới chỉ tính về thu nhập và không phản ánh đầy đủ. Có một thứ tạo nên bức tranh chênh lệch giàu – nghèo kinh khủng mà thước đo về thu nhập hoàn toàn vô nghĩa. Đó là tài sản của công chức. Thu nhập của công chức không lớn, nhiều khi không đủ sống. Nhưng thực tế biết bao công chức ở trung ương, địa phương có nhà lầu, xe hơi, có con đi học nước ngoài tự túc… Tiền ở đâu ra?

TBKTSG: Thực trạng trên ảnh hưởng thế nào tới tăng trưởng bền vững của đất nước?

– Làm sao tăng trưởng bền vững được nếu trong xã hội còn tình trạng như vậy? Người nghèo bị dồn vào thế cùng cực, có những người nghèo truyền kiếp không thoát ra được, trong khi một số ít lại hưởng lợi quá nhiều trên sự cùng cực đó, nhởn nhơ, thậm chí gây phương hại cho cộng đồng.

Với doanh nghiệp, người ta bất bình vì anh thân quen, anh được hưởng lợi từ chính sách, tước đoạt cơ hội của người khác, gây hậu quả về tài nguyên, môi trường.

Với công chức, người dân căm phẫn vì tham nhũng. Một số quan chức không từ thủ đoạn nào kể cả lấy tiền từ dự án của người nghèo.

Bất an là ở chỗ đó, chứ không phải người ta ganh tỵ với người giàu. Cái nghèo khi đi cùng tham nhũng, sự kém cỏi của bộ máy sẽ nhân lên và tạo nên những bất ổn xã hội.

TBKTSG: Theo bà, việc thực hiện những chính sách xóa đói, giảm nghèo hiện nay đang có những bất cập gì?

– Cách đây hơn một năm, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông cho biết, có đến 63% tiền đầu tư vào xóa đói giảm nghèo được sử dụng cho bộ máy, như vậy là quá nhiều.

Nhà nước đưa ra các chính sách, các chương trình mục tiêu quốc gia rất nhiều, tiền đổ vào kinh khủng, nhưng thực hiện ra sao, hay là đẻ ra một bộ máy to quan liêu, lãng phí và nguy cơ tham nhũng không phải không có.

Người nghèo không bao giờ biết được nhà nước rót cho họ bao nhiêu. Nhưng thỉnh thoảng báo chí lại phát hiện các con giống nuôi phát cho người nghèo lọt vào nhà quan xã.

Thiết kế chính sách là một chuyện nhưng tổ chức thực hiện mà không đến nơi đến chốn sẽ làm mất hết thành quả của chính sách, thành quả của ngân sách và các nguồn khác nhau đóng góp cho người nghèo.

Khoảng cách giàu – nghèo ở Việt Nam đang tăng lên, tốc độ tăng không kém so với việc giảm nghèo. Ảnh: Minh Khuê

TBKTSG: Người ta thường nói: “Cho cần câu, chứ đừng cho con cá”?

– Đúng vậy! Nhưng cho cần câu thế nào? Nhà nước rất thiện ý khi đưa ra chương trình mỗi năm đào tạo một triệu nông dân. Nhưng đi về các tỉnh, tôi thấy người dân học xong ba tháng về chẳng có việc để làm trong lĩnh vực được đào tạo, lại quay về như cũ.

Chẳng hạn như việc đào tạo làm thủ công mỹ nghệ. Nghề đó chết vì kết nối thị trường, sáng tạo mẫu mã không hợp với nhu cầu, người đã có tay nghề còn đang gặp khó huống chi là người mới học việc. Những chương trình như thế hoàn toàn vô bổ, cách đào tạo chủ quan, theo kiểu hành chính chứ không xuất phát từ yêu cầu thực tế. Rốt cục, đó lại là thứ chia chác giữa các đơn vị tham gia vào dự án, còn bản thân người dân chẳng được lợi gì.

Ý tưởng chính sách là không sai. Nhưng nếu Nhà nước chỉ bố trí vốn mà không giám sát bộ máy, buông lỏng thì rốt cục cuộc sống người dân không cải thiện được, mà họ lại quay sang oán trách Nhà nước.

TBKTSG: Nhà nước còn công cụ khác để điều tiết, phân chia của cải trong xã hội, chẳng hạn như thuế. Có nhiều tranh cãi cho rằng chính sách thuế còn bất hợp lý, dẫn đến giá xăng thì đắt còn thuốc lá, bia thì rẻ, trong khi chi phí xăng dầu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi của người nghèo…

– Vấn đề lợi ích nhóm đang chi phối trong quyết định tăng giảm thuế. Ngoài ra, còn có cái gắn với lợi ích của chính Nhà nước. Với xăng dầu là như vậy, trong giá bán một lít xăng thì phần thuế, phí rất cao. Thu ở đó dễ nhất cho Nhà nước, và được nhiều nhất.

TBKTSG: Tiến bộ về công nghệ và toàn cầu hóa có thể sẽ khiến nhiều người bị gạt ra ngoài lề, và tình trạng phân hóa giàu – nghèo sâu sắc hơn?

– Đó là vấn đề lớn khi nói đến thách thức hội nhập. Các nghiên cứu cho thấy các ngành dùng nhiều lao động giá rẻ không có tương lai xa nữa, vì tự động hóa phát triển sẽ thay thế đáng kể lực lượng lao động. Nhà nước phải biết lo chuyện đó, đừng nên quá háo hức với cơ hội của FTA, TPP mang lại trước mắt mà quên đi chặng đường dài phải đối diện.

Trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, tôi thấy rõ vướng nhất hiện nay là lực lượng nông dân dư thừa sẽ làm gì. Ví dụ Đồng Tháp tính toán sẽ dư thừa khoảng nửa triệu nông dân nếu tái cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. Chưa cần làm cánh đồng mẫu lớn như ở An Giang, chỉ cánh đồng liên kết thôi, hình thành hợp tác xã, đã dư thừa chừng đó. Nhưng Đồng Tháp đã rất nhân văn, họ chậm lại một số chương trình để chờ cơ hội tạo việc làm cho người mất việc đã, chứ không chạy theo thành tích mà bỏ mặc nông dân. Tôi rất sợ tái cơ cấu mà chạy theo thành tích.

Hay, ngành dệt may Việt Nam đang rất háo hức với TPP. Chúng ta có cơ hội lớn đưa kim ngạch xuất khẩu dệt may lên 50 tỉ đô la Mỹ. Nhưng 50 tỉ đô la này liệu bền được bao lâu? Các nghiên cứu giờ mới chỉ tính được đến năm 2025 thôi, không tính được xa hơn!

Sẽ đến lúc lao động giá rẻ không còn phù hợp, có thể vẫn giữ được nhưng quy mô thị trường giảm đáng kể. Đó là chưa kể đến sức cạnh tranh của các nước khác. Người ta không đứng lại, họ cũng tham gia FTA chứ không chỉ mình Việt Nam.

Một khía cạnh khác phải nghĩ đến, là công nhân dệt may chỉ làm được chừng 20 năm, chẳng hạn từ 16-35 tuổi. Vậy họ sẽ làm gì trong 20 năm nữa cho đến khi về hưu? Tích lũy của họ có đủ đảm bảo để sống không?

Chưa kể tại Việt Nam, gánh nặng về già hóa dân số đang tăng lên, nghĩa là tương lai một người đi làm việc phải chia sẻ nhiều hơn cho những người không làm, không đóng góp vào ngân sách chung cho an sinh. Cái đó phải tính chứ.

Bài toán an sinh xã hội là phức tạp hơn nhiều trong thời kỳ hội nhập, không nên chỉ nhìn thấy tăng trưởng trước mắt và cho đó là thành công.

Tôi không hài lòng với cách mà báo chí và mọi người hay nói là “Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất khi gia nhập TPP”. Cái đó là chỉ nói về tốc độ và tỷ lệ tăng trưởng thôi, chứ không đề cập hàm lượng.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s