‘Không thay đổi, Việt Nam sẽ làm thuê cho thế giới’

Posted: November 20, 2015 in Uncategorized
Tags:

(VNTB) Theo PLO – Kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao nhưng vẫn ở đẳng cấp thấp. Campuchia và Lào đã vượt mặt.

� Xem thêm: Năng suất lao động ở Việt Nam chỉ bằng 1% các nước phát triển + Thế nào được coi là nghèo ở Việt Nam?


Việc nâng tỉ lệ nội địa hóa ngành ô tô sản xuất trong nước coi như bị phá sản. Ảnh: CTV

Mặc dù thừa nhận kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu nhưng các đại biểu tham dự diễn đàn “Tổng kết 30 năm phát triển kinh tế Việt Nam (VN)” do Viện Kinh tế VN tổ chức ngày 19-11 đều chung nhận định: Kinh tế VN vẫn tụt hậu, đang ở đẳng cấp thấp.

Hàn Quốc xuất khẩu ông chủ, Việt Nam xuất khẩu làm thuê

Dẫn lời một chuyên gia nổi tiếng, Viện trưởng Viện Kinh tế VN Trần Đình Thiên tổng kết: “Hiện nay Hàn Quốc xuất khẩu ông chủ sang VN, còn VN chủ yếu xuất khẩu lao động làm thuê sang Hàn Quốc. Đây là một hình ảnh đáng giá để nói về sự tụt hậu của VN 30 năm qua”.

Theo ông Thiên, 30 năm, Hàn Quốc thay đổi chân dung quốc gia rất nhanh, còn VN vẫn là hình ảnh quốc gia xuất khẩu lao động. Dẫn lời GS Trần Văn Thọ, ông Thiên cho rằng: “Dù xuất khẩu đẳng cấp thấp nhưng vẫn đang được nhiều người coi là thành công, song nếu cứ tiếp tục định hướng này thì VN sẽ là quốc gia đi làm thuê cho toàn thế giới”.

Đồng tình, TS Vũ Tuấn Anh, chuyên gia cao cấp của Viện Kinh tế VN, chỉ ra một nghịch lý khác: VN xuất khẩu lao động được đào tạo sang các nước Trung Đông, Hàn Quốc, Đài Loan… nhưng lại nhập khẩu lao động cơ bắp vào VN. Điển hình là lao động Trung Quốc tại những công trình do Trung Quốc làm tổng thầu ở Hà Tĩnh, Tây Nguyên.

Ở khía cạnh khác, TS Vũ Tuấn Anh nhận xét năng suất của lao động VN có tốc độ tăng trưởng rất chậm, thua kém nhiều nước trong khu vực như Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…

“Năng suất lao động của chúng ta đứng ở mức thấp nhất khi so sánh với một số nước châu Á và chỉ đóng góp 20% vào sự tăng trưởng trong nhiều năm qua” – ông Tuấn nêu thực trạng.

Còn GS Nguyễn Quang Thái – Hội Kinh tế VN thì nhìn nhận năng suất lao động VN kém chủ yếu do cơ cấu kinh tế lạc hậu, dẫn đến lao động làm việc ở khu vực năng suất thấp quá đông. “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không đạt yêu cầu và không phù hợp với tiềm năng kinh tế của VN” – ông Thái bình luận.

“Xin đừng tô hồng Việt Nam”

GS Nguyễn Quang Thái kể: Tuần trước, ông làm việc trực tuyến với Ngân hàng Thế giới. Họ khen ngợi và đánh giá VN rất cao.

Đáp lại những lời khen này, ông Thái nói: “Cám ơn các bạn đã yêu quý VN nên đã tô hồng VN quá nhiều. Các bạn muốn để VN tiến lên, có khát vọng tăng trưởng thì các bạn nên nói rõ những khuyết điểm, những mặt còn yếu kém”.

Dưới góc nhìn của ông Thái, VN hiện đã tụt hậu và có những khía cạnh tụt hậu rất xa so với thế giới. “Chúng ta xuất khẩu được 150 tỉ USD nhưng để xuất khẩu được chừng này thì lại phải nhập khẩu nguyên liệu rất nhiều. Chúng ta đã làm nhân đạo rất tốt là… xuất khẩu hộ các nước khác!” – ông Thái tỏ vẻ ngậm ngùi.

Lấy ví dụ về xuất khẩu gạo, GS Thái nói VN xuất khẩu gạo được 3 tỉ USD nhưng dành ra tới 3,8 triệu ha để trồng lúa. “Chúng ta đang thích định lượng và thích sự ổn định về số lượng, không quan tâm đến chất lượng nên gạo của VN không có thương hiệu”.

Dẫn ra một con số khác, TS Vũ Tuấn Anh chỉ ra VN xuất khẩu gạo được 3 tỉ USD nhưng lại nhập khẩu tới 4 tỉ USD ngũ cốc, thức ăn chăn nuôi.

Từ đây các đại biểu cho rằng nền nông nghiệp của VN cũng tụt hậu như đặc trưng chung của nền kinh tế. TS Lê Xuân Bá, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, phát biểu: “Nền nông nghiệp VN không chỉ lạc hậu mà còn là nền nông nghiệp bẩn, đang đầu độc cả dân tộc một cách hợp pháp bằng các loại nông sản không an toàn”.

Theo ông Lê Xuân Bá, nếu không khắc phục được tình trạng này, nền nông nghiệp Việt chẳng những không tận dụng được cơ hội do hội nhập quốc tế mang lại, mà còn bị những thách thức của tiến trình hội nhập quốc tế nhấn chìm.

Mai mốt có còn đi vay được không?

Lấy ví dụ về sự phát triển của hạ tầng VN, TS Vũ Tuấn Anh nhận xét hạ tầng đã có những thay đổi rất nhanh. Có điều cơ sở hạ tầng đó có được là nhờ VN đi vay.

“Trong tương lai, chúng ta có còn đi vay được nữa không? Nếu không thì chúng ta sẽ xử lý bài toán hạ tầng thế nào?” – ông Anh lo lắng. Ông cũng cho rằng nếu nói về tốc độ tăng trưởng, VN thuộc loại có tốc độ tăng trưởng cao. Thế nhưng chúng ta vẫn ở một đẳng cấp thấp so với các quốc gia khác. Hiện nay Campuchia và Lào cũng đã vượt VN.

“Niềm tự hào tốc độ tăng trưởng nhanh cũng chưa đủ để giúp chúng ta tiến lên” – ông Anh nhìn nhận.

Vạch ra lý do, TS Vũ Tuấn Anh nói VN hiện tăng trưởng nhờ vào vốn (60%), mà chủ yếu là nhờ đầu tư nước ngoài. Công nghệ rất lạc hậu, còn việc chuyển giao công nghệ chủ yếu là nhờ các tập đoàn lớn của nước ngoài.

Trong khi các doanh nghiệp của chúng ta chỉ chuyển giao và tiếp nhận công nghệ mới rất ít. “Nếu cứ đà này thì các doanh nghiệp nước ngoài sẽ chiếm lĩnh toàn bộ nền công nghiệp VN. Nếu một nền kinh tế với công nghệ lạc hậu, rệu rã thì có thể phát triển được hay không?” – ông Anh đặt vấn đề.

Để tăng trưởng bền vững và có hiệu quả, GS Thái đề nghị cần phải xem lại chính sách đầu tư của VN. “Tiền trong túi ít thì phải dè xẻn, phải tính toán sao cho hiệu quả. Nhưng đáng tiếc là chúng ta chưa quan tâm đến điều này” – GS Thái nói.

Đi vào cụ thể hơn, TS Dương Đình Giám nói: “Tư duy tỉnh này có nhà máy thép, tỉnh kia cũng phải có, tỉnh này có xi măng, tỉnh kia cũng đầu tư, không chịu kém đã làm lãng phí nguồn lực để phát triển”.

Bị ràng buộc bởi “vòng kim cô”

Chúng ta phải chú ý đến những bài học không thành công. Do khách quan, VN không có một mô hình, một chủ thuyết phát triển rõ ràng. Sự đổi mới kinh tế cũng chưa chú ý đến chất lượng.

Người VN thích tranh luận. Chúng ta 30 năm nay vẫn đang tranh luận với nhau về kinh tế thị trường định hướng XHCN, doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo. Cuộc tranh luận này vẫn chưa kết thúc.

Những quan điểm hiện đại như kinh tế tri thức, kinh tế xanh, quốc gia khởi nghiệp, chúng ta cũng đã tranh luận 15 năm nay mà không rõ nội hàm của nó là gì.

Chúng ta vẫn bị ràng buộc bởi nhiều vòng kim cô, mãi không thoát ra được. Chúng ta đang luẩn quẩn với những triết lý, chẳng hạn như cái chung hay cái riêng mang tính quyết định.

Nguyên Phó Thủ tướng VŨ KHOAN

Theo ông Lê Xuân Bá, ngành ô tô, tỉ lệ nội địa hóa với mục tiêu 40% vào năm 2005 và 60% vào năm 2010 với xe thông dụng đã bị phá sản. Bởi hiện nay ngành này mới chỉ đạt có 7%-10% với xe con và 50% xe khách và tải nhẹ. Như vậy VN đang tụt hậu so với chính mục tiêu chúng ta đề ra.

Năng suất lao động ở Việt Nam chỉ bằng 1% các nước phát triển

(TTXVN) – Sau 30 năm phát triển, Việt Nam từ nước có thu nhập bình quân đầu người rất thấp, đã gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình trên thế giới năm 2010 (với bình quân GDP theo đầu người đạt trên 1.000 USD).

Tuy nhiên, tại diễn đàn Tổng kết 30 năm phát triển kinh tế do Viện Kinh tế Việt Nam tổ chức ngày 19/11 tại Hà Nội, các chuyên gia cũng cho rằng, còn rất nhiều vấn đề Việt Nam cần phải giải quyết trong chặng đường tiếp theo.


Dây chuyền sản xuất các linh kiện, thiết bị điện tử tại Công ty TNHH Bluecom Vina
(100% vốn đầu tư của Hàn Quốc), tại Khu công nghiệp Tràng Duệ (Hải Phòng). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Tăng trưởng 7%/năm

Theo báo cáo từ Viện Kinh tế Việt Nam tại diễn đàn, sau 30 năm đổi mới, Việt Nam có mức tăng trưởng cao và khá ổn định, bình quân 7%/năm, (thấp nhất 4,8% và cao nhất là 9,5%). Năng suất lao động cũng tăng khá, trên 5%/năm.

Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho hay, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm giai đoạn 1986-1990 là 4,4%; giai đoạn 1991-1995 là 8,2%; giai đoạn 1997-1999 là 7%; giai đoạn 2000-2005 là 7,51%; giai đoạn 2006-2010 là 6,7%; và giai đoạn 2011-2014 là 5,67%. Như vậy, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn là khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới.

Về cơ cấu ngành, từ một nước chủ yếu là nông nghiệp, với GDP nông nghiệp chiếm 40-50% sau thống nhất, đến nay trên 80% GDP được sản xuất từ công nghiệp và dịch vụ. Về cơ cấu lao động, từ đại bộ phận lao động làm nông nghiệp nay 55% lao động đã làm phi nông nghiệp.

Ngoài ra, về cơ cấu sở hữu, báo cáo cũng cho biết, từ nền kinh tế chủ yếu đơn sở hữu, đến nay 2/3 GDP là của các khu vực kinh tế tư nhân trong và ngoài nước, với 20% của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Đặc biệt, trong những năm gần đây, Việt Nam đã mở cửa mạnh mẽ thị trường. Nhờ đó, năm 2014 GDP đạt 183 tỷ USD, xuất khẩu đạt 150 tỷ USD.

Ông Trần Đình Thiên cũng nhận định, đây là những thành tựu mà Việt Nam có được so với sự phát triển và biến động thế giới trong nhiều năm qua.

Có được những thành công này, một phần do Việt Nam đã đi đúng hướng trong định hướng phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, mặc dù chưa thực sự bền vững.

Việt Nam cũng đã có những bước tiến rất đáng tự hào, như xóa đói giảm nghèo, có mức tăng trưởng liên tục…

Đây là những điều rất tốt. Nhưng quan trọng chúng ta nhận diện những thành công đó thế nào, để phát huy và tiếp tục phát triển, trong bối cảnh vẫn nhiều điểm yếu như hiện nay.

Nhận diện điểm yếu

Mặc dù vẫn giữ được mức tăng trưởng khá mạnh, tuy nhiên, thực tế tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam đã sụt giảm trong những năm vừa qua. Điều này đang dấy lên quan ngại sẽ kéo theo tăng trưởng kinh tế Việt Nam đi xuống và Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Báo cáo tại diễn đàn cho biết, các giai đoạn 1990-1995, 1995-2000, 2000-2005, tăng trưởng năng suất lao động đạt trung bình 5,4 điểm; nhưng giai đoạn 2005-2012 con số này chỉ 3,6 điểm.

“Trong khi về cơ bản, những yếu tố cốt lõi thay đổi năng suất và chất lượng chưa có. Ví dụ như công nghiệp là gia công, lắp ráp và khai thác tài nguyên thì công nghiệp vẫn chưa thay đổi. Công nghệ vẫn chưa thoát khỏi lạc hậu, vẫn kém rất xa so với thế giới. Năng suất lao động của ta trong suốt 20 năm hầu như không thay đổi,” ông Thiên nói.

Các báo cáo cũng chỉ ra rằng, ngay cả ở lĩnh vực nông nghiệp, là thế mạnh của Việt Nam thì năng suất lao động nông nghiệp của Việt Nam cũng chỉ bằng 1% của Singapore, 1-4% của Nhật Bản, Hàn Quốc hay các nước OECD; bằng khoảng 50% các nước thu nhập trung bình.

Cũng theo tiến sỹ Vũ Tuấn Anh, chuyên gia kinh tế cao cấp – Viện Kinh tế Việt Nam, mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay là phát triển theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và vốn theo hướng tăng xuất khẩu và thu hút FDI. Trong khi năng suất lao động tăng rất chậm, có xu hướng tụt hậu.

So sánh với các nước châu Á thời điểm 2010, thì Việt Nam có tốc độ tăng trưởng năng suất lao động chậm hơn hầu hết các nước, chỉ đạt 3,94%. Trong khi đó, Singapore đạt 11,78%, Trung Quốc gần 10%, các nước như Mala​ysia, Thái Lan, Ấn Độ… đều đạt từ 5,7-6,6%…

“Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập, thì lao động giá rẻ không còn là một lợi thế mà là nỗi lo của đất nước. Bởi lao động giá rẻ đồng nghĩa với chất lượng thấp, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng công nghệ trong sản xuất và quản lý ngày càng cao của doanh nghiệp,” tiến sỹ Vũ Tuấn Anh nói.

Một điểm yếu nữa được các đại biểu nhận diện tại diễn này là Việt Nam vẫn chưa chú trọng vào khoa học công nghệ

Theo tiến sỹ Vũ Tuấn Anh, phát triển công nghiệp của Việt Nam trong nhiều năm qua vẫn phụ thuộc phần lớn vào vốn và kỹ thuật nước ngoài; năng lực nội sinh cho công nghiệp hóa yếu.

Các báo cáo tại diễn đàn cho biết, giá trị sản lượng công nghiệp do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng, hiện chiếm tới trên 50%; trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân trong nước chỉ chiếm trên 30%. Công nghệ và thiết bị kỹ thuật trong công nghiệp lạc hậu tới 2-3 thế hệ.

90% công nghệ chuyển giao thông qua các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, chỉ có 10% thông qua việc mua bán công nghệ trên thị trường.

“Các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ ở mức thấp. Tính ra chi phí chỉ khoảng 0,2-0,3% doanh thu. Trong khi ở Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10%… Điều đáng lo ngại là phần lớn các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất đều hài lòng với trình độ công nghệ hiện tại mà họ đang sử dụng”, tiến sỹ Vũ Tuấn Anh nói .

Chỉ rõ về những yếu kém trong phát triển khoa học công nghệ, tiến sỹ Vũ Tuấn Anh nói thêm, cả nước có trên 1.600 tổ chức khoa học công nghệ, với hơn 4 triệu người có trình độ cao đẳng, đại học. Trong khi năm 2011, số bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ của Nhật là hơn 46.000, Hàn Quốc hơn 12.000, Trung Quốc hơn 3.100, Singapore 647, Malaysia 161, Thái Lan 53, Philippines 27, Indonesia 7, thì Việt Nam chỉ là 0.

Cùng quan điểm này, phó giáo sư, tiến sỹ Lê Xuân Bá cho rằng, tổng chi quốc gia cho nghiên cứu và phát triển ở mức thấp so với khu vực và thế giới. Tỷ lệ nghiên cứu và phát triển/GDP của Việt Nam năm 2011 là 0,21%, chỉ bằng 1/3 của Malaysia (0,7%) và thấp xa so với Hàn Quốc (3,4%).

Bên cạnh đó, tỷ lệ ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống còn hạn chế. Tỷ lệ sử dụng công nghệ cao của các doanh nghiệp chỉ đạt 2% so với 31% của Thái Lan; 51% của Malaysia và 73% của Singapore.

Chỉ số kinh tế tri thức năm 2012 của Việt Nam chỉ đạt 3,4 điểm, xếp thứ 103, cao hơn Indonesia, Lào và Campuchia, nhưng thấp xa so với Singapore (xếp thứ 23), Malaysia (thứ 48), Thái Lan (thứ 66), Philippinese (thứ 92)…

Đổi mới toàn diện (nhưng vẫn kiên định Mác-Lê-Mao?)

Để đổi mới đất nước, kinh tế Việt Nam cất cánh, trình độ khoa học công nghệ được nâng cao và đẩy mạnh năng suất lao động, tại diễn đàn, các chuyên gia cho rằng, cần có sự liên kết giữa đào tạo-người lao động-doanh nghiệp-quản lý nhà nước.

Bên cạnh đó, phải liên kết thực sự để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng, năng suất cao, góp phần giúp đất nước phát triển, vươn lên.

Cùng với đó, cần phải thực sự coi khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng hàng đầu; để từ đó tập trung nguồn lực cho những phát minh, sáng chế đem lại nhiều lợi ích, hiệu quả hơn.

Về mặt thể chế, những năm tới, Việt Nam cần phải có kế hoạch đổi mới cụ thể để giảm thiểu tụt hậu so với các nước; Phải đổi mới từ tư duy, thể chế kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập…

Trong đó, hướng đi tới là cổ phần h​óa, giảm bớt khu vực doanh nghiệp nhà nước trong GDP còn 15% vào năm 2020; hiện đại h​óa quản trị doanh nghiệp.

Cùng với đó là vực dậy nhanh chóng khu vực tư nhân để đóng vai trò nền tảng và động lực chủ yếu trong nền kinh tế…

[:-/] Thành tích gia công và sự trả giá tương lai (VNN 01/11/2015) – DN nước ngoài đổ đến Việt Nam để hưởng lợi nhân công giá rẻ. Các địa phương vui mừng báo cáo thành tích thu hút vốn tỷ đô. Nhưng, liệu họ có đầu tư công nghệ hiện đại hay Việt Nam chỉ hưởng những đồng gia công rẻ mạt để rồi lãnh đủ hệ quả ô nhiễm môi trường trong tương lai?

Trong một văn bản phát đi mới đây, Bộ KH-ĐT đã bày tỏ lo ngại về nguy cơ ô nhiễm môi trường do thành lập quá nhiều khu công nghiệp (KCN) dệt may tại các địa phương. Thời gian qua, để đón đầu Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã đầu tư hàng loạt KCN và triển khai các dự án đầu tư quy mô lớn trong lĩnh vực dệt may.

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, trong thu hút vốn FDI trong 6 tháng đầu năm 2015, ngành dệt may tăng đột biến. Trong tổng số vốn 5,85 tỷ USD đầu tư, dệt may chiếm hơn 1 tỷ, với nhiều dự án lớn. Dự báo, số các dự án đầu tư nước ngoài vào dệt may vẫn đang tăng vì Việt Nam đã trở thành thành viên của TPP và dệt may được cho là ngành hưởng lợi lớn.

Hiện rất nhiều DN từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ,… đang có ý định đầu tư nhà máy dệt may vào Việt Nam để hưởng lợi.

Nhiều địa phương trên cả nước cũng phát triển các khu công nghiệp lớn và khép kín về dệt may. Tại miền Bắc, Nam Định đang hướng tới trở thành trung tâm dệt may lớn, với những khu công nghiệp có diện tích hàng ngàn ha, vốn đầu tư hàng trăm triệu USD.

Tại miền Trung, Thừa Thiên – Huế cũng vừa công bố Quy hoạch phát triển ngành dệt may với tham vọng trở thành trung tâm lớn của khu vực. Tại miền Nam, các tỉnh như Long An, Tây Ninh, TP.HCM,… các KCN dệt may sẽ mọc lên nhan nhản thời gian tới. (…)

Thế nào được coi là nghèo ở Việt Nam?

T.A (BizLive) – Theo chuẩn tiếp cận đa chiều trong giai đoạn 2016-2020, người nghèo ở khu vực nông thôn được xác định là có thu nhập 700.000 đồng một tháng, thành thị là 900.000 đồng.


Ảnh minh họa

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 tại Việt Nam. Theo đó, ngoài thu nhập, chuẩn nghèo đa chiều còn liên quan tới mức độ thiếu hụt khi tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Chuẩn nghèo mới xác định mức thu nhập ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng mỗi tháng. Với khu vực thành thị, mức này cao hơn 200.000 đồng, tương đương 900.000 đồng mỗi tháng.

Với chuẩn cận nghèo, mức thu nhập được xác định là dưới 1 triệu đồng (ở nông thôn) và dưới 1,3 triệu đồng (ở thành thị ).

Trong khi đó, những dịch vụ xã hội cơ bản được liệt kê gồm tiếp cận y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch – vệ sinh và thông tin, bao gồm 10 tiêu chí cụ thể.

Tiếp cận theo hướng đa chiều, những người ở nông thôn có thu nhập từ 700.000 đồng trở xuống, hoặc thu nhập từ 700.000 đồng đến 1 triệu đồng nhưng thiếu 3 chỉ số tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản sẽ được coi là nghèo.

Tiêu chuẩn đối với dân cư sống tại thành thị cung tương tự, người nghèo là người có thu nhập từ 900.000 đồng trở xuống, hoặc thu nhập từ 900.000 đồng đến 1,3 triệu đồng nhưng thiếu hụt 3 chỉ số tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.

Theo news.zing.vn

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s