Việt Nam đã thực sự tụt hậu do phát triển “lạc điệu”

Posted: November 20, 2015 in Uncategorized
Tags:

Tư Giang (TBKTSG Online) – Việt Nam đã thực sự tụt hậu, và tụt hậu ngày càng xa hơn so với phần còn lại của thế giới vì mô hình phát triển “lạc điệu”.

� Xem thêm: Nghịch lý: Thế giới chuyển động, Việt Nam lại tụt hậu + Bất ngờ: Việt Nam nhập siêu từ nhiều nước châu Phi.


Tính từ 2015, Việt Nam phải mất lần lượt 10, 12 và 17 năm nữa để vượt qua
mức Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia đã đạt được ở năm 2011. Ảnh: TL TBKTSG

Đây là nhận xét của nhiều nhà kinh tế hàng đầu đất nước tại diễn đàn tổng kết 30 năm Đổi mới giai đoạn 1986 – 2015 được tổ chức hôm nay, ngày 19-11, tại Hà Nội.

Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, đơn vị phối hợp với các cơ quan khác tổ chức sự kiện này, phải “rào trước” rằng diễn đàn nhằm hưởng ứng tinh thần Nghị quyết 62 của Chính phủ trong phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8-2015 nhằm tổng kết 30 năm phát triển kinh tế Việt Nam so sánh với phần còn lại của thế giới.

Phát triển lạc điệu

Tiến sĩ Nguyễn Quang Thái, nguyên viện phó Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nói: “Chúng ta đã thực sự tụt hậu, và tụt hậu ngày càng xa hơn so với thế giới, chứ không còn nguy cơ gì cả.”

“Tình trạng tụt hậu của đất nước là do tư duy cũ kỹ. Chúng ta đã chọn sai mô hình tăng trưởng, lại chưa có thể chế mạnh tạo động lực phát triển vì vướng tư duy chưa đổi mới,” ông nói.

“Kinh tế Việt Nam không chỉ tụt hậu xa hơn, mà trong nhiều chiều cạnh đang đi lạc điệu so với xu hướng chung của thế giới,” ông nói tiếp.

Nguyên phó thủ tướng Vũ Khoan bổ sung thêm: “Người Việt Nam chúng ta thích tranh luận nhưng chỉ luẩn quẩn trong mấy chữ mà mất hai ba chục năm nay. Ví dụ, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cãi nhau 30 năm chưa kết thúc; rồi doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo cũng cãi nhau 30 năm rồi không kết thúc. Những chuyện này còn tranh luận dài dài, không biết đến bao giờ kết thúc được.”

Theo ông Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, những khái niệm như kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, kinh tế nhà nước là chủ đạo,… như “vòng kim cô” ghì chặt sự phát triển của đất nước.

Tụt hậu ngày càng xa

Theo nghiên cứu của ông Thiên, dù có những thành tựu đáng tự hào và đáng ngưỡng mộ trong suốt ba thập kỷ vừa qua, Việt Nam vẫn đang bị các nước phát triển hơn bỏ lại phía sau và khoảng cách ngày càng nới rộng. Việt Nam cũng đang bị bỏ lại phía sau trên các bảng xếp hạng toàn cầu trong phần lớn các tiêu chí phát triển.

Chẳng hạn, sức mạnh kinh tế của Việt Nam ngày càng nhỏ so với Trung Quốc. Tại thời điểm khởi động đổi mới, quy mô GDP của Việt Nam (tính theo giá cố định năm 2005) tương đương với 4,1% con số của Trung Quốc, tức 1/25. Nhưng tỷ lệ này không ngừng giảm xuống, đến 2013 chỉ còn 1,9%.

Tính theo sức mua tương đương PPP, vị thế của Việt Nam vẫn không mấy thay đổi, thậm chí mức độ thịnh vượng tương đối của người Việt Nam đang nhanh chóng giảm đi so với người Trung Quốc.

Ông đặt vấn đề, vậy đến 2035, tức sau hai thập niên kể từ bây giờ và 50 năm sau Đổi mới, Việt Nam sẽ nằm ở đâu trên bản đồ kinh tế thế giới?

Các dữ liệu được phân tích của ông Thiên chỉ ra rằng, đến 2035, mức độ thịnh vượng trung bình của người Việt Nam vẫn còn thua xa Đài Loan, Hàn Quốc ở thời điểm 2011, và chỉ bằng gần một nửa của Nhật Bản và 1/3 so với Singapore.

Tính từ 2015, Việt Nam phải mất lần lượt 10, 12 và 17 năm nữa để vượt qua mức Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia đã đạt được ở năm 2011.

Nói cách khác, sau 30 năm đổi mới, dù nhìn ở khía cạnh nào thì Việt Nam vẫn đang cách rất xa so với các nước đi trước.

“Nếu trong hai thập kỷ tới, Việt Nam không có những yếu tố đột phá vượt trội thì cục diện này sẽ chẳng có gì thay đổi,” ông cảnh báo.

Nhận xét về tình thế Việt Nam của ông Thiên tương đồng với một bài phân tích của Tiến sĩ Nguyễn Quang Thái. Ông Thái trích dẫn một loạt các chỉ tiêu so sánh quốc tế:

Về giáo dục, theo chỉ số Human Development, Việt Nam đứng hàng 121/187, có nghĩa là dưới trung bình. Không có trường đại học nào được lọt vào danh sách đại học có danh tiếng và có chất lượng.

Về bằng sáng chế, theo International Property Rights Index, Việt Nam đứng hàng 108/130 tính theo giá trị trí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ.

Về ô nhiễm, Việt Nam đứng ở vị trí 102/124, gần đội sổ danh sách.

Về thu nhập tính theo đầu người, Việt Nam đứng hàng 123/182 quốc gia, có nghĩa là Việt Nam đứng trong nhóm 1/3 quốc gia cuối bảng có thu nhập đầu người thấp nhất.

Về tham nhũng, theo Transparency International, Việt Nam đứng hàng 116/177 có nghĩa là thuộc 1/4 quốc gia cuối bảng.

Về chỉ số y tế, sức khoẻ, Việt Nam đứng hàng 160 trên 190 quốc gia, có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia có tổ chức y tế tệ nhất.

Đi tìm nguyên nhân

Theo nghiên cứu của ông Thái, năm 1990, khoảng cách thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam so với trung bình thế giới khoảng 4.000 đô la Mỹ.

Đến nay, khi GDP bình quân của Việt Nam đạt 2.000 đô la Mỹ thì GDP bình quân thế giới đã vượt 10.000 đô la Mỹ, tức khoảng cách phát triển đã lên gấp 2 lần.

Ông Thái phân tích, điều đó cũng có nghĩa là “sức mạnh kinh tế” của quốc gia không được cải thiện dù dân số đã tăng nhanh gần hai lần. Đó là chưa kể đến các khía cạnh tụt hậu về cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học-công nghệ, thể chế…còn khó khăn không nhỏ khi thế giới ngày càng hội nhập sâu, nguồn cân đối tài chính lại có hạn.

Nguyên nhân chính, theo tiến sĩ Thái, của tình trạng hiện nay của quốc gia là do tư duy cũ kỹ, đã chọn sai mô hình tăng trưởng, lại chưa có thể chế mạnh tạo động lực phát triển vì vướng tư duy chưa đổi mới. Kinh tế Việt Nam không chỉ tụt hậu xa hơn, mà trong nhiều chiều cạnh đang đi “lạc điệu” so với xu hướng chung của thế giới.

Trong khi đó, theo tiến sỹ Trần Đình Thiên, chặng đường 30 năm cải cách kinh tế Việt Nam đã chứng kiến những giai đoạn thăng trầm cùng những đột phá trong mở cửa thị trường, giá cả và tiến triển trên đường hội nhập quốc tế. Những thành tựu đáng kể đã được ghi nhận, bao gồm tăng trưởng kinh tế cao nhiều năm liên tục, đưa hàng triệu người thoát khỏi nghèo đói…

Tuy nhiên, ông cho rằng, thế giới luôn vận động theo quy luật đào thải khắc nghiệt.

“Hơn 40 mươi năm sau khi thống nhất đất nước và bước vào giai đoạn xây dựng, phát triển kinh tế, sự phức tạp của kinh tế – chính trị trong khu vực và trên thế giới trong vòng vài năm trở lại đây đang đưa Việt Nam rơi vào một hoàn cảnh mà sự tồn vong của dân tộc ở vào thế hiểm nguy hơn bao hết,” ông cảnh báo.

“Vị thế của Việt Nam chỉ có thể do chính Việt Nam tạo dựng và duy trì,” ông Thiên nhận xét.

Ông Thiên cho rằng, Việt Nam đã thành công nhờ đột phá trong cải cách năm 1986. Trước một bối cảnh đầy thách thức, nhưng cũng rất nhiều cơ hội mà thời cuộc hiện đang đặt ra cho Việt Nam, việc lựa chọn cho mình một chiến lược phát triển đúng đắn trong điều kiện liên tục đổi mới, sáng tạo là đòi hỏi bắt buộc.

‘Việt Nam đang tụt hậu ngày càng xa so với thế giới’

(saostar.vn) Theo BizLive – “Chúng ta đã thực sự tụt hậu, và tụt hậu ngày càng xa hơn so với thế giới, chứ không còn nguy cơ gì cả”, GS. TSKH Nguyễn Quang Thái, nguyên viện phó Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.


Ảnh minh họa.

Tại hội thảo tổng kết 30 năm phát triển kinh tế Việt Nam được tổ chức ngày 19/11, GS.TSKH Nguyễn Quang Thái cho biết, ngay những nước có thể coi là tụt hậu như Campuchia, Lào và Myanmar cũng đang có chuyển động mạnh với tốc độ tăng trưởng những năm gần đây cao hơn Việt Nam.

Ông chỉ ra rằng, vấn đề lớn nhất của Việt Nam là có ngập ngừng nhất định khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường với bộ máy cồng kềnh, sự can thiệp làm méo mó thị trường nên các khó khăn khách quan thêm nặng, khó khắc phục. Vị chuyên gia này cho rằng, cần nói những điểm tụt hậu để tìm ra các giải pháp.

“Cách đây một tuần, trong cuộc làm việc trực tiếp với Ngân hàng thế giới WB, họ đã ca ngợi Việt Nam rất tốt, đánh giá cao những thành tựu mà Việt Nam đạt được, tôi đã nói các bạn yêu Việt Nam nên tô hồng Việt Nam quá nhiều, các bạn muốn để Việt Nam tiến lên phải nói rõ những mặt yếu kém để Việt Nam vươn lên được. Trong bối cảnh hiện nay không thể lấy mô hình Trung Quốc, Hàn Quốc để theo mà nên có cách đi căn cơ hơn, nhìn tương lai bình tĩnh hơn”, ông Thái nói.

“Chúng ta đã thực sự tụt hậu, và tụt hậu ngày càng xa hơn so với thế giới, chứ không còn nguy cơ gì cả”, GS.TSKH Nguyễn Quang Thái tiếp lời.

Lý giải thêm, theo ông Thái, Việt Nam đang lỗi hệ thống, từ tư duy phát triển đến việc chọn sai mô hình, thậm chí “lạc điệu” so với thế giới.

“Chúng ta đã chọn mô hình không đúng. Cách đây 25 năm chúng tôi nói là lạc điệu vì thế giới đi một kiểu, Việt Nam đi một kiểu không giống ai, từ công nghiệp hoá chỉ muốn công nghiệp nặng, từ nước nông nghiệp đòi xây ngay công nghiệp nặng”, ông Thái thẳng thắn chỉ ra.

Bên cạnh đó, ông Thái cũng phê phán việc thu hút FDI của Việt Nam thời gian qua khi môt nhà máy có 4.000 công nhân, xưởng nghiên cứu 400 kỹ sư Việt Nam nhưng làm thạo việc lại là người nước ngoài.


Từ trái qua: Ông Nguyễn Quang Thái, Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan, ông Trần Đình Thiên.

Tại hội thảo, ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cũng đưa ra những nhận xét cho rằng, Việt Nam vẫn đang bị các nước phát triển hơn bỏ lại phía sau và khoảng cách ngày càng nới rộng. Đồng thời, dự báo kém lạc quan về kinh tế Việt Nam trong 5-10-20 năm tiếp theo.

Từ các dữ liệu được phân tích, ông Thiên cho biết, đến năm 2035, mức độ thịnh vượng trung bình của người Việt Nam vẫn còn thua xa Đài Loan, Hàn Quốc ở thời điểm 2011, và chỉ bằng gần một nửa của Nhật Bản và 1/3 so với Singapore.

Tính từ 2015, Việt Nam phải mất lần lượt 10, 12 và 17 năm nữa để vượt qua mức Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia đã đạt được ở năm 2011.

“Nếu trong hai thập kỷ tới, Việt Nam không có những yếu tố đột phá vượt trội thì cục diện này sẽ chẳng có gì thay đổi,” ông Trần Đình Thiên cảnh báo.

Trong khi đó, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan lưu ý, đánh giá lạc hậu hay không cần căn cứ vào tiêu chí. Bên cạnh đó, muốn đánh giá cần cái nhìn toàn diện là vấn đề phát triển đất nước không phải tăng trưởng kinh tế.

Ngoài ra, để đánh giá cần dựa vào thời điểm và hoàn cảnh của mỗi quốc gia, không thể so sánh với Isarel, Trung Quốc.

“So sánh phải dựa trên thời điểm và hoàn cảnh. Hoàn ảnh ta khác các nước khác, không thể so sánh vì có sự khác nhau giữa văn hoá, hoàn cảnh khách quan”, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan nhấn mạnh.

[:-/] Nghịch lý: Thế giới chuyển động, Việt Nam lại tụt hậu (tamnhin.net) – Ngành công nghiệp Việt Nam gần đây nổi lên lại phụ thuộc vào các thương hiệu của doanh nghiệp FDI, trong khi các ngành then chốt của nền kinh tế đề ra đã lâu nhưng doanh nghiệp nội địa chưa thể vươn tới. Hiện nay, gần như không có ngành công nghiệp thể chế nào mà công ty trong nước có thể chiếm lĩnh thị trường.

Kinh tế Việt Nam đang tụt hậu khá rõ

Chia sẻ tại Diễn đàn kinh tế Việt Nam: Tổng kết 30 năm phát triển kinh tế Việt Nam (1986 – 2015), ông Nguyễn Quang Thái – chuyên gia kinh tế cao cấp – Hội kinh tế Việt Nam cho biết, mặc dù Việt Nam đã có tiến bước ngoạn mục từ trình độ phát triển thấp, nhưng các nước hầu hết đã phát triển cao hơn nước ta. Ngay cả các nước có thể coi là “tụt hậu” như Campuchia, Lào và Myanmar cũng đang chuyển động mạnh, với tốc độ tăng trưởng mấy năm nay đều cao hơn Việt Nam.

Lý giải về vấn đề này, ông Thái cho biết, mặc dù một số ngành của Việt Nam có “lợi thế so sánh” như trồng lúa, nhưng do không chú trọng chất lượng nên hiệu quả thu về thấp. Xuất khẩu lúa đến nay không có thương hiệu quốc gia. Năng suất lúa tuy cao hơn, nhưng chất lượng hạt gạo kém, nên năng suất lao động thêm tụt hậu trong nông nghiệp, từ đó, năng suất lao động cả nước tụt sâu. Các lĩnh vực về lâm nghiệp và thủy sản cũng có tiến bộ nhưng chất lượng kém, gây khó khăn trong điều kiện hội nhập.

“Ngành công nghiệp gần đây nổi lên lại phụ thuộc vào các thương hiệu của doanh nghiệp FDI, trong khi các ngành then chốt của nền kinh tế đề ra đã lâu, nhưng doanh nghiệp nội địa chưa thể vươn tới. Hiện nay, gần như không có ngành công nghiệp thể chế nào mà công ty trong nước có thể chiếm lĩnh thị trường”, chuyên gia kinh tế cao cấp – Hội kinh tế Việt Nam nói.

Phụ thuộc Trung Quốc là nguy cơ tiềm ẩn

Cũng liên quan đến quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam, ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nhận định, trong 30 năm qua, thành tựu quan trọng bậc nhất của Đổi mới là việc chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp dựa trên nền tảng nền kinh tế nông nghiệp – nông dân cổ truyền sang kinh tế thị trường. Nhờ đó, đất nước thoát khỏi phương thức phát triển lạc hậu, biến quá trình này thành xu hướng không thể đảo ngược. Đây là kết quả của sự liên tục đổi mới tư duy phát triển, chuyển hóa sức mạnh của tư duy phát triển mới, phù hợp với xu hướng chung của thế giới, thành các thành tựu kinh tế hiện thực.

Tuy nhiên, ông Thiên cũng cho biết, những thành tựu phát triển đã đạt được không bảo đảm rằng Việt Nam sẽ tiếp tục thành công trong những giai đoạn tiếp theo. Một loạt các vấn đề cấu trúc đang cản trở khả năng phát triển đột phá của đất nước. Đó là sự méo mó của thị trường gây ra bởi sự độc quyền và đặc quyền của doanh nghiệp Nhà nước, sự yếu kém của hệ thống tài chính và những nút thắt thể chế, kỹ năng thấp của nguồn nhân lực, chi phí vận tải đắt đỏ, tiếp cận tín dụng, năng lượng và đất đai khó khăn.

“Trong bối cảnh thế giới đang trải qua một thời kỳ hết sức phức tạp, cùng với đó là các vấn đề xã hội khác như môi trường xuống cấp, biến đổi khí hậu, dân số già hóa cần được giải quyết, thì việc Việt Nam cam kết hội nhập ở đẳng cấp cao nhất đang đặt ra những thách thức to lớn. Việc lựa chọn sai mô hình phát triển có thể đưa đất nước đi ngược lại tiến trình phát triển và sẽ tụt hậu phát triển ngày càng xa hơn”, ông Thiên nhận định.

Liên quan đến xếp hạng cạnh tranh và thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam, ông Thiên cũng cho biết, Việt Nam là nước đứng thứ 99 về năng lực cạnh tranh song thu nhập bình quân đầu người lại chỉ ở mức 1.400 USD trong khi các nước có vị trí tương đương mức thu nhập bình quân đầu người lên tới 7.545 USD. (…)

[:-/] Việt Nam lọt vào top 10 quốc gia nhiều kỹ sư nhất thế giới (Một Thế Giới 22/6/2015) – Gần đây, trang Forbes đã đưa tin Việt Nam lọt vào top 10 nước có số lượng kỹ sư lớn nhất thế giới.


Ảnh: nguồn Forbes

Theo nghiên cứu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (không bao gồm Trung Quốc và Ấn Độ do thiếu dữ liệu). Với 100.390 người, Việt Nam xếp thế 10 trong bảng xếp hạng các nước có số lượng kỹ sư cao nhất.

Đứng đầu danh sách là Nga với 454.000 sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ sư, sản xuất và xây dựng. Mỹ là quốc gia xếp thứ hai với 237.826 người, Iran đứng thứ ba với 233.695 người.

Indonesia và Việt Nam được coi là hai quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, đang đạt những dấu hiệu tích cực trong bảng xếp hạng này. Indonesia xếp thứ sáu trong bảng xếp hạng với 140.169 người.

Forbes cũng đánh giá rằng, trong những thập kỷ qua, một số quốc gia phát triển như Nhật Bản, Mỹ luôn chiếm số lượng sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ sư cao nhất. Tuy nhiên, số liệu này đang có những dấu hiệu thay đổi.

Bất ngờ: Việt Nam nhập siêu từ nhiều nước châu Phi

Minh Thái (BĐV) – Việt Nam đang nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu từ thị trường châu Phi dù đây là thị trường tiềm năng đối với một quốc gia nông nghiệp như Việt Nam.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn dẫn số liệu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước châu Phi thuộc Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi (UEMOA) từ năm 2007 đến 2014 cho thấy Việt Nam ngày càng nhập khẩu nhiều từ châu lục này.

Theo đó, ở giai đoạn 2007-2014, trong cán cân thương mại của Việt Nam với tám nước thuộc UEMOA, gồm Bờ Biển Ngà, Benin, Burkina Faso, Guinea Bissau, Mali, Niger, Senegal, và Togo thì có ba năm 2011, 2013 và 2014 Việt Nam nhập siêu.

Đặc biệt trong hai năm 2013 và 2014 Việt Nam nhập siêu với giá trị khá lớn: năm 2013 Việt Nam chỉ xuất khẩu được 382,8 triệu đô la Mỹ nhưng nhập tới 552,4 triệu đô la Mỹ, và năm 2014 xuất khẩu của Việt Nam giảm còn 293,3 triệu đô la Mỹ trong khi nhập tiếp tục tăng lên 560,8 triệu đô la Mỹ.

Bat ngo: Viet Nam nhap sieu tu nhieu nuoc chau Phi
Xuất khẩu gạo vốn là thế mạnh của Việt Nam cũng đang bị cạnh tranh ở châu Phi

Những sản phẩm của Việt Nam xuất vào thị trường UEMOA chủ yếu là gạo, chiếm tới 50 – 70% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực này, tăng từ 51,7 triệu đô la Mỹ năm 2007 lên 135,5 triệu đô la Mỹ năm 2014. Ngoài ra, Việt Nam còn xuất khẩu các nhóm hàng dệt may, linh kiện phụ tùng ô tô, xe máy, nguyên liệu thuốc lá… Trong khi đó mặt hàng Việt Nam nhập khẩu chính từ thị trường UEMOA là hạt điều và bông, chiếm tới 89% tổng giá trị nhập khẩu, bên cạnh sắt thép phế liệu, gỗ…

Còn với Cộng đồng Kinh tế và Tiền tệ Trung Phi (CEMAC) gồm sáu quốc gia là Cameroon, CH Trung Phi, CH Congo, Gabon, Guinea Xích đạo và CH Tchad, xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này cũng giảm đáng kể, nhưng nhập khẩu lại tăng lên qua các năm.

Năm 2007 xuất khẩu của Việt Nam qua CEMAC đạt 37,6 triệu đô la Mỹ, trước khi đạt đỉnh vào năm 2013 với 153,65 triệu đô la Mỹ, nhưng năm 2014 xuất khẩu của Việt Nam vào CEMAC giảm đáng kể, chỉ còn 64,72 triệu đô la Mỹ. Trong khi đó nhập khẩu từ thị trường này thì tăng lên.

Các mặt hàng Việt Nam xuất qua CEMAC cũng chủ yếu là gạo, chiếm tới 50% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này, và nhập khẩu chủ yếu là gỗ.

Như vậy, trong thương mại với hai thị trường Tây Phi và Trung Phi gồm 14 nước, xuất khẩu của Việt Nam giảm dần, trong khi đó nhập khẩu lại tăng lên.

Ông Hoàng Đức Nhuận, Phó vụ trưởng Vụ thị trường châu Phi, Tây Á, Nam Á thuộc Bộ Công thương cho biết, việc xuất khẩu gạo của Việt Nam vào thị trường CEMAC bị giảm xuống từ 85 triệu đô la Mỹ năm 2013 còn 25,1 triệu đô la Mỹ trong năm 2014, do sự cạnh tranh của gạo Thái Lan tại thị trường này.

Còn nhớ, nhiều năm trước đây, một số chuyên gia nông nghiệp của Việt Nam đã tính đến việc “xuất khẩu” nông dân Việt sang châu Phi. Theo GS.TS Võ Tòng Xuân, nông dân Việt rất giỏi, đã đi hơn 80 nước trên thế giới. Từ năm 2006, ông đã xây dựng chương trình đưa nông dân qua châu Phi. Đầu tiên ông đưa các kỹ sư nông học, kỹ sư thủy lợi sang Sierra Leone để hướng dẫn người dân ở đây trồng lúa, làm thủy lợi, sau đó ông dự tính đưa nông dân Việt Nam sang để cùng nông dân Sierra Leone lo sản xuất, theo tỉ lệ 1 nông dân Việt Nam dạy nghề cho 4 nông dân Sierra Leone.

“Vào thời điểm đó, tôi hợp tác với  Sierra Leone để giúp họ sản xuất lúa. Khi qua Sierre Leone khảo sát tình hình, tôi nhận thấy người dân ở Sierra Leone rất ít kinh nghiệm trồng lúa cao sản, hệ thống thuỷ lợi gần như không có gì và phương tiện làm đất như máy cày, máy xới lại càng không có nên mùa vụ lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Vì vậy cần phải dạy họ theo kiểu cầm tay chỉ việc và để làm cách này thì nông dân mình có thể làm tốt bởi Sierra Leone đất rộng, điều kiện khí hậu khá giống với Việt Nam sẽ có thể áp dụng kỹ thuật canh tác ĐBSCL.

Tháng 8/2006, 3 kỹ sư nông học sang thử nghiệm 60 giống lúa cao sản dưới 100 ngày, chọn được 8 giống có năng suất 4,5 đến 5,2 tấn/ha (so địa phương chỉ đạt dưới 2 tấn/ha), và nhân ra được 3 tấn lúa giống. Hai kỹ sư thuỷ lợi cũng sang thiết kế hệ thống thuỷ nông hoàn chỉnh. Xong đâu đấy, tôi dự tính đưa nông dân Việt Nam sang để cùng nông dân Sierra Leone lo sản xuất, theo tỉ lệ 1 nông dân Việt Nam dạy nghề cho 4 nông dân Sierra Leone”, GS.TS Võ Tòng Xuân cho biết.

Tuy nhiên, “kế hoạch là như vậy nhưng cuối cùng chỉ 1, 2 người đi được vì Nhà nước không lo được”, GS.TS Võ Tòng Xuân nuối tiếc.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s