Nợ công tăng thêm 250.000 tỉ đồng mỗi năm

Posted: December 1, 2015 in Uncategorized
Tags:

Bích Diệp (Dân Trí) – Theo BVSC, mặc dù tỷ lệ nợ công/GDP không thay đổi nhưng với tốc độ tăng GDP danh nghĩa bình quân trên 10% mỗi năm, quy mô nợ công hàng năm trên thực tế có thể tăng thêm khoảng trên 250.000 tỉ đồng.

� Xem thêm: Thủ tướng: Việt Nam sẽ đóng góp 1 triệu USD vào Quỹ Khí hậu xanh + Sự tụt hậu của người Việt: Nghèo nhưng vẫn tiêu hoang?


Nợ công của Việt Nam được cho biết vẫn (sẽ mãi) trong giới hạn an toàn (ảnh: Bloomberg)

Bộ phận phân tích của Công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC) vừa công bố báo cáo chuyên đề nợ công với tiêu đề “Cần cách nhìn trực diện”.

Theo đánh giá tại báo cáo, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam có xu hướng tăng liên tục với tốc độ khá nhanh, từ mức 51,7% năm 2010 lên mức 59,6% năm 2014 và ước tính sẽ đạt mức 64,3% trong năm 2017 (áp sát mức trần 65% mà Quốc hội cho phép).

Đặc biệt giai đoạn 2013-2014, việc phát hành khối lượng lớn trái phiếu Chính phủ đã khiến nợ công tăng mạnh.

Đáng lưu ý, tỉ lệ này được tính trên GDP danh nghĩa, do vậy, theo BVSC, trong những năm có lạm phát cao (giai đoạn trước 2012), GDP danh nghĩa tăng nhanh là một yếu tố giúp cho tỉ lệ nợ công/GDP ở mức thấp tương đối.

Tuy nhiên, trong 3 năm trở lại đây, bên cạnh nguyên nhân chính xuất phát từ việc gia tăng phát hành trái phiếu chính phủ, GDP danh nghĩa tăng chậm lại cũng là một yếu tố khiến tỉ lệ nợ công có xu hướng tăng tốc.

Với tốc độ tăng trưởng GDP thực tế hàng năm dự báo là 6,5% và đặt kịch bản lạm phát bình quân ở mức 4- 6% trong các năm tới, GDP danh nghĩa ước tính sẽ tăng bình quân trên 10% mỗi năm.

BVSC cho rằng, đây là một khía cạnh cần đặc biệt lưu ý vì “mặc dù tỷ lệ nợ công/GDP không thay đổi nhưng với tốc độ tăng GDP danh nghĩa như vậy, quy mô nợ công hàng năm trên thực tế có thể tăng thêm khoảng trên 250.000 tỉ đồng”.

Cũng theo nhận xét của BVSC, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam đang ở mức cao hơn khá nhiều so với một số nước khác, có điều kiện phát triển tương đồng trong khu vực.

Điểm đáng chú ý là kể từ năm 2006, trong khi tỷ lệ này có xu hướng giảm dần hoặc khá ổn định tại các nước khác thì ở Việt Nam lại tăng khá rõ nét, điển hình giai đoạn từ năm 2009 cho đến nay, và khoảng cách đang dần nới rộng.

Ở một góc nhìn khác, kể cả khi bóc tách phần vay ODA, vay thương mại ưu đãi song phương và đa phương của Chính phủ ra (do phần này nhìn chung có độ an toàn cao hơn, chi phí lãi vay thấp hơn – trừ khi có biến động lớn về tỷ giá) thì tổng các khoản nợ còn lại từ phát hành trái phiếu, tín phiếu, nợ bảo lãnh… của Việt Nam vẫn đứng thứ 2 trong số các nước thuộc mẫu so sánh.

“Mặc dù đây là phép so sánh tương đối nhưng do được tính trên % GDP nên khoảng cách chênh lệch trên thực tế là rất lớn” – bản báo cáo nhận định.

[:-/] Thủ tướng: Việt Nam sẽ đóng góp 1 triệu USD vào Quỹ Khí hậu xanh (Dân Trí) – Phát biểu tại COP 21, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: Việt Nam sẽ thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ trong Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, đồng thời cam kết sẽ đóng góp 1 triệu USD vào Quỹ Khí hậu xanh giai đoạn 2016-2020.

Để triển khai thành công Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững đã được thông qua tại New York tháng 9/2015 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh cộng đồng quốc tế cần có quyết tâm chính trị mạnh mẽ và…

Sự tụt hậu của người Việt:
Nghèo nhưng vẫn tiêu hoang?

(tamnhin.net) Theo Trí thức trẻ/CafeF – Đến năm 2035, mức độ thịnh vượng trung bình của người Việt Nam vẫn còn thua xa Đài Loan, Hàn Quốc và chỉ bằng gần một nửa của Nhật Bản và 1/3 so với Singapore vào thời điểm năm 2011.

Nhận định trên được đưa ra trên cơ sở so sánh về hai chỉ tiêu GDP/công nhân và GDP/nhân công nông nghiệp do Viện kinh tế Việt Nam thực hiện.

Theo đó, dù lấy năm 1970, 1980 hay năm 2000 của Việt Nam là năm cơ sở để so sánh thì xuất phát điểm của Việt Nam cũng đều thấp hơn phần lớn các quốc gia khác. Điều đáng bàn là khoảng cách tuyệt đối về năng suất lao động của công nhân Việt Nam và các nước đều đang tăng nhanh, vì thế, cho dù năng suất lao động của Việt Nam có cao hơn những nước thuộc nhóm thu nhập cao thì khoảng cách thực tế về mức độ thịnh vượng quốc gia vẫn ngày một lớn hơn.

Thua xa thế giới về mức độ thịnh vượng của quốc gia

Sản xuất nông nghiệp được coi là một thế mạnh của Việt Nam, khi đây là nguồn sinh kế chính của phần lớn người dân trong nước. Cho dù trong bảng xếp hạng các quốc gia xuất khẩu gạo, cà phê, dệt may, thủy hải sản thì Việt Nam đều có vị trí nhất nhì, song nhìn vào chỉ tiêu năng suất lao động thì đây là điểm “thiếu sáng” theo đánh giá của TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam.

Dữ liệu chỉ số phát triển thế giới (WDI) cho biết năm 1990 bình quân một công nhân ngành nông nghiệp tạo ra giá trị gia tăng tương đương 266 USD (theo giá cố định năm 2005); đến năm 2000 tăng lên 355 USD và lên 476 USD vào năm 2013.

Mặc dù năng suất lao động ngành nông nghiệp đã tăng lên đều đặn trong 20 năm qua nhưng việc so sánh tỷ lệ giữa giá trị gia tăng nông nghiệp/nhân công Việt Nam với một quốc gia và nhóm quốc gia khác lại cho thấy nền nông nghiệp Việt Nam đang ngày càng tụt hậu.

Theo đó, năng suất lao động nông nghiệp Việt Nam chỉ tương đương 1% Singapore, bằng 1-4% của Nhật Bản, Hàn Quốc hay các nước OECD; bằng khoảng ½ của các nước thu nhập trung bình thấp. Đầu những năm 1990, năng suất lao động nông nghiệp Việt Nam tương đương 80% so với Trung Quốc nhưng tỷ lệ này giảm bình quân mỗi năm 1 điểm phần trăm trong 3 thập niên qua.

Đặc biệt, khi so sánh về sức mạnh kinh tế tổng hợp của quốc gia khi lấy Trung Quốc làm cơ sở tham chiếu, cho thấy kinh tế Việt Nam ngày càng nhỏ so với nước này. Tại thời điểm bắt đầu đổi mới, quy mô GDP của Việt Nam tương đương 4,1% của Trung Quốc, tức là bằng 1/25.

Song tỷ lệ này không ngừng giảm xuống, đến năm 2013 chỉ còn 1,9%, vị thế của người Việt Nam vẫn không thay đổi, khi tỷ lệ của hai tiêu chí là bình quân đầu người của Việt Nam so với Trung Quốc thì đều đang giảm đi.

Một so sánh khác khi lấy dữ liệu GDP theo đầu tư hợp tác công tư (PPP) năm 2005 trong cơ sở dữ liệu tài khoản quốc gia (Penn World Teble). Với một giả định về kịch bản lạc quan nhất trong giai đoạn 2015 – 2020, Việt Nam sẽ tăng trưởng GDP/đầu người ở mức 6% và sau đó đạt bình quân 8% cho thời gian còn lại, thì đến năm 2035 mức độ thịnh vượng trung bình của người Việt Nam vẫn còn thua xa Đài Loan, Hàn Quốc, chỉ bằng gần một nửa của Nhật Bản và bằng 1/3 so với Singapore vào thời điểm năm 2011.

Mức độ chi tiêu đáng giật mình

Theo Viện Kinh tế Việt Nam, nếu coi những giả định trên là hợp lý thì tính từ năm 2015, Việt Nam phải mất lần lượt là 10, 12 và 17 năm nữa để vượt qua mức của Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia đã đạt được ở năm 2011. Do đó, TS. Thiên cho rằng nếu trong hai thập kỷ tới, Việt Nam không có những yếu tố đột phá vượt trội thì sẽ không có gì thay đổi.

Trong khi GDP bình quân đầu người ở mức thấp, nền kinh tế tụt hậu ở ngay cả những lĩnh vực có thế mạnh là nông nghiệp và sức mạnh tổng hợp của quốc gia còn hạn chế thì mức độ chi tiêu của người Việt lại đáng giật mình. Mặc dù ngân sách khó khăn, song mỗi năm vẫn chi ra tới gần 13.000 tỉ đồng để nuôi 40.000 xe ô tô công, chưa bao gồm xe tại các đơn vị vũ trang, doanh nghiệp Nhà nước.

Trước đó, trao đổi với chúng tôi đại biểu Bùi Đức Thụ (đoàn Lai Châu), Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội cho rằng việc chi nhiều cho xe công là nguyên nhân khiến cho tỷ lệ chi thường xuyên tăng cao, gây áp lực lớn cho chi ngân sách nhà nước. Do đó, cần có biện pháp tiết kiệm như khoán xe công, xử lý nghiêm việc sử dụng xe công không đúng mục đích hoặc cắt giảm các hoạt động lãng phí như hội nghị, khánh tiết…

Nhìn ở góc độ khác, tờ Straitstimes dẫn theo báo cáo về tăng trưởng ngành công nghiệp ô tô ở khu vực Đông Nam Á, cho hay doanh số bán hàng tại Việt Nam năm 2014 là 37,6% và dự báo sẽ đạt 19,9% trong năm nay. Đây là mức cao hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực, khi Philippines đạt 29%, Indonesia đạt 6,6% và Malaysia chỉ có 1,9%.

Đáng chú ý là nhu cầu xe hạng sang của Việt Nam rất lớn và có thể sẽ vượt qua Singapore, nước có tỷ lệ sử dụng xe sang lớn nhất, theo thông tin từ tờ Los Angeles Times. Nếu vài năm trước, Mercedes và BMW còn thống trị thị trường xe sang Việt Nam thì gần đây đã có thêm Rolls-Royce, Porsche, Audi, Lexus, Infiniti và Lamborghini đã tới Hà Nội. Lượng xe hơi bán tại Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi trong 2 năm, từ 9.500 chiếc vào năm 2012 lên 21.700 chiếc năm 2014.

“Những chiếc Rolls-Royce nhập khẩu về Việt Nam có giá từ 979.000 USD cho đến 2,5 triệu USD, không ít phiên bản đặc biệt, mạ vàng thể hiện nhu cầu xa xỉ của dân Việt” – tờ này trích dẫn.

Người Việt Nam cũng khá mạnh tay chi ra nhiều tiền để xài đồ xa xỉ, khi Việt Nam đang trở thành kinh đô mới mà các nhãn hàng xa xỉ đặt chân đến. Hãng nghiên cứu Knight Frank trong báo cáo Wealth Report 2015 công bố hàng xa xỉ tại Việt Nam đã và đang tăng trưởng mạnh mẽ. Các loại mặt hàng túi xách cao cấp như Hermes, Cartier, Louis Vuiton đều có mặt tại các trung tâm thương mại lớn, nhỏ tại TP HCM và Hà Nội…

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s