Giải quyết những thách thức từ nền kinh tế

Posted: December 3, 2015 in Uncategorized
Tags:

Tư Giang (TBKTSG Online) – “Tôi cho rằng chúng ta cần có giải pháp với việc Việt Nam nhập siêu dữ dội từ Trung Quốc. Năm ngoái chúng ta đã nhập siêu tới 29 tỉ đô la Mỹ, năm nay có thể lên tới 32 tỉ đô la Mỹ. Nếu cứ tiếp tục mối quan hệ kinh tế như thế này thì chúng ta không thể bền vững được”.

� Xem thêm: Chi trả nợ gấp hơn 2 lần số thu từ bán dầu thô + Việt Nam nghĩ lại việc thoát Trung: Không sợ nước lớn + Mỹ không tính ‘thoát Trung’, Việt Nam sao phải vội?


Kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức – Ảnh TH

Đây là nhận xét của chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh tại hội thảo quốc tế có tên gọi “Dự báo kinh tế xã hội phục vụ lập kế hoạch trung hạn trong bối cảnh hội nhập quốc tế” do Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Đại sứ quán Ailen tổ chức ngày 2-12 tại Hà Nội.

Vấn đề ông Doanh đặt ra là để làm rõ một báo cáo về kinh tế Việt Nam của ông Đặng Đức Anh, thuộc Trung tâm trình bày.

Theo ông Anh, sự phụ thuộc của kinh tế Việt Nam vào Trung Quốc, đặc biệt là nhập khẩu, “ngày càng nghiêm trọng”. Theo tính toán của ông, nhập siêu từ Trung Quốc/tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam chiếm tới gần 9% năm 2013 và gần 9,7% năm 2014.

“Thặng dư thương mại với các đối tác khác chủ yếu để bù đắp cho nhập siêu từ Trung Quốc. Tính phụ thuộc này ngày càng tăng đặc biệt khi Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, dẫn đến nhập siêu từ Trung Quốc có thể tăng lên trong thời gian tới”, ông Anh cảnh báo.

Theo ông Doanh, trong bức tranh kinh tế toàn cảnh của Việt Nam cũng cần chú trọng thêm vấn đề ô nhiêm môi trường. Lấy trường hợp Trung Quốc, quốc gia có GDP âm tới 6,5% hàng năm vì ô nhiễm môi trường, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, ông nói: “Chúng ta phải đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay như thế nào”.

Nêu các tình trạng biến đổi khí hậu làm nhiễm mặn thâm nhập sâu vào Bến Tre, Kiên Giang, sạt lở đất, người dân bị bệnh tật do ô nhiễm khói, bụi, ông nói: “Nếu chúng ta không có biện pháp sớm thì thiệt hại có thể lên trên 1-2% GDP”.

Kinh tế vẫn lạc hậu

Theo ông Cao Viết Sinh, chuyên gia cao cấp, nguyên thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 2011-2015, tăng trưởng kinh tế trung bình của Việt Nam đạt mức gần 5,9%, là thấp hơn 0,5 điểm phần trăm so với tiềm năng khoảng 6,5%.

“Qua thời gian rất dài, mô hình tăng trưởng của ta vẫn dựa vào vốn, khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ. Bên cạnh đó, sức cạnh tranh kém, hội nhập chưa thật bền vững”, ông Sinh nói.

Theo ông Anh, trong giai đoạn 2011-15 xuất khẩu vẫn dựa vào các mặt hàng có giá trị gia tăng như khoáng sản thô, nông sản, công nghiệp nhẹ. Hơn nữa, tỷ trọng hàng khoáng sản xuất khẩu, đặc biệt là dầu thô, có xu hướng gia tăng.

Ông cho rằng, trong cơ cấu của nền kinh tế, khu vực FDI chiếm tỷ trọng ngày càng lớn làm dấy lên sự quan ngại khi Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA).

“Câu hỏi đặt ra liệu khu vực trong nước có thực sự hưởng lợi từ các FTA này hay chỉ là các doanh nghiệp FDI”, ông Anh băn khoăn.

Ông Nguyễn Quốc Việt, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội nói thêm: “Chúng ta có chủ trương công nghiệp hoá-hiện đại hoá mà về cơ cấu ngành kinh tế, lĩnh vực nông nghiệp ngày càng thu hẹp, tác động ngày càng ít đi trong tăng trưởng kinh tế”.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh bổ sung: “Câu hỏi lớn đặt ra là quá trình công nghiệp hoá của Việt Nam diễn ra như thế nào? Liệu chúng ta có rơi bẫy tự do hoá thương mại không vì với thuế suất bằng 0, và các biện pháp tự vệ cổ truyền như hạn chế định lượng nhập khẩu không còn, thì Việt Nam sẽ cạnh tranh bằng gì? Tương lai ngành cơ khí sẽ ra sao?”

Ông Doanh cho rằng, cần đặc biệt chú ý đến ngân sách nhà nước. Trong hai năm qua, mức bội chi tăng lên; Bộ Tài chính phải vay 30.000 tỉ đồng của Ngân hàng Nhà nước, vay 1 tỉ đô la Mỹ của Vietcombank, phát hành trái phiếu quốc tế, thoái vốn hơn 4 tỉ đô la Mỹ từ các doanh nghiệp nhà nước.

“Số tiền vay và sẽ vay vượt xa con số bội chi. Vậy thì chi cho việc gì, chi trả nợ ra sao?” ông Doanh nêu câu hỏi.

Chi trả nợ gấp hơn 2 lần số thu từ bán dầu thô

Lê Thanh (TT) – Trong 11 tháng, Việt Nam chi trả nợ và viện trợ 142.400 tỉ đồng, trong khi số thu từ 15,28 triệu tấn dầu thô được 60.500 tỉ đồng.

Ngày 2-12, Bộ Tài chính cho biết tính đến hết tháng 11-2015, tổng thu nội địa từ hoạt động sản xuất kinh doanh đạt 642.700 tỉ đồng, vượt kế hoạch cả năm 0,6%.

Đóng góp cho thành tích này là 10 khoản thu đã đạt và vượt mục tiêu đặt ra. Cụ thể thuế bảo vệ môi trường đạt 186%; thuế sử dụng đất nông nghiệp đạt 154,5% do tăng thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu lên 300% từ ngày 1-5-2015; các khoản thu về nhà, đất đạt 143,1%; lệ phí trước bạ đạt 127,8%…

Còn thu từ dầu thô, theo Bộ Tài chính, lũy kế 11 tháng đạt 60.570 tỉ đồng, bằng 65,1% dự toán. Sản lượng dầu thanh toán 11 tháng ước đạt xấp xỉ 15,28 triệu tấn, bằng 103,4% kế hoạch năm.

Sở dĩ số thu từ dầu thô giảm mạnh là do giá dầu thanh toán bình quân đạt khoảng 57 USD/thùng, giảm 43 USD/thùng so giá dự toán.

Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 11 tháng ước xấp xỉ 152.300 tỉ đồng, bằng 87% dự toán.

Như vậy, tính đến nay, tổng thu cân đối 11 tháng đạt khá với 860.000 tỉ đồng, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2014, bằng 94,4% kế hoạch đặt ra năm 2015.

Còn về thực hiện chi ngân sách nhà nước, trong 11 tháng qua, ngân sách đã chi 1.015.000 tỉ đồng, tăng 7,4% so cùng kỳ năm 2014.

Trong đó chi đầu tư phát triển đạt 151.900 tỉ đồng; chi trả nợ và viện trợ 142.400 tỉ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ năm 2014; chi kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, hành chính 712.500 tỉ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2014.

Về cân đối ngân sách giữa số thu và số chi, Bộ Tài chính cho hay bội chi ngân sách nhà nước 11 tháng qua hay nói cách khác là chi vượt thu xấp xỉ 155.600 tỉ đồng, bằng 69% kế hoạch được giao.

Phải thế này và phải thế kia; cần thế này và cần thế nọ… các ngài tiến sĩ của đảng luôn sống lơ lửng trên thiên đường XHCN. Lại còn so VN với Mỹ về vấn đề thoát Trung:

[:-/] Việt Nam nghĩ lại việc thoát Trung: Không sợ nước lớn (BĐV) – Không phải cứ yếu là phải thoát, vấn đề của VN là phải nâng cao vị thế, tận dụng lợi thế, củng cố vị trí trên thị trường quốc tế.

Nói về chủ trương “thoát Trung” đã được đặt ra từ giữa năm 2014, nhưng tới nay, nhiều nhận định cho rằng, nỗ lực này gần như đã thất bại. Trao đổi với Đất Việt, TS. Dương Đình Giám – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, quan điểm của ông là không nên có quan điểm “thoát Trung”. Bởi lẽ, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia đều cần dựa lưng nhau vì những mối giao thoa về lợi ích. Chính vì thế, Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào khác cũng có những thuận lợi và khó khăn riêng trong phát triển kinh tế.

TS. Dương Đình Giám tin rằng, nhìn chung, không quốc gia nào có chủ trương chèn ép, gây khó khăn cho Việt Nam nói riêng hay bất kỳ quốc gia nào khác khi làm ăn với họ.

“Vì vậy, thay vì đặt vấn đề “thoát hay không thoát”, ngay lúc này, Việt Nam cần tận dụng lợi thế của mình, đồng thời cần đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ trên mọi lĩnh vực, không ngừng nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế để tránh nguy cơ lệ thuộc vào một thị trường, mà cụ thể ở đây là Trung Quốc” – vị chuyên gia nhấn mạnh.

Ông cho rằng, khi bị lệ thuộc vào một thị trường, dù ở lĩnh vực nào, xuất khẩu hay nhập khẩu, đều có thể gây bất lợi cho Việt Nam. Từ phụ thuộc vào thị trường, sẽ bị động về chính sách và rủi ro tăng lên.

“Vấn đề của Việt Nam không phải là “thoát Trung” mà phải thoát ly, tránh phụ thuộc vào Trung Quốc”, tuy nhiên, ông luôn nhấn mạnh, thoát ly ở đây không có nghĩa là “cách ly”, là đóng cửa hoàn toàn.

Sở dĩ đặt vấn đề như vậy, theo ông, trong mối quan hệ thương mại Việt – Trung, Việt Nam có rất nhiều lợi thế. Trước hết, Trung Quốc là thị trường đông dân, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa cao và đa dạng ở nhiều cấp chất lượng. Tiếp đến là vị trí gần, tiết kiệm được chi phí vận chuyển. Thêm vào đó, nền kinh tế của Việt Nam chưa phát triển, vẫn cần nhiều loại nguyên, vật liệu, máy móc phục vụ cho sản xuất. Vì vậy, trước mắt, quan hệ thương mại Việt – Trung rất khó thay đổi, ở cả hai lĩnh vực xuất – nhập khẩu.

Đi vào phân tích cụ thể, ông cho biết: Về xuất khẩu, thị trường tiêu thụ của Việt Nam có hai nhóm, một là nhóm các nước phát triển và hai là nhóm các nước đang phát triển. Hiện tại, hàng hóa Việt Nam vào được thị trường các nước phát triển còn rất hạn chế, mới chủ yếu là các mặt hàng dệt may, da giầy và thủy sản; riêng các mặt hàng nông sản thì khả năng xuất khẩu lại còn khó khăn hơn, do yêu cầu cao của các nước này về vệ sinh, an toàn thực phẩm. Còn các loại sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo khác lại không phải là thế mạnh của Việt Nam ở các thị trường này.

Vì vậy, lựa chọn của hàng xuất khẩu Việt Nam vẫn là các nước đang phát triển, trong đó chủ yếu là thị trường Trung Quốc. Theo ông, Trung Quốc là thị trường lớn, đông dân (1,3 tỷ dân), đa dạng về nhu cầu sản phẩm, vì thế Việt Nam lựa chọn Trung Quốc, ngoài lý do năng lực của doanh nghiệp hạn chế, còn do ngành công nghiệp chế biến trong nước chưa phát triển, các mặt hàng nông sản chủ yếu xuất thô, hoặc sơ chế; các mặt hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ có cấp chất lượng trung bình (phù hợp với năng lực chung của các doanh nghiệp Việt Nam)… Vì vậy, đối với Việt Nam, Trung Quốc vẫn được coi là thị trường xuất khẩu rất tiềm năng, nhưng thực tế, chúng ta vẫn chưa tận dụng được lợi thế này.

Các doanh nghiệp Việt Nam hiện mới chỉ nhìn nhận thị trường Trung Quốc theo tầm nhìn ngắn hạn, “có lợi là làm, dễ làm khó bỏ”; chứ chưa xác định được chiến lược một cách bài bản để từng bước chinh phục thị trường này, chí ít là khu vực các địa phương tây và nam Trung Quốc.

Mỹ không tính ‘thoát Trung’, Việt Nam sao phải vội?

Vũ Lan (BĐV) – Không nên đặt vấn đề “thoát Trung” mà cần điều chỉnh theo hướng có lợi nhưng không bị lệ thuộc.

Trình độ + quản lý kém: Cơ hội thành thách thức

Trao đổi với báo Đất Việt, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng, xu hướng trong quan hệ kinh tế toàn cầu là dựa vào nhau, đôi bên cùng có lợi. Ngay cả Mỹ hiện vẫn đang là nước nhập siêu với Trung Quốc lớn nhất thế giới nhưng cũng chưa bao giờ đòi hỏi phải “thoát Trung”, song các nước này cũng không bao giờ chịu lệ thuộc vào Trung Quốc.

My khong tinh 'thoat Trung', Viet Nam sao phai voi?
Ảnh minh họa

PGS.TS Nguyễn Huy Quý – nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Trung Quốc phân tích, nói Việt Nam phải thoát Trung là một tư duy không chính xác. Cần phải hiểu cho đúng khẩu hiệu thoát Trung. Nếu hiểu là phải thoát khỏi Trung Quốc và hướng tới một nước khác là quan điểm rất sai lầm. Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, vấn đề hợp tác, tranh thủ những lợi ích tốt nhất về mình là xu hướng chung của bất kỳ nước nào.

Nhìn vào cán cân thương mại xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với Trung Quốc có thể thấy đây là thị trường lớn, béo bở và nếu biết điều chỉnh quan hệ thương mại theo hướng đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, chắc chắn Việt Nam sẽ có lợi.

“Vấn đề ở đây là phải khôn ngoan trên thương trường, phát huy hiệu quả trong kinh doanh và giữ gìn được bản sắc, phẩm chất quốc gia, không vì chủ quan, sập bẫy, làm ăn thua thiệt rồi lại hốt hoảng nói thoát Trung”, PGS.TS Nguyễn Huy Quý nhấn mạnh.

Cũng theo vị chuyên gia này, Trung Quốc là thị trường lớn nhưng Việt Nam không phải không có lợi thế.  Ví dụ như các mặt hàng nông sản, Trung Quốc vẫn có nhu cầu nhập khẩu với khối lượng rất lớn của Việt Nam. Từ yêu cầu nhập khẩu gạo để đáp ứng nhu cầu trong nước, Trung Quốc cũng mua vải thiều Việt Nam về chế biến để xuất khẩu. Trong mối giao thương này không phải Việt Nam không có lợi.

Vị chuyên gia cho biết, từ lâu cách thức tổ chức sản xuất của Việt Nam luôn có vấn đề, tư duy sản xuất lạc hậu, làm ăn chụp giật, không có sản phẩm chất lượng cao, không lọt được vào thị trường khó tính. Trong trường hợp này có thể nói Việt Nam đã tận dụng khá tốt lợi thế về vị trí địa lý, yêu cầu dễ tính của thị trường Trung Quốc để xuất khẩu các mặt hàng nông sản của mình.

“Tuy nhiên, đứng trước một người “láng giềng khổng lồ”, nhiều chiêu trò thì cách thức làm ăn của Việt Nam không phải lúc nào cũng khôn ngoan, cũng thắng thế. Trong nông nghiệp, xuất khẩu vẫn qua con đường tiểu ngạch, người nông dân thiệt thòi, bị chèn ép, bán giá rẻ.

Dù xuất khẩu gạo sang Trung Quốc nhiều nhất nhưng gạo Việt Nam lại có giá rẻ nhất, chất lượng thấp nhất. Ngay cả người dân Nam Bộ hiện cũng ăn gạo Thái chứ không ăn gạo Việt. Vì vậy, trong tương lai Việt Nam phải thay đôi tư duy sản xuất, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu sản phẩm, hướng tới sản xuất ổn định, bền vững”, vị chuyên gia lưu ý.

Trong phát triển công nghiệp, sản xuất thép, ông cũng chỉ ra những yếu kém trong công tác quản lý, điều hành chính là nguyên nhân khiến Việt Nam đã nhập nhiều mặt hàng không cần thiết, ham rẻ hóa đắt gây nguy hại cho nền kinh tế và đất nước.

Về du lịch, vị chuyên gia cho biết Việt Nam có nhiều lợi thế nhưng lại tận dụng, quản lý không tốt.

“Mỗi ngày có hàng triệu du khác sang thăm quan Việt Nam nhưng tối lại về Đông Hưng ngủ. Vì thế du lịch nói là phát triển, lượng khách tới đông nhưng lợi không thu được mấy đồng. Rõ ràng Việt Nam có lợi thế nhưng do yếu kém về trình độ, quản lý chất lượng, bên cạnh đó là thói quen tùy tiện, thiếu trách nhiệm nên cơ hội bị biến thành thách thức. Có lợi thế nhưng không tận dụng được”, PGS.TS Nguyễn Huy Quý nói thẳng.

“Thoát”‘ thế nào có lợi?

Đặt câu hỏi, vậy trong bối cảnh của Việt Nam, cần phải nhìn nhận và xem xét mối quan hệ giao thương này như thế nào để đôi bên cùng có lợi? Rồi vị nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Trung Quốc tự trả lời: “”Việt Nam cần phải có giải pháp cải cách thực sự trong quan hệ thương mại, thu hút đầu tư, nhất là khi tham gia TPP và nhiều hiệp định thương mại khác. Đây cũng được coi là cơ hội để Việt Nam mở rộng thị trường giao thương với nhiều nước, giảm đần sự lệ thuộc vào một thị trường, cụ thể là Trung Quốc””.

Vị PGS.TS dự báo trong vài năm tới có thể Việt Nam sẽ tạo ra những bước ngoặt đáng ghi nhận. Bởi khi tham gia vào TPP, bắt buộc Việt Nam phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc những cam kết của TPP. Những ngành sản xuất trong nước không dễ tùy tiện nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu từ Trung Quốc về sản xuất, đặc biệt là ngành da giày, may mặc… vì thế ông mới nói, tham gia TPP sẽ là triển vọng rất lớn để Việt Nam thay đổi cơ cấu thương mại với Trung Quốc.

Theo ông, thời gian qua Việt Nam cũng đã có chiến lược nhưng còn phản ứng chậm do còn nhiều yếu tố bị chi phối. Bên cạnh nguyên nhân truyền thống, ông chỉ ra 3 nguyên nhân, thứ nhất là những giàng buộc bởi hợp đồng thương mại, đầu tư đã ký kết từ nhiều năm trước với Trung Quốc. Ví dụ những dự án đường sắt, hợp đồng mua bán nông sản… bắt buộc phải thực hiện tiếp.

Thứ hai, là tư duy, quán tính sản xuất, kinh doanh chủ yếu cho Trung Quốc chưa thể thay đổi trong ngày một, ngày hai.

Thứ ba, là tình trạng tham nhũng, tiêu cực, vô trách nhiệm trong quản lý thương mại.

Khi đã nhìn nhận được những hạn chế cũng như lợi thế, vị chuyên gia tin tưởng Việt Nam sẽ tìm được đường đi đúng trong tương lai.

Nêu quan điểm PGS.TS Nguyễn Văn Nam – nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu thương mại cho rằng, Việt Nam dù có chủ trương nhưng còn quá mờ nhạt, chưa rõ ràng. Vì thế, mới có câu chuyện lợi thế bị mờ nhạt, điểm yếu bộc lộ nhiều.

Vị PGS.TS khẳng định nông sản Việt Nam có nhiều lợi thế trên thị trường Trung Quốc nhưng để phát huy được lợi thế đó, cần phải được tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín từ khâu sản xuất cho tới khâu tiêu thụ.

Tuy nhiên, vấn đề này Việt Nam chưa làm được. Chưa xác định được ưu điểm, lợi thế của mình trên thị trường Trung Quốc. Do đó, sản xuất vẫn chỉ theo thói quen, ai mua gì là bán và khi bị chèn ép, bị thiệt thòi thì quay lại đòi “thoát Trung”.

“Thoát Trung nông sản Việt sẽ bán cho ai? Ai muốn mua sản phẩm kém chất lượng của Việt Nam? Không thể thấy bị thiệt là hô hào như vậy. Việt Nam cần bình tĩnh đặt vấn đề xem thoát thế nào để có lợi”, ông Nam lo ngại.

Từ đó, ông cho rằng cần phải phân tích cụ thể cơ cấu thương mại giữa hai nước, từ cơ cấu sản phẩm, trong từng lĩnh vực để xác định rõ sản phẩm nào phải nhập khẩu, sản phẩm nào trong nước sản xuất được thì phải đầu tư, phát triển mạnh. PGS.TS Nguyễn Văn Nam nói, “phải thoát dần. Từ việc cái gì cũng nhập khẩu, nay sẽ xem xét nhập từng mặt hàng. Từ việc cái gì cũng bán, có gì là bán, nay phải tập trung vào từng mặt hàng thế mạnh, phát triển, mở rộng ra nhiều thị trường”.

“Ít lợi thế nhưng nếu tổ chức tốt, quản lý tốt họ vẫn phát triển được như Thái Lan, Maylaysia. Họ đã xây dựng được chuỗi bán hàng cho Trung Quốc rất tốt. Singapore còn trở thành nước xuất siêu vào Trung Quốc. Vậy vì sao Việt Nam không làm được”?, vị chuyên gia đặt câu hỏi.

Theo ông, để làm được như vậy cần phải thay đổi từ cách thức, tư duy điều hành, quản lý. Nếu vẫn còn duy trì cách thức quản lý kiểu “vắt sữa từ bò chứ không nuôi bò cho tốt mới vắt sữa” thì ông không kỳ vọng sẽ có dấu hiểu chuyển biến trong tương lai.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s