Núi nợ đe dọa nền kinh tế

Posted: December 6, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nam Nguyên (RFA) – Ngân hàng thế giới vừa cảnh báo rủi ro nợ công của Việt Nam phát sinh từ các nhân tố mới. Ý kiến các chuyên gia như thế nào về vấn đề này?

� Xem thêm: Trương Tấn Sang lại nức nở ‘Xấu hổ khi Việt Nam bị xếp hạng tham nhũng cao’ + “Việt Nam lấy tiền đâu để phát triển nhanh, bền vững?” + Thực trạng doanh nghiệp tư nhân đang rất thảm hại.


Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội hôm 16/05/2015. – AFP PHOTO / HOANG DINH NAM

Vay nợ trong nước để đáp ứng chi tiêu

Trong cuộc họp báo ngày 2/12/2015 tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới cảnh báo tổng nợ công của Việt Nam đang nhanh chóng tiến tới mức giới hạn 65% GDP mà Quốc hội cho phép. Trong bối cảnh các nhà tài trợ đang rút dần vốn khỏi Việt Nam làm cho nguồn vốn vay ưu đãi từ nước ngoài cũng giảm theo. Chính phủ Việt Nam sẽ phải dựa chủ yếu vào vay nợ trong nước để đáp ứng chi tiêu. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới nói rõ, tài khóa của Việt Nam có thể gặp rủi ro lớn, khi Chính phủ chuyển sang vay nợ ngắn hạn ở trong nước nhiều hơn, dù trước mắt được lợi về tỷ giá.

    Cách tích cực nhất nhà nước cần phải làm là phải hết sức tiết kiệm chi tiêu công, giảm bớt phần chi tiêu công thì nó mới có được tiền dành cho đầu tư.
– Chuyên gia Phạm Chi Lan    

Trả lời phỏng vấn cùa Nam Nguyên tối ngày 4/12/2015, từ Hà Nội bà Phạm Chi Lan nguyên thành viên ban tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ nhận định rằng, chính phủ huy động vốn trong xã hội bằng cách bán trái phiếu, lấy tiền bù phần thiếu hụt ngân sách chi cho đầu tư công. Theo chuyên gia Phạm Chi Lan, khi phát hành trái phiếu chính phủ như vậy sẽ có những rủi ro, ví dụ huy động ngắn hạn thì nhiều khi chưa kịp làm gì đã đến thời hạn phải trả nợ rồi, lãi suất vay bằng đồng VN cũng cao hơn vay ngoại tệ ở bên ngoài. Hơn nữa khi chính phủ đứng ra vay nhiều như vậy, thì số tiền vốn cho xã hội cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận được, sẽ lại càng khó khăn hơn. Các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đa số vẫn phản ánh là tiếp cận tín dụng rất khó khăn.

Chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích, đối với những người mua trái phiếu chính phủ thì rõ ràng họ được lợi với lãi suất cao và ổn định. Những người mua trái phiếu đỡ rủi ro hơn là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay. Bà Phạm Chi Lan cho rằng, việc huy động trái phiếu chính phủ có một phần gây bất lợi cho các doanh nghiệp cần vay vốn, cũng như giải thích tại sao số doanh nghiệp ngưng hoạt động vẫn tăng lên, sự phát triển của doanh nghiệp mấy năm gần đây đã bị chậm hẳn lại. Chuyên gia Phạm Chi Lan tiếp lời:

“Cách tích cực nhất nhà nước cần phải làm là phải hết sức tiết kiệm chi tiêu công, giảm bớt phần chi tiêu công thì nó mới có được tiền dành cho đầu tư. Mặt khác ngay cả đầu tư cơ sở hạ tầng thì không nhất thiết cái gì nhà nước cũng đứng ra đầu tư. Ngay cả những dự án phục vụ cho lợi ích công cộng thì dùng những hình thứ như PPP hợp tác công tư. Điều này đã bàn đến ở Việt Nam một số năm nay rồi, Ngân hàng Thế giới và một số tổ chức quốc tế cũng đã hết sức cố gắng giúp Việt Nam có thể phát triển hình thức hợp tác công tư đó trong đầu tư nhất là các dự án hạ tầng, để bớt gánh nặng đầu tư cho nhà nước.

Hình minh họa chụp tại Hà Nội hôm 10/09/2015. AFP PHOTO / HOANG DINH NAM.

Nhưng trên thực tế vẫn chưa tiến hành được bao nhiêu và dường như nhiều cơ quan nhà nước, nhất là các địa phương vẫn còn rất ham đầu tư công và vì vậy nhu cầu đầu tư công quá lớn và chi tiêu thường xuyên cũng vậy nó tăng lên liên tục với bộ máy cứ phình ra, hệ thống quan liêu nặng nề thêm và chi tiêu rất tốn kém cho xã hội. Nếu mà nhà nước không tự tiết giảm được chi tiêu thường xuyên của mình, không biết điều chỉnh lại đầu tư công, ít nhất như thực hiện tinh thần tái cơ cấu đầu tư công mà chính phủ đã nêu ra, thì sẽ rất khó giải quyết được bài toán này.”

Theo Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế hiện làm việc ở Hà Nội, xu hướng nợ công tăng nhanh trong khi nguồn trả nợ rất hạn hẹp. Lạm chi ngân sách rất lớn, trong cơ cấu chi ngân sách thì chi thường xuyên chiếm hơn 70%, phần còn lại chủ yếu để trả nợ. Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhấn mạnh:

“Nói chung nguy cơ về nợ công không phải trong tương lai mà đã hiện hữu trước mắt rồi. Không những trước mắt phải trả mà đời con, đời cháu phải trả, không làm khác được. Với cái kiểu như hiện nay thì vài chục năm nữa cũng chưa trả hết nợ được, điều này là nhãn tiền. Thực trạng nợ công Việt Nam hiện nay nói tóm gọn là như vậy.”

Rủi ro nợ công đầy nguy hiểm

Trong bối cảnh rủi ro nợ công đầy nguy hiểm, thông tin chính thức được báo chí phổ biến còn cho thấy tình trạng nợ nần khó tưởng tượng của 781 doanh nghiệp nhà nước. Cộng đồng từng được ví von như những quả đấm thép của nền kinh tế Việt Nam có tổng nợ phải trả năm 2014 lên tới hơn 1,7 triệu tỷ đồng tương đương 44,2% tổng sản phẩm nội địa GDP. Thời báo kinh tế Sài Gòn phân tích là tổng nợ phải trả của khối doanh nghiệp nhà nước lớn hơn 9,3 lần so với tổng lợi nhuận trước thuế. Giả dụ tình trạng sản xuất kinh doanh giữ nguyên như hiện nay và khối doanh nghiệp nhà nước không vay thêm nợ, thì dù có dùng toàn bộ lợi nhuận trước thuế, không đóng thuế, không chi trả cổ tức vẫn phải mất 10 năm mới trả hết nợ.

    Nói chung nguy cơ về nợ công không phải trong tương lai mà đã hiện hữu trước mắt rồi. Không những trước mắt phải trả mà đời con, đời cháu phải trả, không làm khác được.
– TS Ngô Trí Long   

Nhận định về tình trạng công nợ bi đát của khối doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và khối nợ này có tương tác gì với tình hình nợ công của Việt nam hay không? Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói rằng, những con số được chính nhà nước đưa ra công khai như vậy cho thấy tình hình càng khó khăn nghiêm trọng hơn ở Việt Nam. Tuy nợ của doanh nghiệp nhà nước nếu không được chính phủ bảo lãnh thì không tính vào nợ công. Nhưng trên thực tế, khi doanh nghiệp nhà nước không trả được thì trong nhiều trường hợp nhà nước phải đứng ra trả cho doanh nghiệp. Như vậy nếu cộng thêm phần đó vào thì tổng nợ công không phải nằm trong giới hạn 65% GDP như chính phủ báo cáo. Vì vậy hay có những con số lệch nhau giữa công bố của chính phủ và số liệu của một số chuyên gia hay các tổ chức nước ngoài tính toán.  Chuyên gia Phạm Chi Lan nhấn mạnh:

“Rủi ro rất lớn nữa, là đối với các doanh nghiệp nhà nước như vậy rõ ràng là họ vẫn tiếp tục tình trạng hoạt động kém hiệu quả, mà chương trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước chưa thực sự giải quyết được vấn đề này. Năm nay tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã bị chậm lại đáng kể, con số 432 doanh nghiệp nhà nước mà Thủ tướng tuyên bố sẽ cổ phần hóa trong 2 năm 2014-2015 rõ ràng đã không đạt được. Vả lại con số 200 doanh nghiệp đã cổ phần hóa được vào năm ngoái thì cộng chung số vốn nhà nước nắm giữ ở các doanh nghiệp này vẫn chiếm tới 90%, như vậy tỷ lệ cổ phần hóa 10% doanh nghiệp nhà nước là rất ít. Không mang lại ý nghĩa gì bao nhiêu, đặc biệt là không giúp thay đổi được hoạt động của hệ thống doanh nghiệp nhà nước và lý giải tại sao số nợ của các doanh nghiệp nhà nước cứ tăng lên mà không giảm đi được…”

Chuyên gia Phạm Chi Lan kết luận, gánh nặng nợ của doanh nghiệp nhà nước lẫn gánh nặng nợ công đều mang lại những thách thức, những mối đe dọa rất lớn cho nền kinh tế Việt Nam.

[:-/] Chủ tịch nước: ‘Xấu hổ khi Việt Nam bị xếp hạng tham nhũng cao’ (VnExpress) – “Tại sao nước mình là anh hùng trong các cuộc kháng chiến chống đế quốc mà vấn nạn tham nhũng lại bị xếp hạng cao? Bê bối quá, không chấp nhận được”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chia sẻ với cử tri TP HCM.

Sáng 5/12, vấn đề chống tham nhũng lại tiếp tục được người dân quan tâm, chất vấn tại buổi tiếp xúc với cử tri của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại TP HCM.

Ông Trần Quang Tuấn cho rằng để bảo vệ tổ quốc, không thể chỉ dựa vào vũ khí hiện đại mà phải dựa vào lòng dân. Mà để tạo được lòng tin trong nhân dân thì phải giải quyết tham nhũng.

“Dù nói rất nhiều nhưng đến nay chúng ta chưa làm được gì nhiều để chống tham nhũng. Đã gọi những kẻ tham nhũng là giặc nội xâm thì không thể coi nhau là đồng chí để phê bình. Chúng ta phải có biện pháp mạnh hơn nữa để trị tham nhũng chứ không thể cứ xuề xòa cho qua như vậy được”, ông Tuấn bức xúc.

…Trước các ý kiến của người dân, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng vấn đề chống tham nhũng không hề mới nhưng luôn nóng và được rất nhiều người quan tâm. “Tôi đi đâu cũng nghe người dân than về tham nhũng. Dù thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhưng không ai dám nói là đã đẩy lùi được vấn nạn này. Phải thừa nhận là tình hình tham nhũng còn rất nghiêm trọng”, Chủ tịch nước nói.

[:-/] VDPF: Thách thức đối với Việt Nam là thực thi luật một cách nghiêm túc (ĐTCK) – Sáng 05/12 tại Hà Nội, Diễn đàn Đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) với chủ đề “Hướng tới cạnh tranh, tăng trưởng toàn diện và bền vững”. Ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) và bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam đồng chủ trì Diễn đàn.

Trước đề nghị của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh với các đại biểu, đối tác phát triển, nhà tài trợ về việc đóng góp ý kiến, thảo luận thẳng thắn về những điều làm được, chưa làm được, nhất là những mục tiêu, giải pháp cho giai đoạn tới để bổ sung, cập nhật vào chiến lược, kế hoạch 5 năm tới, ông David Devine, Đại sứ Canada quan ngại, Hiệp định TPP mang tới nhiều rủi ro và nếu nhu không có sự triển khai và cam kết cẩn trọng, Việt Nam có thể bị đánh mất nhiều lợi ích.

Bên cạnh việc giảm thuế xuất khẩu vào hàng hóa thương mại, các công cụ giảm rào cản đối với thương mại dịch vụ và các biện pháp phi thuế quan, thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như việc giảm thiểu vai trò của DN nhà nước với thị trường được coi là cơ sở tốt tạo điều kiện cho cải cách cơ cấu và thể chế ở Việt Nam, bao gồm cải cách đất đai, được coi như một yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực này.

“Công việc này đòi hỏi các cải cách khó khăn nhưng cần thiết, các nỗ lực lâu dài nhằm hiện đại hóa và hợp lý hóa môi trường pháp lý cho thương mại và phát triển khu vực tư nhân”, ông David Devine nói.

Ông Eric Sidgwick, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) quan ngại, quá trình đô thị hóa mỗi năm khoảng nửa triệu người dân di cư tới các đô thị lớn của Việt Nam, điều đó dẫn tới tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường.

Việt Nam cũng đang phải gánh chịu các hậu quả của biến đổi khí hậu ngày càng nhiều và do đó, cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng có khả năng ứng phó tốt hơn. Việt Nam đang tìm kiếm nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu đầu tư cho cơ sở hạ tầng đang tăng lên thông qua nguồn ngân sách quốc gia, khi áp lực đi vay bắt đầu tăng lên và nợ công đang dần tiến tới giới hạn của sự bền vững.

“Tất cả những thách thức này đòi hỏi môi trường tài chính thay đổi để xây dựng cơ sở hạ tầng. Khi kinh tế phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn, Việt Nam tiếp tục bị mất đi các nguồn viện trợ không hoàn lại và vay vốn ODA ưu đãi. Điều này đang làm giảm một nguồn lực tài chính vô cùng quan trọng mà thường được sử dụng cho các cơ sở hạ tầng trọng yếu”, ông Eric Sidgwick nói.

Trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, ông Michel Welmond, Chủ nhiệm chương trình, Văn phòng tại Việt Nam, Nhóm WB đã chia sẻ những thách thức mới cần sự quan tâm ngay đó là, tính cạnh tranh trong tương lai được mang lại bởi sự thay đổi về mặt chiến lược từ chỗ tập trung vào tăng cường khả năng tiếp cận tới chỗ nhấn mạnh vào chất lượng, mức độ phù hợp và sự linh hoạt của giáo dục. Chiến lược phát triển năng lực cơ bản được xác định tương đối rõ. Chiến lược phát triển các kỹ năng đòi hỏi phải tinh tế hơn.

Phát biểu tại Diễn đàn, bà Victoria Kwakwa chia sẻ: “Về cơ bản, bộ khung pháp lý đã đầy đủ, vấn đề bây giờ là thực hiện luật một cách nghiêm túc”.

Phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, Chính phủ Việt Nam nhất quán tiếp tục thực hiện hiệu quả 3 đột phá chiến lược, bao gồm: tiếp tục hoàn thiện thể chế, đặc biệt thể chế kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; phát triển giáo dục đào tạo, nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế và hội nhập, gắn với áp dụng công nghệ tiên tiến; có chính sách phù hợp để huy động nguồn lực xã hội trong và người nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại.

Để thực hiện 3 đột phá trên, Thủ tướng đã cho biết 5 nhóm giải pháp như sau: (Cũng như triết Mác-Lê-Mao, nói nghe thì hay nhưng giải pháp thực tiễn thì bế tắc… càng nhìn kỹ những gì bọn lãnh đạo CS làm càng buồn vì chúng quá vô liêm sỉ, không những bám ghế mà còn trơ trẽn cơ cấu cho con cháu)

[:-/] Các tội danh kinh tế đã rõ ràng hơn (TBKTSG) – Trong lĩnh vực kinh tế, Bộ luật Hình sự (2015) vừa được Quốc hội thông qua đã cập nhật thêm nhiều tội danh mới; đồng thời sửa đổi, loại bớt những tội danh cũ, lạc hậu…


Công nhân đóng gói sản phẩm tại một doanh nghiệp sản xuất giày. Ảnh: UYÊN VIỄN

Cuối cùng, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (điều 165, Bộ luật Hình sự hiện hành) đã không được đưa vào Bộ luật Hình sự 2015 [mới]. Bởi vì, đa số đại biểu Quốc hội ủng hộ quan điểm thay thế điều 165 bằng các tội cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý kinh tế để tránh sự tùy tiện trong áp dụng, đảm bảo sự minh bạch, tạo môi trường kinh doanh an toàn.

Tổng kết thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử về tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng trong những năm qua, cho thấy điều 165 thường được dùng [như một cái túi] để xử lý bất cứ hành vi vi phạm nào khi không đủ căn cứ để truy tố về một tội danh cụ thể. Do đó, điều luật “chung chung” này đã tạo ra một mối nguy hiểm không đáng có cho môi trường kinh doanh, theo Bộ Tư pháp.

Cho nên, khi bỏ điều 165, để xử lý được các hành vi cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế, tránh bỏ lọt tội phạm, Bộ Tư pháp đã bổ sung vào Bộ luật Hình sự 2015 các quy định về tội danh hiện có trong Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (45 điều); đồng thời bổ sung 15 tội danh mới phát sinh từ cuộc sống thuộc các lĩnh vực kinh tế khác nhau.

Bộ luật Hình sự 2015 đã bổ sung 15 tội danh mới phát sinh từ cuộc sống thuộc các lĩnh vực kinh tế khác nhau, trong đó có tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động…

“Việt Nam lấy tiền đâu để phát triển nhanh, bền vững?”

Bích Diệp (Dân Trí) – Đây là câu hỏi được Giám đốc World Bank Việt Nam đặt ra cho Thủ tướng giữa bối cảnh ngân sách nhà nước khó khăn. Thủ tướng khẳng định, câu trả lời chính là huy động nguồn lực xã hội, và quyết định thành bại của sự nghiệp phát triển chính là nhân dân.

Ba Sàm Đôi lời: – Thủ tướng chỉ tốn vài giọt nước bọt để nói câu này: “Việt Nam dứt khoát bảo đảm an ninh của nền tài chính quốc gia, bảo đảm an toàn nợ công từ việc vay nợ cho đến sử dụng hiệu quả nợ công. Chúng tôi cũng đặc biệt quan tâm đến bảo đảm an toàn quỹ bảo hiểm xã hội từ bài học đổ vỡ quỹ bảo hiểm xã hội từ một số quốc gia trên thế giới”.

Thủ tướng bảo đảm an ninh tài chính quốc gia bằng cách nào, bảo đảm an toàn nợ công ra sao… chẳng nghe ông nói. Cũng như trong buổi lễ nhậm chức 8 năm trước, thủ tướng đã từng phát biểu: “Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay“. Kể từ khi ông Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ tướng cho tới bây giờ, tham nhũng chẳng những không giảm mà còn phát triển mạnh, còn ông thì vẫn bám chặt cái ghế thủ tướng!


Thủ tướng khẳng định Chính phủ luôn ưu tiên
khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân (ảnh: VGP)

Doanh nghiệp Việt vẫn mong manh, yếu ớt

Tại Diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) diễn ra sáng nay (5/12), đồng chủ tọa diễn đàn – Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam, bà Victoria Kwakwa đã băn khoăn đặt câu hỏi với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Việt Nam sẽ lấy nguồn ở đâu ra để tài trợ cho chương trình phát triển đầy tham vọng trong 5 năm tới?”

Bởi theo phân tích của đại diện World Bank, khi các nguồn vốn ưu đãi đã thu hẹp dần, Việt Nam sẽ phải dựa vào nguồn thu trong nước là chính. Trong khi đó, tỉ lệ thu ngân sách nhà nước trên GDP đã cho thấy xu thế giảm trong 5 năm qua, từ 27% xuống còn 21%.

Theo bà Kwakwa, việc tăng cường huy động nguồn thu nội địa, tiết kiệm chi tiêu sẽ là yếu tố quan trọng giúp hoàn thành các mục tiêu phát triển mà không chịu rủi ro mất bền vững nợ. Ngoài ra, World Bank cũng đề nghị, nguồn vốn ODA phải được Việt Nam sử dụng hiệu quả hơn nhằm thu hút vốn tư nhân.

Theo đánh giá nêu tại một báo cáo được Chủ tọa VDPF công bố sáng nay thì sau 30 năm xây dựng nền kinh tế thị trường, khu vực doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam vẫn yếu và mong manh. Cụ thể, 97% doanh nghiệp tư nhân trong nước là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều đáng lo hơn là khi các doanh nghiệp tư nhân gia tăng quy mô thì lại kém hiệu quả hơn.

Nghiên cứu của World bank cho thấy, doanh thu trên tài sản và doanh thu trên lao động của các doanh nghiệp có trên 300 nhân công lại thấp hơn đáng kể so với các doanh nghiệp có dưới 100 nhân công.

Nhân dân là người quyết định thành bại của sự nghiệp phát triển

Trước những góp ý trên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định, Việt Nam không hề thỏa mãn và chủ quan với những kết quả đạt được trong 5 năm vừa qua. Thủ tướng thẳng thắn: “Chúng tôi nghiêm túc nhận thấy rằng, kinh tế Việt Nam còn nhiều hạn chế, khó khăn, yếu kém, chưa đạt như mong muốn”.

Đi thẳng vào câu hỏi “lấy vốn đâu để phát triển nhanh, bền vững”, Thủ tướng cho rằng, câu trả lời chính là việc thực hiện đầy đủ thể chế kinh tế thị trường, hiện đại, hiệu quả.

Theo Thủ tướng, với việc hoàn thiện kinh tế thị trường, Việt Nam sẽ huy động hiệu quả nguồn lực xã hội với 92 triệu dân; 4,5 triệu đồng bào đang định cư ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế.

Thủ tướng cho biết, Chính phủ luôn ưu tiên khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, mà cụ thể ở đây là hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.

“Chúng tôi coi nhân dân chúng tôi là người quyết định thành công hay thất bại của sự nghiệp phát triển. Chúng tôi tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho người dân và coi đây là nội lực của đất nước, của nền kinh tế” – Thủ tướng nói.

Ngoài ra, Thủ tướng cũng khẳng định, theo luật Ngân sách mới, trong 5 năm tới, Việt Nam sẽ giữ bội chi ngân sách nhà nước dưới 4%/năm. Đồng thời, bảo đảm nợ công trong giới hạn an toàn, gắn liền với việc sử dụng hiệu quả đầu tư công.

“Việt Nam dứt khoát bảo đảm an ninh của nền tài chính quốc gia, bảo đảm an toàn nợ công từ việc vay nợ cho đến sử dụng hiệu quả nợ công. Chúng tôi cũng đặc biệt quan tâm đến bảo đảm an toàn quỹ bảo hiểm xã hội từ bài học đổ vỡ quỹ bảo hiểm xã hội từ một số quốc gia trên thế giới” – người đứng đầu Chính phủ quả quyết.

Để bảo đảm thể chế kinh tế thị trường, Thủ tướng cũng khẳng định, Việt Nam cải cách để thị trường đất đai, khoáng sản dễ tiếp cận hơn, bình đẳng, công khai, minh bạch hơn và được sử dụng hiệu quả hơn. Tương tự với thị trường vốn và các loại thị trường khác.

Thực trạng doanh nghiệp tư nhân đang rất thảm hại

An Ngọc (CAF) Theo Trí thức trẻ – Theo ông Đậu Anh Tuấn, những con số đẹp của kinh tế Việt Nam đang được tô lên bởi các DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban pháp chế Phòng Công nghiệp và thương mại Việt Nam (VCCI) cho rằng thực trạng của DN tư nhân đang rất thảm hại khi trao đổi về câu chuyện sức khỏe của DN Việt Nam.

Khảo sát của VCCI cho thấy quy mô bình quân của DN tư nhân từ khi Luật DN ra đời đến nay là không lớn, mặc dù số lượng các DN ra đời đều tăng lên, song đều có quy mô rất nhỏ.

Có tới 42% DN tư nhân có doanh thu hàng năm dưới 1 tỷ đồng và 85% tư nhân hoạt động chính thức có doanh thu dưới 20 tỷ đồng, cho thấy phần lớn DN của Việt Nam rất bé nên hiệu quả không cao.

Doanh nghiệp tư nhân đang chậm lớn

Câu hỏi đặt ra là “Tại sao DN Việt Nam không lớn?” đã được ông Tuấn trả lời bằng một nghiên cứu “giật mình” của VCCI về thuế và hải quan. Theo đó, nghiên cứu này chỉ ra rằng DN càng lớn thì chi phí tuân thủ thủ tục hành chính mà DN bỏ ra càng cao; DN càng lớn thì tần suất tiếp nhận kiểm tra hành chính, thanh tra càng nhiều.

“Đây là yếu tố ngược, lẽ ra DN càng lớn thì chi phí tuân thủ tài chính phải càng ít đi. Điều này cho thấy quyền tự do kinh doanh đang có vấn đề. Gặp một số chủ DN, họ nói rằng rất e ngại rủi ro, nên khi phát triển đến mức độ nào đó, họ sẽ giảm tài sản và chỉ giữ quy mô nhỏ, sau đó chuyển ra nước ngoài, để lại cho con”, ông Tuấn nói.

Cho rằng đây là tín hiệu xấu khi mà Việt Nam là nơi mà các DN kinh doanh, nhưng DN lại không muốn gắn bó lâu dài, đại diện VCCI nhìn nhận: Vấn đề tự do kinh doanh và gia nhập thị trường đã tới hạn nên đây là câu hỏi lớn về môi trường đầu tư, kinh doanh?

Nhìn rộng ra 15 năm vừa qua khi thực thi Luật Doanh nghiệp năm 1999, mặc dù quyền tự do kinh doanh đều được đưa vào các văn bản luật, song theo đánh giá của ông Tuấn thì việc thực thi tinh thần ấy xuống thực tiễn lại không được thực hiện.

Vị này dẫn chứng, vẫn còn tình trạng có tỉnh yêu cầu không thành lập văn phòng luật sư với lý do đã đủ văn phòng luật sự; hoặc tỉnh không cho thành lập xưởng cưa gỗ vì nói rằng để ngăn chặn phá rừng; hay có tỉnh thì không cho thành lập cửa hàng xăng dầu chỉ vì ông Chủ tịch tỉnh có quen biết với một công ty xăng dầu lớn.

Quyền tự do kinh doanh vẫn chưa được thực hiện

“Những tư duy như vậy đang rất nhiều trong thực tiễn. Đưa ra các quyết định hành chính để hạn chế quyền tự do kinh doanh chảy từ văn bản ở cơ quan hành pháp sang tư pháp. Ngay trong nghị định cũng can thiệp vào quyền tự do kinh doanh rất là nhiều. VCCI đã góp ý hàng trăm văn bản như vậy và rất ngạc nhiên khi tư duy não trạng vẫn không thay đổi” – ông Tuấn nói.

Do đó, đại diện VCCI cho rằng cần thiết phải có thiết chế giám sát để đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho DN. Hiện nay, tình trạng ban hành văn bản quy phạm nhưng chưa có cơ chế giám sát và đảm bảo để thực hiện quyền tự do kinh doanh, và cũng không có cơ quan nào đảm bảo vấn đề này. Đồng thời, có cơ chế chính sách với DN tư nhân không phải chỉ là tháo gỡ khó khăn nữa, mà là tạo thuận lợi, thúc đẩy để DN phát triển.

“Điều tôi lo ngại là những con số đẹp của kinh tế Việt Nam đang được tô lên bởi các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Tăng trưởng xuất khẩu của khối FDI năm 2010 đóng góp 50%, nhưng hiện tại là hơn 70%, trong khi tư nhân không có. Do đó, cần có báo cáo, đánh giá riêng về sức khỏe của DN tư nhân Việt Nam” – Trưởng ban pháp chế VCCI khuyến nghị.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s