Kinh tế VN: Bao giờ hết loay hoay?

Posted: December 7, 2015 in Uncategorized
Tags:

Kami (Blog RFA) – Chặng đường 30 năm cải cách kinh tế Việt Nam với những thành tựu được ghi nhận, bao gồm tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm liên tục, đã đưa hàng triệu người thoát khỏi nghèo đói… là điều có thật. Tuy vậy, do sự sai lầm trong đường lối và các chính sách phát triển kinh tế của Đảng CSVN là nguyên nhân cơ bản nhất khiến cho kinh tế Việt nam không phát triển được mạnh mẽ như khả năng có thể của nó. Bên cạnh đó, sự lạc hậu về thể chế chính trị của Việt nam hiện nay cũng có những tác động không nhỏ trong vấn đề này.

� Xem thêm: Sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam càng ngày càng tăng cao + Thành tích nào cho Quốc Hội Việt Nam?

Nợ nần chồng chất của các DNNN

Theo báo Tuổi trẻ cho biết, trong khi số nợ phải trả tăng mạnh, doanh thu của các DNNN tăng không đáng kể và lợi nhuận lại giảm, theo báo cáo về tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Tính đến hết năm tài chính 2014, theo báo cáo của Chính phủ, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty đã lên tới 1.567.000 tỷ đồng, tăng 8% so với năm 2013. Đặc biệt, vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh cho DNNN là 124.104 tỷ đồng, tăng khoảng 2.000 tỷ so với năm 2013.

Dưới nhan đề “Tập đoàn nhà nước nợ gần 70 tỷ USD”, báo VNNet online cho biết “Theo báo cáo tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2014 của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được Chính phủ trình Quốc hội, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã lên tới 1,57 triệu tỷ đồng (tương đương 69,8 tỷ USD), tăng 8% so với năm 2013.”. Để dễ hình dung về giá trị của khoản nợ này, chỉ cần biết rằng sau khi chiến tranh Việt nam kết thúc, phía Hà nội có đưa ra yêu cầu phía Mỹ bồi thường chiến tranh khoảng 2 tỷ đô la.

Song nếu như chúng ta được đọc bản tin cũng từ VNNet cho biết “Vì sao cả nước có 781 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mà báo cáo về công nợ do Bộ Tài chính công bố chỉ đề cập vỏn vẹn 119 doanh nghiệp trong số đó?”. Theo bài báo cho biết “Thực trạng của 119 doanh nghiệp này như sau: tổng số nợ phải trả là 1.567.063 tỷ đồng, tổng nợ phải thu là 293.617 tỷ đồng, tổng số hàng tồn kho là 216.255 tỷ đồng. Đây là số tiền cực lớn, nhưng mới chỉ thống kê được mỗi 119 doanh nghiệp trong tổng số 781 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.”. Qua đó phần nào giúp chúng ta thấy hết sự bi hài của cảnh cha chung không ai khóc trong vấn đề kinh tế quốc doanh.

Việt nam đã chính thức tụt hậu

Đây là nhận định cho thấy công cuộc đổi mới kinh tế sau gần 30 năm của Đảng CSVN đã thất bại

Theo Thời báo Kinh tế Sài gòn cho biết, Việt Nam đã thực sự tụt hậu, và tụt hậu ngày càng xa hơn so với phần còn lại của thế giới vì mô hình phát triển “lạc điệu” và tính từ 2015, Việt Nam phải mất lần lượt 10, 12 và 17 năm nữa để vượt qua mức Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia đã đạt được ở năm 2011. Đây là nhận xét của nhiều nhà kinh tế hàng đầu đất nước tại diễn đàn tổng kết 30 năm Đổi mới giai đoạn 1986 – 2015 được tổ chức ngày 19/11/2015, tại Hà Nội.

Theo TS. Nguyễn Quang Thái, nguyên viện phó Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cho rằng: “Chúng ta đã thực sự tụt hậu, và tụt hậu ngày càng xa hơn so với thế giới, chứ không còn nguy cơ gì cả.”“Tình trạng tụt hậu của đất nước là do tư duy cũ kỹ. Chúng ta đã chọn sai mô hình tăng trưởng, lại chưa có thể chế mạnh tạo động lực phát triển vì vướng tư duy chưa đổi mới,”. Không chỉ thế, cũng theo TS. Nguyễn Quang Thái thì “Kinh tế Việt Nam không chỉ tụt hậu xa hơn, mà trong nhiều chiều cạnh đang đi lạc điệu so với xu hướng chung của thế giới,”.

Theo nghiên cứu của ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã cho thấy Việt Nam cũng đang bị bỏ lại phía sau trên các bảng xếp hạng toàn cầu trong phần lớn các tiêu chí phát triển. Theo đó, sức mạnh kinh tế của Việt Nam ngày càng nhỏ so với Trung Quốc. Tại thời điểm khởi động đổi mới, quy mô GDP của Việt Nam (tính theo giá cố định năm 2005) tương đương với 4,1% con số của Trung Quốc, tức 1/25. Nhưng tỷ lệ này không ngừng giảm xuống, đến 2013 chỉ còn 1,9%. Không chỉ thế, nếu tính theo sức mua tương đương PPP, vị thế của Việt Nam vẫn không mấy thay đổi, thậm chí mức độ thịnh vượng tương đối của người Việt Nam đang nhanh chóng giảm đi so với người Trung Quốc. Điều này đã khiến ông Trần Đình Thiên đã phải đặt vấn đề rằng, “Vậy đến 2035, tức sau hai thập niên kể từ bây giờ và 50 năm sau Đổi mới, Việt Nam sẽ nằm ở đâu trên bản đồ kinh tế thế giới?”

Các dữ liệu được phân tích của ông Trần Đình Thiên đã chỉ ra rằng, đến 2035, mức độ thịnh vượng trung bình của người Việt Nam vẫn còn thua xa Đài Loan, Hàn Quốc ở thời điểm 2011, và chỉ bằng gần một nửa của Nhật Bản và 1/3 so với Singapore. Tính từ 2015, Việt Nam phải mất lần lượt 10, 12 và 17 năm nữa để vượt qua mức Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia đã đạt được ở năm 2011. Và ông Trần Đình Thiên đã khẳng định rằng: “Nói cách khác, sau 30 năm đổi mới, dù nhìn ở khía cạnh nào thì Việt Nam vẫn đang cách rất xa so với các nước đi trước. và nếu trong hai thập kỷ tới, Việt Nam không có những yếu tố đột phá vượt trội thì cục diện này sẽ chẳng có gì thay đổi,”

Cũng theo Thời báo Kinh tế Sài gòn cho biết, cũng tại diễn đàn này, khi nhận xét về tình thế Việt Nam thì trong một bài phân tích của GS.TS Nguyễn Quang Thái, Phó Tổng Thư kí Hội khoa học kinh tế Việt Nam đã trích dẫn một loạt các chỉ tiêu so sánh quốc tế. Cụ thể:

  1. Về giáo dục, theo chỉ số Human Development, Việt Nam đứng hàng 121/187, có nghĩa là dưới trung bình. Không có trường đại học nào được lọt vào danh sách đại học có danh tiếng và có chất lượng.
  2. Về bằng sáng chế, theo International Property Rights Index, Việt Nam đứng hàng 108/130 tính theo giá trị trí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ.
  3. Về ô nhiễm, Việt Nam đứng ở vị trí 102/124, gần đội sổ danh sách.
  4. Về thu nhập tính theo đầu người, Việt Nam đứng hàng 123/182 quốc gia, có nghĩa là Việt Nam đứng trong nhóm 1/3 quốc gia cuối bảng có thu nhập đầu người thấp nhất.
  5. Về tham nhũng, theo Transparency International, Việt Nam đứng hàng 116/177 có nghĩa là thuộc 1/4 quốc gia cuối bảng.
  6. Về chỉ số y tế, sức khoẻ, Việt Nam đứng hàng 160 trên 190 quốc gia, có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia có tổ chức y tế tệ nhất.”

Cũng theo nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Quang Thái cho biết, năm 1990, khoảng cách thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam so với trung bình thế giới khoảng 4.000 đô la Mỹ. Tuy vậy đến nay, khi GDP bình quân của Việt Nam đạt khoảng 2.000 đô la Mỹ thì GDP bình quân thế giới đã vượt 10.000 đô la Mỹ, tức khoảng cách phát triển đã lên gấp 2 lần. GS.TS Nguyễn Quang Thái thấy rằng, điều đó cũng có nghĩa là “sức mạnh kinh tế” của quốc gia không được cải thiện dù dân số đã tăng nhanh gần hai lần. Đó là chưa kể đến các khía cạnh tụt hậu về cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học-công nghệ, thể chế…còn khó khăn không nhỏ khi thế giới ngày càng hội nhập sâu, nguồn cân đối tài chính lại có hạn.

Nguyên nhân?

Trong các văn kiện cũng như chính sách của Đảng, khi đề cập về chính sách kinh tế thì Đảng CSVN khẳng định rõ kinh tế Việt nam là một nền Kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo. Điều đó đã làm cho nền kinh tế Việt nam đã trở nên không phải là một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh như các quốc gia khác, là điều gây rất nhiều hạn chế trong việc hội nhập của Việt nam vào nền kinh tế thế giới.

Như nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã cho rằng: “Người Việt Nam chúng ta thích tranh luận nhưng chỉ luẩn quẩn trong mấy chữ mà mất hai ba chục năm nay. Ví dụ, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cãi nhau 30 năm chưa kết thúc; rồi doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo cũng cãi nhau 30 năm rồi không kết thúc. Những chuyện này còn tranh luận dài dài, không biết đến bao giờ kết thúc được.”

Nhận định của nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cũng giống như đánh giá của GS.TS Nguyễn Quang Thái, Phó Tổng Thư kí Hội khoa học kinh tế Việt Nam khi cho rằng: “Nguyên nhân của tình trạng bê bết hiện nay của quốc gia là do tư duy cũ kỹ, đã chọn sai mô hình tăng trưởng, lại chưa có thể chế mạnh tạo động lực phát triển vì vướng tư duy chưa đổi mới. Kinh tế Việt Nam không chỉ tụt hậu xa hơn, mà trong nhiều chiều cạnh đang đi “lạc điệu” so với xu hướng chung của thế giới.”

Cần phải làm gì?

Bài học “Bốn con hổ châu Á” thập niên 1970, đó là Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan nổi lên với sự tăng trưởng ngoạn mục từ thập niên 1960 là điều hết sức quan trọng đối với Việt nam. Chỉ trong vòng từ 18-23 năm, các nước quốc gia và vùng lãnh thổ này đã thu được các thành công vô cùng to lớn và đã nhanh chóng trở thành các nước phát triển. Đến nay, 4 con hổ châu Á đã đạt trình độ tương đương các nước phát triển, với tiến trình cởi mở chính trị, GDP trên đầu người cao, với chính sách phát triển kinh tế mạnh mẽ.

Cũng từ việc vận dụng bài học này, mà hàng loạt các nước trong khu vực Đông Nam Á như: Indonexia, Malayxia, Philippines và Thailand cũng đã trở thành các nước công nghiệp mới. Trong lúc Việt nam đã tiến hành đổi mới gần 30 năm song vẫn chưa thể đạt được. Đừng quên, một trong những bí quyết thành công được đánh giá là quan trọng nhất của các nước công nghiệp mới (NICs), đó là tăng cường vai trò cao nhất của kinh tế tư nhân, với phương châm cái gì tư nhân là được thì nhà nước không làm, đồng thời giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế.

Một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh với kinh tế tư nhân đóng vai trò trung tâm, để dẫn dắt và nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế là chính sách hoàn toàn đúng đắn và phù hợp nhất đối với kinh tế Việt nam hiện nay. Trong một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, thì kinh tế nhà nước không thể giữ vai trò chủ đạo trong một nền kinh tế, mà nó chỉ giữ một vai trò có tính chất phù trợ. Và chỉ có nền kinh tế tư nhân mới có đầy đủ những động lực để thúc đẩy nền kinh tế chung phát triển, bởi vì một khi khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam khi được hỗ trợ bởi các chính sách đúng đắn của nhà nước, với một cơ sở hạ tầng hiện đại nó sẽ lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng thì khi đó sẽ tạo ra nhiều triệu công ăn việc làm. Song vấn đề quan trọng nhất là doanh nghiệp tư nhân có thể phát triển ở mọi nơi, mọi chỗ và sẽ tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, điều đó sẽ bớt lệ thuộc hơn vào các nền kinh tế khác.

Nhà nước khi đó, chỉ đóng vai trò hoạch định các chính sách, ban hành luật lệ và thông qua giám sát để điều tiết nền kinh tế. Và nhà nước cần phải hạn chế tối đa hoặc không kinh doanh, để tránh tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi và ngược lại. Thực tế trên thế giới cho thấy, ở bất kỳ đâu nhà nước làm kinh doanh thì đạt hiệu quả luôn kém, chính vì thế ở các nước kinh tế phát triển, vai trò kinh doanh luôn được chuyển hẳn cho khu vực tư nhân đảm trách.

Đã khởi động, song cần quyết liệt hơn

Sau gần 30 năm loay hoay, các nhà lãnh đạo Việt nam cũng đã nhìn nhận được vấn đề, đây là điều đáng mừng, song công đầu có lẽ thuộc về người đứng đầu Chính phủ với một bộ tham mưu còn tỉnh táo. Đó là lý do rõ nhất vì sao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng luôn đề nghị các nước phát triển Âu-Mỹ công nhận kinh tế Việt nam là một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, với đặc trưng cơ bản của nó là kinh tế tư nhân phải nắm vai trò chủ đạo. Vì thế, trái lại với quan điểm của Đảng về vấn đề kinh tế, người đứng đầu chính phủ là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã luôn chủ trương cần phải xây dựng một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh đúng nghĩa. Vì chỉ có như thế thì nền kinh tế Việt nam mới có thể cất cánh và khởi sắc, mà bài học của các nước của các nước công nghiệp mới (NIC) đã chứng tỏ điều đó.

Các tuyên bố cũng như hành động của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong năm 2015 đã cho thấy, ông thủ tướng đã ráo riết hơn để thúc đẩy tiến trình này. Cụ thể, mới đây một trong những nội dung quan trọng được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề cập tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11/2015 là việc cổ phần hoá, tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước. Tại cuộc họp này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo: “Doanh nghiệp Nhà nước tập trung đẩy mạnh tiến độ lên, cái nào tư nhân mua được mà họ quản lý tốt thì các đồng chí bán luôn đi để chúng ta thu hồi vốn đầu tư vào những lĩnh vực cần thiết, quan trọng khác, nhất là đầu tư vào hạ tầng để tạo điều kiện cho phát phát triển, đây cũng là đúng theo định hướng của Trung ương”.

Không chỉ thế, sáng ngày 05/12/2015, tại Diễn đàn Đối tác Phát triển Việt Nam (VDPF) với chủ đề “Hướng tới cạnh tranh, tăng trưởng toàn diện và bền vững.Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định và cam kết rằng: “Việc thực hiện đầy đủ, hiện đại và hiệu quả một thể chế kinh tế thị trường sẽ giúp huy động được vốn, cả từ 92 triệu người dân trong nước và 4,5 triệu đồng báo ở nước ngoài cũng như các NĐT ngoại. Nếu hoàn thiện tốt thể chế hiện đại phù hợp với thế giới thì sẽ có nguồn lực để phát triển. Chúng tôi ưu tiên phát triển kinh tế tư nhân, dưới hình thức vừa và nhỏ. Chúng tôi coi người dân là yếu tố quyết định sự thành bại của nền kinh tế. Đây là nội lực mang tính quyết định”

Đây là một phát biểu có ý nghĩa hết sức quan trọng, diễn ra trong bối cảnh phe giáo điều trong Đảng CSVN vẫn luôn kêu gào đi theo con đường CNXH và Chủ nghĩa Marx-Lenin, song trên thực tế họ đã tiến hành để đưa mội mặt kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục v.v… của Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa, cho dù chỉ ở giai đoạn sơ khai và man rợ.

Chủ trương ưu tiên phát triển kinh tế tư nhân, dưới hình thức vừa và nhỏ và coi người dân là yếu tố quyết định sự thành bại của nền kinh tế là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với trào lưu phát triển của thế giới văn minh cần phải được ủng hộ. Điều đó càng cho thấy rõ sự sai lầm của học thuyết Marx-Lenine mà Đảng CSVN đã theo đuổi trong suốt 70 năm qua, cũng như các chính sách kinh tế của Đảng CSVN là hoàn toàn sai lầm.

Điều đó cho thấy Đảng CSVN cần phải nhìn nhận một cách nghiêm túc và sửa đổi một cách mạnh mẽ, triệt để hơn nữa để thúc đẩy sự phát triển của đất nước trên mọi mặt, trong mọi lĩnh vực. Do vậy. đã đến lúc Đảng CSVN phải mạnh dạn, hãy nói không và xóa bỏ Chủ nghĩa Marx – Lenine ra khỏi hệ thống chính trị của mình. Để từ đó đưa đất nước hướng tới các giá trị văn minh của nhân loại như hầu hết các quốc gia khác trên thế giới đã thực hiện và thu được những kết quả tốt. Hãy đặt mục tiêu cao nhất là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh một cách thực sự, chứ không chỉ là các khẩu hiệu xuông, mang tính chất lừa bịp lâu nay.

Kết:

Đến nay, sự sai lầm của học thuyết Marx-Lênin là điều không phải bàn cãi, thực tế đã chứng minh sự phản động và tính trái quy luật của học thuyết này, đồng thời tất cả các quốc gia trên thế giới đã quay lưng lại và đào thải nó là bằng chứng không thể phủ nhận. Ở Việt nam cũng vậy, lâu nay trong các văn kiện của Đảng CSVN hay báo chí nhà nước các cụm từ về học thuyết Marx-Lênin hay Chủ nghĩa Xã hội là của hiếm và khó tìm thấy. Dù rằng trên danh nghĩa, Chủ nghĩa Marx-Lenin đến hôm nay chỉ còn duy nhất Việt Nam là quốc gia còn coi đó là nền tảng tư tưởng của Đảng CSVN, chính đảng hợp pháp duy nhất tự cho mình là đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội.

Điều đó cho thấy, việc cố tình bám víu vào cái chủ nghĩa Marx-Lênin chỉ là hành động của một bộ phận rất nhỏ, tham quyền cố vị và muốn đặc quyền đặc lợi. Tuy rằng những kẻ này thừa biết những cái đó là sai trái, là sự cản trở cho sự phát triển của đất nước và dân tộc, nhưng vì quyền lợi cá nhân bọn họ sẵn sàng làm mọi thứ có thể để duy trì quyền lực. Và việc vẫn tiếp tục kiên định bám chặt vào Chủ nghĩa Marx-Lenin , thực chất cũng chỉ là việc câu giờ hòng kéo dài quyền lực, hòng vơ vứt và trục lợi cho bản thân họ.

Hơn 70 năm, dưới sự lãnh đạo luôn luôn là “sáng suốt” và “tài tình” của Đảng CSVN nhưng kết quả mang lại cho đất nước rõ ràng chỉ là sự tụt hậu về kinh tế, sự xuống cấp của đạo đức xã hội… Đồng thời nhân phẩm của người Việt nam đã bị coi rẻ trong mắt người nước ngoài, kể cả ở các nước láng giềng chậm phát triển như Lào và Căm pu chia là điều đáng xấu hổ. Đã đến lúc người dân Việt nam cần phải xem xét lại những cái “sáng suốt” và “tài tình” của Đảng CSVN có thật như họ tự ca ngợi hay không? Bởi vì Cố Thủ Tướng Singapore Lý Quang Diệu đã từng nhận xét: “Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người, Việt Nam không thể xếp sau nước nào trong khu vực”.

Kể cả việc, trong suốt gần 30 năm qua, kể từ năm 1986 là năm Đảng CSVN khởi xướng việc cải cách kinh tế đến nay, thì ban lãnh đạo Đảng CSVN vẫn ở trong tình trạng đưa đất nước đi từ loay hoay này đến loay hoay khác trong việc đi chọn lựa con đường cho đất nước.

Sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam
càng ngày càng tăng cao

Thanh Trúc (RFA) – Dựa trên những dữ liệu thu thập được trong giai đoạn 1992/ 1993 đến 2014, khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam phân thành hai cực rõ rệt, tình trạng bất bình đẳng về mức sống gia tăng trong vòng hai thập niên qua.


Một phụ nữ đang vừa ăn vừa làm trên đường phố ở trung tâm
TP HCM, Việt Nam. Ảnh chụp ngày 30 tháng 11, năm 2013.

Đó là nhận định của tiến sĩ Đỗ Thiên Kính thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội trong báo cáo có tên Xu Hướng Bất Bình Đẳng Về Mức Sống Ở Việt Nam Trong 20 Năm Đổi Mới, công bố ngày thứ Năm 3 tháng 12 vừa qua.

Theo giải thích của tiến sĩ Đỗ Thiên Kính, khái niệm mức sống ở đây được đo lường qua các chỉ báo như thu nhập, chi tiêu ngoài ăn uống và giá trị tài sản nơi ở chính.

Đối chiếu với tiêu chuẩn của Ngân Hàng Thế Giới, ông nói trong báo cáo rằng phân bổ thu nhập trong dân cư Việt Nam, từ mức bất bình đẳng vừa giai đoạn 2008 đến 2012, tăng lên dần tính đến lúc này, kéo theo hậu quả là giàu nghèo đã phân rất rõ thành hai cực.

Một cách cụ thể thì nhóm đầu là số hộ giàu, khoảng 20% dân số, chiếm 54,4% tổng thu nhập toàn quốc, trong lúc ba nhóm ở giữa với 60% dân số chỉ chiếm 40,9% thu nhập toàn quốc, còn lại nhóm thứ ba là các hộ nghèo, tức 20% dân số còn lại, chỉ chiếm 4,7% tổng thu nhập toàn quốc mà thôi.

Nếu mức độ bất bình đẳng được thể hiện bằng biểu đồ, tiến sĩ Đỗ Thiên Kính phân tích tiếp, người ta sẽ thấy hệ thống phân tầng xã hội ở Việt Nam có hình kim tự tháp với phần chóp, là tầng cao nhất, tính theo thứ tự từ trên xuống là lãnh đạo, quản lý, doanh nhân và chuyên gia có chuyên môn cao.

Tầng thứ nhì, tức tầng giữa của mức độ bất bình đẳng gồm nhân viên, công nhân, buôn bán dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp.

Sau cùng, tầng thứ ba, là tầng lớp thấp nhất, bao gồm lao động không chuyên, lao động giản đơn và nông dân.

Chính vì vậy, tiến sĩ Đỗ Thiên Kính khẳng định, muốn thay đổi, muốn giảm đi mức bất bình đẳng và giảm đi sự phân cực giàu nghèo, thì hệ thống phân tầng xã hội phải được chuyển từ mô hình kim tự tháp sang mô hình quả trám với tầng lớp ở giữa gồm 60% dân số sẽ phải đông đảo hơn, sẽ phình to ra ở giữa như hình quả trám.

Một người ở Hoa Kỳ thường về Việt Nam 15 năm qua với chương trình cho người nghèo vay vốn để cải thiện và nâng cao mức sống, tiến sĩ Phùng Liên Đoàn nhận xét:

Bất cứ một xã hội đang phát triển nào thì sự phân cực giàu và nghèo cũng rất là rõ rệt. Người giàu thì thật là giàu và người nghèo đi kiếm từng đồng. Thành ra cái đó không phải là ý kiến mới hay nhận xét mới. Nhưng nếu họ có báo cáo đấy trong Viện Hàn Lâm Khoa Học  Xã Hội thì tôi thấy đó là sự tiến bộ. Từ trước đến nay đâu có  ai dám nói như vậy, nhất là một cơ quan được tiền của chính phủ và phần  lớn là người trong đảng cả.

Báo cáo mới nhất về  xu hướng bất bình đẳng xã hội và sự phân cực giàu nghèo của tiến sĩ Đỗ Thiên Kính được chuyên gia Vũ Đình Ánh, Bộ Tài Chánh Hà Nội, nhận xét là một kết quả nghiên cứu tốt bởi nó đưa ra   những bằng chứng cũng như lập luận dựa trên số liệu của các nguồn chính thống:

Thế còn kết luận trong đó, ví dụ như bất bình đẳng tăng cao hay sự phân hóa giàu nghèo tăng cao thì không có gì đáng ngạc nhiên cả. Về nguyên tắc  tôi cho rằng đấy là một bài nghiên cứu tốt, tuy nhiên có thể  nói những vấn đề mà bài nghiên cứu nêu ra thì không có gì mới, ta còn cần làm nhiều hơn.

Dưới mắt chuyên gia kinh tế Phạm Chí Dũng, báo cáo của tiến sĩ Đỗ Thiên Kính đúng về nhận định nhưng không xác thực về con số:

Chẳng hạn nói 20% số người  giàu ở  Việt Nam chiếm hơn 50% tổng tài sản toàn quốc thì tôi muốn nói lại rằng theo con số công bố không chính thức thì 1% số người  giàu ở Việt Nam đã  chiếm 40% tổng tài sản toàn quốc rồi.

Phân hóa giàu nghèo  ở Việt Nam hiện đã phân cực rất cao. Năm 1997  chính báo Tuổi Trẻ đã thông tin là so sánh 5% người có thu nhập cao nhất với 5% người có thu nhập thấp nhất ở Việt Nam thì khoảng cách đã lên tới 30 lần vào thời điểm những năm 1997-98. Trong khi đó con số thống kê của nhà nước Việt Nam vào lúc đó, so sánh 5% thu nhập cao nhất và 5% thu nhập thấp nhất, chỉ khoảng chừng 7  hay 8 lần mà thôi và cho tới giờ vẫn chỉ chấp nhận  khoảng 10 lần, không hơn.

Trong đánh giá của một vài chuyên gia phản biện độc lập, hệ số bất bình đẳng của xã hội Việt Nam phải lên tới từ 0,6 đến 0,7 và như vậy là rất cao.

Trở lại với bản phúc trình  của tiến sĩ Đỗ Thiên Kính, phải làm sao tăng thu nhập cho ba nhóm ở giữa gồm 60% dân số luôn là xu hướng biến đổi xã hội của các nước trên thế giới trong quá trình công nghiệp hóa. Thực hiện được điều này, ông khẳng định, là bảo đảm được cho sự phát triển hài hòa, bền vững, ổn định của một cấu trúc xã hội hiện đại.

Việc chuyển đổi cơ cấu kinh doanh, bằng cách phát triển kinh tế tư nhân với thành  phần dân doanh đóng vai trò chủ đạo, tạo điều kiện cho sự tích tụ ruộng đất là cách thúc đẩy tầng lớp nông dân vươn đến địa vị kinh tế  xã hội cao hơn. Ý kiến của chuyên gia tài chánh Vũ Đình Ánh:

Quan trọng là đẩy tầng  lớp dưới cùng, 20% dưới cùng, làm sao mà đẩy thu nhập của họ lên. Đấy là biện pháp thứ nhất. Chứ còn trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, với mô thức phát triển như hiện nay thì khoảng cách giàu nghèo nó càng giãn rộng.

Vấn đề thứ hai nữa là phải tăng cường các biện pháp sử dụng để mà phân phối lại. Cái này cũng đã được thực hiện rồi nhưng dường như là hiệu quả chưa lớn.

Về điểm này, tiến sĩ Phùng Liên Đoàn góp ý:

Cần  bành trướng kinh tế dân sự, doanh nghiệp nhà nước là phải dẹp  đi bởi vì bao nhiêu lợi  nhuận là họ thâu  hết, bao nhiêu nợ nần thì họ lại đùn cho 80% người dân ở dưới. Nếu dẹp bớt vai trò quốc doanh đi thì người dân làm việc được nhiều hơn, doanh thu sẽ vào nhiều hơn, sự phân cực  giàu nghèo không thể  càng ngày càng tăng được. Đó là chính sách rất quan trọng của nhà nước.

Theo tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng, mô hình quả trám đưa ra trong báo cáo từng là mô hình chuẩn cho phát triển kinh tế xã hội ở Singapore trước đây:

Mô hình quả trám có thể nói là tương đối tối ưu của xã hội đang phát triển nhưng chưa thấy hy vọng Việt Nam có thể thực hiện được. Kinh tế quốc doanh thực ra chiếm tới 2/3 tổng tài sản  kinh tế nhưng hiệu quả chỉ bằng một nửa khối kinh tế tư nhân. Cho nên đã đến lúc phải chuyển khối kinh tế tư nhân, nếu không chủ đạo được, thì ít nhất phải ngang bằng kinh tế nhà nước.

Giải pháp thứ hai là phục hồi quyền tư hữu về đất đai cho người dân, trong đó có nông dân. Đặt ra như vậy nhưng đọc dự thảo văn kiện của đại hội XII thì đảng cầm quyền Việt Nam vẫn đi theo biện pháp 2013 kinh tế nhà nước là chủ đạo.

Trong lúc kinh tế gia Phạm Chí Dũng cho rằng con đường chuyển dịch cơ cấu của Việt Nam hãy còn xa, thì  tiến sĩ Đỗ Thiên Kính, nhấn mạnh đến một điểm mới là khuyến nghị này đưa trên cơ sở tiếp cận xã hội học và kinh tế học, xem xét hiện thực qu hai khía cạnh kinh tế và xã hội.

Thành tích nào cho Quốc Hội Việt Nam?

Phạm Chí Dũng (NV) – Ngoài Luật Trưng Cầu Dân Ý, Quốc Hội Việt Nam hiện vẫn đang lúng túng đối phó với hai bộ luật khác được giới dân chủ nhân quyền trong nước và quốc tế lên tiếng thúc ép là Dự Luật Tôn Giáo và Dự Luật Lập hội. Cả hai dự luật này đều liên đới mật thiết với tiến trình vào TPP của Việt Nam.


Nguyễn Thị Kim Ngân mờ nhạt một cách bất thường trước ông Nguyễn Sinh Hùng trên phương diện phát ngôn

“Đòi nợ”

Thành công vang dội nhất của Quốc Hội Việt Nam tại kỳ họp cuối năm 2015 có lẽ là kết quả “đòi nợ.”

Món nợ trên thuộc về lời hứa hẹn tăng lương cho giới hưu trí và đội ngũ gần 3 triệu công chức viên chức nhà nước mà phía chính phủ đã trễ hẹn suốt ba năm qua.

Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng đóng vai trò chủ thể quyết định trong việc đòi nợ trên. Chỉ sau khi ủy viên Bộ Chính Trị này “càm ràm” theo cách “nói hay thế mà sao một đồng tăng lương cũng không có” trước báo cáo trơn tuột của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, bên chính phủ mới vội vã “giật gấu vá vai” để tìm ra ít ngàn tỷ đồng tăng 8% lương cho giới về hưu và 5% lương cơ bản cho công chức viên chức từ năm 2016.

Tuy nhiên, số tiền được dùng cho tăng lương sắp tới chỉ vào khoảng 10,000 tỷ đồng, khác xa nguồn gốc dự kiến khoảng 30,000 tỷ đồng vào đầu năm 2015. Để có được số tiền này, chẳng còn một nguồn dôi dư nào mà đành phải “tiết kiệm là quốc sách” từ chi phí hội họp, tiếp khách và đi nước ngoài.

Dù còn xa mới đạt yêu cầu về “rửa mặt,” nhưng chí ít tình hình cán cân lực lượng cũng không đến nỗi thiểu não như khoảng thời gian cuối năm 2014. Người ta còn nhớ ngay trước kỳ họp Quốc Hội cuối năm ngoái, một số trong giới ngân hàng suýt phát điên bởi sự kiện một trong những người được coi là thân tín với chủ tịch Quốc Hội bị bắt khẩn cấp và bị tống giam ngay lập tức. Tiếp liền vụ bắt một hơi ba quan chức cao cấp của Ngân Hàng Xây Dựng vào Tháng Bảy, 2014, cái tên Hà Văn Thắm của ngân hàng có tên rất mơ màng là Đại Dương đã trở nên nỗi đe dọa khủng khiếp đối với “sân sau” của giới lãnh đạo chính trị – nếu bản chất vụ việc đúng là như vậy.

Còn vào cuối năm nay, tình hình có vẻ trở nên dễ thở hơn khá nhiều với ông Nguyễn Sinh Hùng. Trước Hội Nghị Trung Ương 12 vào đầu Tháng Mười, đã chẳng có “chân dung quyền lực” nào và không khí “an ninh trật tự” cũng hoàn toàn lặng sóng. Thậm chí trước kỳ họp quốc Hội năm nay đã chẳng xảy ra một vụ bắt bớ nào.

Trong khung cảnh khá an toàn như thế, không những đòi được một phần nợ lương từ phía chính phủ, Chủ Tịch Hùng còn tăng cường được vị thế “cơ quan giám sát” và đường hướng dân chủ hóa đôi chút của ông trước khi “hạ cánh.” Tối thiểu, thủ tướng cũng phải ra điều trần trước Quốc Hội, dù ngay sau đó đã hiện lên phản ứng dư luận “hỏi thẳng, trả lời cong.”

Câm nín

Nhưng có lẽ bản thành tích của Quốc Hội Việt Nam và Chủ Tịch Nguyễn Sinh Hùng chỉ đến thế.

Năm nay, so với năm ngoái, tình hình kinh tế và ngân sách đã thảm thiết hơn rất nhiều. Lần đầu tiên nổ ra hiện tượng một đương kim bộ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư – ông Bùi Quang Vinh – để mặc dòng cảm thán tuôn trào về “ngân sách trung ương chỉ còn 45,000 tỷ đồng” mà “không biết phân bổ cho cái gì.”

Chưa một kỳ họp Quốc Hội nào, không khí ngân sách lại trở nên nguy ngập như cuối năm 2015. Bội chi ngân sách vẫn tăng vọt; tiếp biến năm 2014, nợ công và nợ xấu đều vượt trần khủng hoảng; chi đầu tư công cùng tràn ngập các trụ sở hành chính hoàng tráng và tượng đài đã phá phách chút niềm tin cuối cùng vào chính thể; còn nạn tham nhũng vẫn hoàn toàn “ổn định”…

Tưởng như thời điểm cuối năm 2015 đã chứng kiến một kỳ họp Quốc Hội bùng nổ. Nhưng một trong những đau khổ tận cùng của nhân loại là người ta không thể thốt ra được cái đau khổ riêng có từ đáy lòng. Vẫn quá ít tiếng nói bức xúc và phản biện xuất xứ từ một Quốc Hội mang nặng thói quen nín thở. Hiện thực khó có có thể tưởng tượng được là bất chấp cái hiện thực quá sức đen tối về tương lai túi rỗng, tuyệt đại đa số đại biểu dân bầu vẫn ung dung hưởng lạc trong khán phòng tiêu tốn hàng tỷ đồng cho mỗi ngày họp.

Những ngày họp hoang phí như thế đã kéo dài ít nhất từ năm 2011 – khi lạm phát lên đến 20% chỉ tính trên báo cáo và nền ngân sách quốc gia bắt đầu có dấu hiệu khủng hoảng – cho đến tận bây giờ.

Nhưng nếu vào năm 2011 vẫn còn rơi rớt chừng 4-5 dân biểu chịu phản biện, thì đến năm 2012 con số đó chỉ còn một nửa, dù tình thế kinh tế và ngân sách lại càng ngập ngụa hơn.

Còn từ năm 2013 đến nay, điều kỳ lạ là bất chấp kinh tế và xã hội mau chóng rơi vào cơn mê sảng, Quốc Hội vẫn như câm nín.

Thái độ câm nín quá đáng nể phục như thế còn xuất thần hơn trước “bạn vàng” Trung Quốc. Nếu vào giữa năm 2014 và song trùng với cuộc tấn công chính trị của giàn khoan Hải Dương 981 mà Quốc Hội Việt Nam còn không thở hắt được bản nghị quyết nào về Biển Đông, đến cuối năm nay tất cả như phủ phục dưới cái xoa đầu nghễu nghện của Tập Cận Bình.

Để ngay sau khi rời Hà Nội, họ Tập thẳng tuột tại Singapore về “Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc,” còn toàn bộ Quốc Hội Việt Nam vẫn tiếp tục câm nín.

Được kết thúc vào những ngày gần cuối Tháng Mười Một, nhưng Quốc Hội Việt Nam vẫn như “không nghe, không thấy, không biết” trước hình ảnh tàu Trung Quốc chĩa AK vào tàu hải quân Việt Nam. Chỉ một ngày sau khi kỳ họp Quốc Hội này bế mạc, một ngư dân là Trương Đình Bảy đã bị “tàu lạ” nhảy thẳng sang tàu cá Việt bắn chết.

Bản lĩnh ê chề của Quốc Hội Việt Nam là thế.

Nguyễn Thị Kim Ngân?

Trở nên mờ nhạt một cách bất thường trước ông Nguyễn Sinh Hùng trên phương diện phát ngôn, Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân như giữ thái độ “bất tuân dân sự” tại kỳ họp cuối năm 2015.

Đại hội 12 đang đến rất gần với bất cứ sơ sểnh nào cũng trở thành mồi cho lũ cá mập. Nghe nói bà Ngân đang nằm trong vài phương án nhân sự: Hoặc thay ông Hùng làm chủ tịch Quốc Hội, hoặc được điều động về Sài Gòn làm bí thư thành ủy.

Khả năng được đôn lên làm chủ tịch quốc hội của bà Nguyễn Thị Kim Ngân là rõ hơn. Bà cũng là người có vẻ được lòng các phe cánh đối đầu.

Nhưng làm thế nào để một khi trở thành chủ tịch Quốc Hội, bà Ngân sẽ trở nên một con én để ít nhất khiến biến đổi gương mặt quá trì độn của phần lớn trong gần 500 đại biểu đang tiêu tốn không ít tiền đóng thuế của dân?

Thực ra chưa thấy manh mối hy vọng nào về chuyện đó. Bằng chứng mới nhất là Luật Trưng Cầu Dân Ý.

Sau gần hai năm đưa lên đặt xuống, Quốc Hội Việt Nam đã chịu thông qua Luật Trưng Cầu Dân Ý vào ngày 25 Tháng Mười Một. Trong quyết định trưng cầu ý dân có “vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế-xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước, hoặc vấn đề đặc biệt quan trọng khác của đất nước.”

Tuy nhiên như thế nào là “vấn đề đặc biệt quan trọng” lại vẫn chưa được chi tiết hóa trong luật. Giải thích về quy định thế nào là “vấn đề đặc biệt quan trọng,” Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội chỉ mô tả: “Việc xác định thế nào là ‘đặc biệt quan trọng’ gắn với nội dung từng vấn đề được xem xét, trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và liên quan đến nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau. Do đó, nội dung này nên để Quốc Hội cân nhắc, xem xét quyết định đối với từng nội dung cụ thể khi có đề nghị của các chủ thể có thẩm quyền quy định tại Điều 14 của Luật Trưng Cầu Dân Ý.”

Cần nhắc lại, trước khi Luật Trưng Cầu Dân Ý được chính thức thông qua, một số ý kiến đã cho rằng Quốc Hội phải tiến hành trưng cầu ý dân về tình trạng chiến tranh hoặc những quyết sách lớn của thể chế liên quan đến Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An và có thể cả chính sách ngoại giao. Tương tự, những dự án có vốn “khủng” lên đến hàng trăm ngàn tỷ đồng (chẳng hạn dự án sân bay Long Thành và dự án đường sắc cao tốc Bắc Nam sử dụng vốn ODA), đương nhiên Quốc Hội phải trưng cầu dân ý.

Thế nhưng có vẻ Luật Trưng Cầu Dân Ý chỉ được thông qua cho có. “Vấn đề đặc biệt quan trọng” vẫn quá mù mờ và dường như bị cố ý “cho qua.” Tình trạng này rất có thể dẫn đến việc hiện diện một pháp lệnh hay nghị định triển khai Luật Trưng Cầu Dân Ý không muốn chi tiết hóa những “vấn đề đặc biệt quan trọng” là gì, và do đó việc cho ra đời luật này chỉ là một cách để đối phó với sức ép dư luận mà hoàn toàn chưa có gì được coi là “xem trọng ý kiến người dân.”

Tình trạng vật đổi người không đổi như thế cho thấy ý chỉ “Cương lĩnh đảng quan trọng hơn hiến pháp” vẫn ngự trị. Theo đó, Bộ Chính Trị đảng cầm quyền luôn muốn cầm tay chỉ việc Quốc Hội mà không để người dân có lấy một chút cơ hội phản biện.

Ngoài Luật Trưng Cầu Dân Ý, Quốc Hội Việt Nam hiện vẫn đang lúng túng đối phó với hai bộ luật khác được giới dân chủ nhân quyền trong nước và quốc tế lên tiếng thúc ép là Dự Luật Tôn Giáo và Dự Luật Lập hội. Cả hai dự luật này đều liên đới mật thiết với tiến trình vào TPP của Việt Nam.

Và cũng liên đới không kém mật thiết với đường đi nước bước cùng thế còn – mất sau đại hội 12 của từng nhân vật cao cấp, trong đó có đương kim Ủy Viên Bộ Chính Trị Nguyễn Thị Kim Ngân.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s