Chưa trả nợ, không được chết!

Posted: December 8, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Văn Tuấn(Ba Sàm) – Bà có một cái tên rất ư là hiền lành: Nguyễn Thị Lê. Bà quê ở xã Hương Phong, Hiệp Hoà, Bắc Giang. Bà là người bị tàn tật hồi còn nhỏ, và thuộc hộ nghèo. Bà mới qua đời vào đầu tháng 11 năm nay. Nhưng chính quyền địa phương … không cho bà chết. Họ không chịu làm giấy chứng tử cho bà.

� Xem thêm: Phật giáo thời mạt pháp? + Ông Huỳnh Văn Nén yêu cầu khởi tố điều tra viên.


Gia đình bà Lê đang trao đổi với phóng viên báo Lao động Thủ đô

Lí do chính quyền địa phương không kí giấy chứng tử là vì bà còn nợ (1). Số tiền nợ là 1.7 triệu đồng (tức khoảng 85 USD). Bà nợ thuế đất nông nghiệp, nợ tiền đóng góp an ninh quốc phòng, nợ tiền ủng hộ đồng bào lũ lụt, quĩ bảo trợ trẻ em, nợ quĩ đền ơn đáp nghĩa, nợ quĩ khuyến học, nợ quĩ hội xuân, v.v. Nên nhớ là bà Lê thuộc diện hộ nghèo của xã, nên bà lấy tiền đâu mà đóng cho mấy cái quĩ đó.

Theo ông Nam, ngày 9/11/2015, bà Lê qua đời, gia đình đã thông báo cho chính quyền địa phương biết để làm giấy chứng tử, phát loa truyền thanh thông báo, cũng như hỏi mượn xe tang, kèn trống… Tuy nhiên, những việc đó không được chính quyền địa phương tạo điều kiện. Lý do đưa ra là bà Lê còn nợ thuế đất nông nghiệp, tiền đóng góp an ninh quốc phòng, ủng hộ đồng bào lũ lụt, quỹ bảo trợ trẻ em, đền ơn đáp nghĩa, khuyến học, hội xuân… với số tiền hơn 1,7 triệu đồng.

Nhưng chính quyền địa phương thì cứ như là cái máy. Họ nhất định không cho phát loa thông báo cái chết của bà, không cho mượn xe tang, không làm giấy chứng tử. Thật khó tưởng tượng nơi nào mà chính quyền hành xử với người dân như thế. Hi vọng đây chỉ là trường hợp cá biệt, không đại diện cho hệ thống nhà Nước hiện nay. Người mình có câu “Nghĩa tử là nghĩa tận”, nhưng cái chính quyền này đã mất cái đạo đức đó quá lâu rồi, nên họ hành xử như là một cái bộ máy Mác Lê Mao? Nếu đúng thế thì đây là một chứng từ về sự tàn phá truyền thống dân tộc của cái hệ tư tưởng Mác Lê Mao.

Đọc về cái chết của bà Nguyễn Thị Lê và những thứ thuế, phí mà bà còn “nợ” làm tôi nhớ đến lời lên án chế độ thực dân pháp của ông Hồ Chí Minh. Trong bản cáo trạng thực dân Pháp ông viết hơn 70 năm trước có những câu như “Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân […] Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu […] Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng […] Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng” (2). Ôi, những lời cáo trạng hùng hồn này sao mà hợp thời thế!

Tôi đoán rằng nếu ai đó hỏi cái chính quyền xã Hương Phong tại sao họ hành xử như thế với bà Lê, chắc chắn họ sẽ trả lời: làm đúng qui định, theo đúng qui trình. Họ có thể rất tự hào vì đã làm đúng qui định, và thế là được tưởng thưởng. Nhưng đó là câu nói đầu môi, câu nói thời thượng của các quan chức Nhà nước ngày nay. Đó cũng là một cách biện minh cho những hành động bất chính, những hành vi tàn nhẫn, những quyết định vô cảm, và sự bất tài của họ. Đó cũng là câu nói cho thấy họ là cái máy, chứ không phải con người (bởi con người thì phải có tình cảm).

Đọc bài này làm tôi nhớ đến chuyện ở Úc. Dạo đó, Nhà nước chuyển sang hệ thống quản lí bằng điện toán, nên tất cả giấy đòi nợ, trợ cấp xã hội, v.v. đều do máy tính làm. Đến ngày thì máy tính in ra hàng triệu thư và gửi đến cho đương sự. Dĩ nhiên, hệ thống này rất hiệu quả vì giảm nhân viên và tiết kiệm ngân sách. Nhưng có một vụ mà báo chí làm ồn ào, là giấy đòi nợ được gửi cho bà cụ mới qua đời. Số tiền mà thư đòi nợ là … 1.5 đôla! Thế là gia đình của bà cụ lên đài truyền hình nói về sự vô cảm của Nhà nước, của cái xã hội mà họ gọi là “máy”. Sự việc ồn ào đến độ bà bộ trưởng Bộ An sinh xã hội phải đứng ra xin lỗi.

Nếu chính quyền xã Hương Phong và vị Bộ trưởng Bộ Lao động – thương binh xã hội muốn chứng tỏ họ văn minh và có đạo đức, họ nên chính thức xin lỗi gia đình bà Nguyễn Thị Lê.

(1) Không được chết, vì “nợ” thôn 1,7 triệu đồng (LĐTĐ) – Thời gian qua, người dân thôn Chùa, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang) bàn tán xôn xao về chuyện bà Nguyễn Thị Lê “không được chết” vì nợ chính quyền thôn 1,7 triệu đồng… “Có lẽ chẳng nơi đâu lại có chuyện như vậy. Em gái tôi bị tàn tật từ nhỏ, thuộc hộ nghèo, lại ở cùng hai người em cũng bị tàn tật. Ấy vậy mà khi qua đời, chính quyền địa phương lại “bỏ rơi” như thế. Việc này không chỉ đi ngược lại với đạo lý làm người mà còn vi phạm pháp luật. Là người tàn tật, thuộc hộ nghèo được hưởng chế độ, chính sách của nhà nước, nhưng không hiểu lý do gì, mặc dù đã có văn bản của tỉnh, của huyện về việc cấp cho em gái tôi mảnh đất để sinh sống, nuôi hai đứa em bị tật nguyền, nhưng qua nhiều năm, với nhiều văn bản của cấp trên, UBND xã vẫn không thực hiện. Đến khi em gái tôi qua đời, chính quyền thôn cũng không cho nó được chết như người khác chỉ vì một khoản nợ vô cùng vô lý, trái quy định…”, ông Nam bức xúc nói.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Khúc – trưởng thôn Chùa – cho biết: Gia đình tôi và gia đình bà Lê có quan hệ họ hàng rất gần. Việc này cũng làm tôi mất ngủ và suy nghĩ nhiều. Tuy nhiên, nếu không làm thế thì người dân có ý kiến. Trước khi làm, tôi đã hỏi ý kiến của lãnh đạo cấp trên, họp chi bộ thôn và căn cứ vào hương ước của làng. Bà Lê bị tàn tật, thuộc hộ nghèo đã nhận được hỗ trợ của nhà nước, còn nghĩa vụ đóng góp với địa phương, xã hội thì vẫn phải làm. Tổng số tiền bà Lê chưa đóng góp, còn nợ là 1.716.000 đồng. Ở thôn có 11 hộ nghèo cũng đều phải đóng góp đầy đủ những khoản thu ấy…”.

Không biết ông Khúc không hiểu hay cố tình bất chấp mọi quy định của nhà nước, pháp luật đối với người tàn tật, hộ nghèo về các khoản thu, khi tại Nghị định số 55/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ đã nêu việc miễn 100% tiền thuế đất nông nghiệp cho hộ nghèo có hiệu lực từ năm 2011. Cũng như tinh thần của Nghị định Chính phủ về các khoản thu đóng góp không được ấn định số tiền cụ thể. Trong đó, ở vụ việc này, có 6 đối tượng là người bị tàn tật, hộ nghèo… lẽ ra không phải đóng góp những khoản thu này.

Vậy vì sao, bà Nguyễn Thị Lê và 11 gia đình khác trong thôn nằm ngoài đối tượng phải thu, nhưng thôn vẫn yêu cầu thực hiện đầy đủ? Cũng như căn cứ vào đâu để có con số hơn 1,7 triệu đồng mà bà Lê nợ thôn, để rồi chính quyền nơi đây “bỏ rơi” bà Lê như vậy?

(2) Đề thi thử THPT Quốc gia 2015 môn Văn – Sở GD&ĐT Phú Thọ (Ngày Nay).

Phật giáo thời mạt pháp?

Nguyễn Văn Tuấn(Ba Sàm) – Hỗm rày tôi theo dõi loạt phóng sự trên Lao Động về một vị sư trụ trì một chùa ở ngoài Bắc (1-4) mà cảm thấy trăn trở rất khó tả. Nhớ có lần một anh bạn tôi nhận xét rằng Phật giáo Việt Nam có cái nôi ở ngoài Bắc, nhưng ngày nay, chỉ có Phật giáo ở Huế là còn giữ bản sắc mà thôi, và kế đến là Phật giáo trong Nam, chứ ngoài Bắc thì coi như hết Phật giáo rồi (anh ấy dùng chữ “vứt đi”). Loạt bài phóng sự của Lao Động cung cấp một chứng cứ sinh động cho nhận xét đó.


Sư Thích Minh Thịnh hút thuốc lào sòng sọc
và phát ngôn “vô cùng sốc”. Ảnh: báo Lao Động

Thật khó tin nổi một vị sư trụ trì ở một chùa được xem là di sản quốc gia mà phát ngôn rất ư là … giang hồ. Ông còn có một lối sống (lifestyle) không phù hợp với đời sống của một bậc tu hành. Thuở đời nay nhà sư đã xuất gia mà ăn thịt chó, uống tiết canh, hút thuốc lào, uống rượu Tây, say xỉn bí tỉ. Đó không phải là nhà sư nữa (chưa nói đến bậc chân tu), mà là dân “giang hồ” rồi. Mà, quả thật nhìn qua hình (2), từ ánh mắt đến cách ăn mặc, thì thấy ông không có dáng dấp của một nhà sư.

Trong thực tế thì cũng có nhà sư không xuống tóc và ăn mặn (thật ra, thầy tôi nói cái gốc của chữ này là “ăn mạng”). Theo tôi biết thì Phật giáo nguyên thuỷ không cấm ăn mặn, dù cấm sát sinh. Do đó, mới có chuyện tì kheo khất thực ai cho gì thì ăn đó, vì họ lí giải rằng ăn thịt không thấy con vật bị giết, không nghe con vật kêu la, hay ăn đồ thừa. Nhưng tì kheo không được ăn thịt chó, rắn, và ngựa (chẳng hiểu sao). Nhưng uống rượu thì chắc chẳng có tông phái nào cho phép cả.

Do đó, khi thấy vị trụ trì chùa mà báo Lao Động đề cập đến ăn thịt chó, tôi rất ngạc nhiên, không biết ông thuộc tông phái nào. Vì nếu ông theo Phật giáo đại thừa (phái chính ở VN) thì ông không được ăn mặn, mà chỉ ăn chay thôi. Khi hỏi về ăn mặn, cách lí giải của ông “sư” này thật khó nghe: “Chúng tôi được quyền đi buôn, được quyền làm đủ mọi thứ, chúng tôi làm đúng quyền công dân của tôi. Tôi là công dân đặc biệt mặc áo nâu đi ở chùa thôi. Chúng tôi không bao giờ được say rượu, nhưng ăn thịt thì được, thoải mái. Cốt sao, dù ăn thịt nhưng chúng tôi không tự tay mình giết, không xui người ta giết con vật, khi người ta giết con vật chết thì tôi không nghe tiếng kêu, không thấy máu chảy – nếu làm được như thế thì chúng tôi ăn thịt như ăn rau. Còn uống rượu thì nó sai thật, nhưng mà thanh niên không uống rượu thì nó chán lắm.”

Thật là hết ý! Một bậc tu hành mà ăn nói như thế thì không còn gì để nói nữa. Còn nhiều câu nói rất chướng tai khác nữa, mà tôi nghĩ một bậc tu hành không bao giờ nói như ông.

Nhưng vị ấy không phải là một “ca” duy nhất phản ảnh sự suy thoái của Phật giáo Việt Nam; trước đây đã có nhiều người như thế. Tiêu biểu là trường hợp người có pháp danh là Thích Thanh Quyết mang chức danh “Thượng toạ”. Trong một bài phát biểu ca ngợi công an, ngài Thanh Quyết đề cập đến công an như là “đồng chí”. Ngài nói: “Các đồng chí khám phá được bởi có chuyên môn nghiệp vụ, có nhân lực được đào tạo, tôi luyện tốt, có kinh nghiệm đấu tranh, khám phá án và có phẩm chất cao” (5). Ngoài ra, ngài còn khuyên Việt Nam nên xây dựng quân đội mạnh như … Bắc Triều Tiên! Một người tu hành mà có vẻ quan tâm đến an ninh và quân sự thì quả là hiếm hoi và bất bình thường vậy.

Ở VN, người ta truyền miệng nhau những câu chuyện nhà sư trá hình, nhà sư … mang súng! Năm ngoái, một cựu quan chức ngoại giao VN là Đặng Xương Hùng kể về một sĩ quan an ninh giả dạng nhà sư Phật giáo đi dự hội nghị về tôn giáo ở Âu châu. Tôi sợ là những người như ngài Thích Thanh Quyết và các vị mà bài báo Lao Động nhắc đến là các “đồng chí” ấy, chứ không phải là người thật sự tu hành. Có lẽ những người này chỉ là một bộ phận trong cái mà thầy Quảng Độ gọi là giáo hội thừa sai của đảng mà thôi. Đối với những người này, họ có khái niệm “Đạo pháp dân tộc chủ nghĩa xã hội” mà tôi thấy khó hiểu và khó chấp nhận. Âu đó cũng là một trong những “thành quả” của mấy mươi năm xây dựng xã hội chủ nghĩa?

Phật giáo Việt Nam, cũng như các tôn giáo khác, có những thời kì hưng thịnh và những lúc suy thoái. Không còn nghi ngờ gì nữa, Phật giáo ngày nay ở nước ta đang trong thời kì suy thoái (hay suy đồi?). Thế hệ Phật giáo sáng chói của những Thích Nhất Hạnh, Thích Tuệ Sĩ, Thích Trí Siêu (tức Lê Mạnh Thát), Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang, v.v. đang mất dần và khó có thể thay thế. Đọc và cảm nhận những tác phẩm uyên bác, cùng nhân cách của các vị tôi vừa kể, và đối chiếu với các “nhà sư” ngày nay chỉ làm cho chúng ta thở dài về một sự diệt vong Phật giáo đang xảy ra trước mắt chúng ta. Khi tôn giáo chính của một nước mà suy thoái thì chúng ta không ngạc nhiên khi thấy đạo đức xã hội cũng suy thoái theo.

(1) Trụ trì uống rượu Tây, nhắm tiết canh! (kỳ 1): Khi người làng buồn lòng vì nhà sư… (LĐ).
(2) Kỳ 2 loạt phóng sự “Trụ trì uống rượu tây, nhắm tiết canh! Cuộc trò chuyện “khó tin” với sư trụ trì chùa ăn tiết canh, uống rượu Tây… (LĐ).
(3) Trụ trì uống rượu Tây, nhắm tiết canh! (kỳ 3): “Kỳ phùng địch thủ” của sư Thích Thanh Mão (LĐ).
(4)  Kỳ 4 loạt phóng sự “Trụ trì uống rượu tây, nhắm tiết canh! Lý luận kiểu “hàng tôm hàng cá” của sư trụ trì “ngày nào cũng say“ (LĐ).
(5) Đại biểu Quốc hội – Thượng tọa Thích Thanh Quyết: Vật chất tuy còn những khó khăn, nhưng an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo (CAND).

Ông Huỳnh Văn Nén yêu cầu khởi tố điều tra viên

Nguyễn Đình Quân (TP) – Ngày 7/12, ông Huỳnh Văn Nén, cụ Huỳnh Văn Truyện và những người bị oan trong vụ án vườn điều đã ký đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự (đồng thời là đơn tố giác tội phạm) đối với những người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan pháp luật tỉnh Bình Thuận, trong vụ án vườn điều và vụ bà Lê Thị Bông bị giết.

Đơn này được gửi tới Cục Điều tra, Viện KSND Tối cao, đồng thời được gửi đến Viện KSND tỉnh Bình Thuận, TAND tỉnh Bình Thuận, Công an tỉnh Bình Thuận. Theo những người ký đơn, ngày 4/4/2006, sau khi được minh oan trong vụ án vườn điều, họ đã có đơn yêu cầu các cơ quan pháp luật xử lý theo pháp luật những cán bộ đã gây oan sai, nhưng đến nay chưa thấy giải quyết.

Ngày 3/12/2015, các cơ quan tố tụng tỉnh Bình Thuận đã xin lỗi ông Huỳnh Văn Nén về oan sai ông phải chịu trong vụ bà Bông và vụ án vườn điều, nhưng cũng chưa thấy công bố những cán bộ tiến hành tố tụng hai vụ án này bị xử lý về trách nhiệm. Những người ký đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với những người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan pháp luật tỉnh Bình Thuận (điều tra viên, thủ trưởng cơ quan điều tra ký kết luận điều tra, kiểm sát viên, lãnh đạo Viện KSND ký cáo trạng, thẩm phán xét xử cấp sơ thẩm) theo những tội danh: lạm quyền trong khi thi hành công vụ, truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, ra bản án trái pháp luật, dùng nhục hình, bức cung, làm sai lệch hồ sơ vụ án.

Họ nêu đích danh hai người cần bị truy cứu trách nhiệm hình sự là nguyên điều tra viên Cao Văn Hùng và ông Đinh Kỳ Đáp, nguyên Phó thủ trưởng Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Bình Thuận…

Từ đại án oan của ông Nén:
Không để nỗi bất an, bất bình dai dẳng

Luật sư Nguyễn Hồng Hà (TPO) – Cho đến ngày nay, sự thật và pháp lý đã xác minh, vụ bà Dương Thị Mỹ bị giết ngày 19/5/1993 (vụ án vườn điều) và vụ bà Lê Thị Bông bị giết ngày 23/4/1998 (vụ án Huỳnh Văn Nén) là hai án oan đối với đại gia đình bà Nguyễn Thị Lâm. Trong đó, ông Huỳnh Văn Nén là người tù oan xuyên thế kỷ, hai lần bị kết án oan giết người. Đây là sự kiện đen tối, đau thương không thể nào quên trong hoạt động tư pháp nước nhà.


LS Nguyễn Hồng Hà (bên phải) tại buổi giao lưu “Huỳnh Văn Nén
và hành trình giải oan xuyên thế kỷ” do báo Tiền Phong tổ chức, ngày 2/12.

Bất an và bất bình

Trong suốt 20 năm qua, kẻ giết bà Dương Thị Mỹ ung dung sống ngoài xã hội. Thay vào đó, các cơ quan bảo vệ pháp luật tỉnh Bình Thuận đã đưa cả một đại gia đình người dân vô tội vào nhà tù, với bản án oan nghiệt. Hậu quả nhiều người phải ở tù oan, bà Nguyễn Thị Nhung đã chết oan ức trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án vườn điều năm 2001.

Những đau thương, mất mát đối với đại gia đình bà Nguyễn Thị Lâm trong hàng chục năm qua không có gì có thể bù đắp được. Công lý chưa hoàn toàn được thực thi trong vụ án vườn điều, vì cho đến tận bây giờ vẫn chưa bắt được tội phạm.

Thậm chí, nếu có bị bắt thì kẻ thủ ác sẽ được “thoát tội” do hết thời hiệu (vụ án vườn điều đã quá 20 năm). Đó là chưa nói đến các bản án kết án oan của TAND tỉnh Bình Thuận đã xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người bị hại Dương Thị Mỹ khi nhận định người bị hại có lỗi.

Nhân dân tỉnh Bình Thuận nói riêng và cả nước nói chung làm sao có thể bình yên khi kẻ giết người đang ung dung ngoài xã hội? Đó là “món nợ lớn” mà các cơ quan bảo vệ pháp luật của tỉnh Bình Thuận chưa trả được.

Còn nhớ năm 2006, nhà nước đã chi trả đền bù chưa đến 1.4 tỷ đồng cho các thành viên trong gia đình bà Nguyễn Thị Lâm (chưa bồi thường cho ông Huỳnh Văn Nén), số tiền không thấm tháp gì so với những tang thương, mất mát họ phải gánh chịu, những năm tháng bị tù oan ức, gia đình ly tán…

Nghịch lý thay, bất công thay! Không có ai trong những người tiến hành tố tụng trực tiếp hai vụ án oan bị truy cứu trách nhiệm, không có ai phải chịu trách nhiệm trả tiền đền bù. Họ vẫn yên vị, thậm chí còn thăng tiến, giữ trọng trách” nhân danh nhà nước bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người”.

Riêng cựu điều tra viên Cao Văn Hùng, tác giả chính tạo nên hai vụ án oan đến thời điểm này vẫn không hối lỗi, vẫn cho rằng mình không làm điều gì sai pháp luật. Vị này còn nhanh chân chuyển sang hành nghề luật sư, “góp phần bảo vệ công lý”. Đây là nghịch lý gây nhiều tranh luận về các tiêu chuẩn trở thành luật sư, trong đó có yếu tố đạo đức, chuẩn mực con người…

Phải xử lý nghiêm

Cả 3 cơ quan điều tra, truy tố, xét xử của tỉnh BìnhThuận đã sai lầm nghiêm trọng trong hai vụ án, kết án oan người vô tội, làm tổn hại uy tín của Nhà nước, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý.

Những người tiến hành tố tụng đã lấy việc bắt, giam thay cho công tác điều tra, xác minh, có dấu hiệu bức cung, nhục hình, xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của công dân.

Trực tiếp là những người tiến hành tố tụng (điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán) phải chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Hiện nay ông Huỳnh Văn Nén và gia đình bà Nguyễn Thị Lâm đã có đơn yêu cầu xử lý nghiêm những kẻ có chức quyền trong tố tụng đã làm oan người vô tội. Đây là đòi hỏi chính đáng của người bị hàm oan, của công luận. Vì vậy, không thể tiếp tục để vụ án “chìm xuồng” do “thời hiệu”, “để lâu cứt trâu hóa bùn”.

Tôi cho rằng những người trực tiếp liên quan đến việc điều tra, truy tố, xét xử hai vụ án oan xuyên thế kỷ này phải từ bỏ ngay chức quyền trong hoạt động tư pháp, đừng để dân than, dân oán kéo dài.

Nếu những người đã gây oan đối với dân, làm thiệt hại đến uy danh nhà nước, gây thiệt hại ngân sách nhà nước (hại dân, hại nước) không bị xử lý và vẫn tiếp tục làm người đại diện cơ quan bảo vệ pháp quyền của chế độ, thì cán cân công lý tiếp tục cong vênh, niềm tin của người dân đối với nhà nước sẽ bị đánh mất. Thật tệ hại nếu để điều đó xảy ra. Không thể để điều đó xảy ra.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s