Cục nợ 1,7 triệu tỉ đồng của các doanh nghiệp Nhà nước: Gánh nặng chất lên nền kinh tế

Posted: December 8, 2015 in Uncategorized
Tags:

Thông Chí – Lan Hương (LĐ) – Theo báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội mới đây, số nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hiện tương đương tới 44,2% GDP của cả quốc gia với 1,7 triệu tỉ đồng và không có dấu hiệu nợ giảm. Đáng chú ý, dù khối doanh nghiệp này nợ nhiều, thiếu hiệu quả nhưng việc bán cổ phần DNNN vẫn còn chậm chạp, chưa triệt để dẫn tới khoản nợ hàng triệu tỉ đồng này ngày càng tăng, gây gánh nặng trả nợ của nền kinh tế.

� Xem thêm: Đối tác phát triển lo nợ công Việt Nam + Bức tranh nợ công của Việt Nam qua góc nhìn BVSC.


Khoản nợ của các DNNN đang gây gánh nặng trả nợ cho nền kinh tế. Ảnh: T.L

Nợ ngày càng lớn

Dù nhận nhiều ưu đãi nhưng số nợ của DNNN hiện đang lên tới mức khủng khiếp. Theo “Báo cáo tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2014 của các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (CIEM), nợ phải trả của 119 DNNN là các tập đoàn, TCty và Cty mẹ lên tới 1,567 triệu tỉ đồng tính đến năm 2014 (tăng 8% so với năm 2013).

Ngoài ra, 662 DNNN là các Cty TNHH MTV độc lập với tổng nợ phải trả là hơn 0,173 triệu tỉ đồng (tăng 74% so với năm 2013). Như vậy, tổng nợ phải trả của các DNNN hiện lên tới trên 1,7 triệu tỉ đồng, tăng 12,2% so với năm 2013 và tương đương với 44,2% GDP tính bằng tiền đồng theo giá hiện hành của Việt Nam năm 2014.

Còn theo đánh giá tại diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) 2015 do Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ KHĐT tổ chức mới đây, DNNN đang nhận được nhiều đầu tư từ ngân sách và một phần rất lớn tín dụng doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều DNNN lại hoạt động với năng suất thấp, thua lỗ hoặc lãi không đáng kể mà nguyên nhân chính là do sự kiểm soát trực tiếp của Nhà nước đối với các yếu tố đầu vào chính và sự can thiệp vào nền kinh tế bằng sở hữu và các biện pháp hành chính.

Thoái vốn, cổ phần hóa: Nhiều lực cản

Trước hoạt động không hiệu quả, làm méo mó thị trường, hoạt động cổ phần hóa (CPH), thoái vốn DNNN được đặt ra cấp thiết. Tuy nhiên, theo đánh giá về hiệu quả của hoạt động này tại các DNNN của Việt Nam, nhóm chuyên gia VDPF cho rằng: Thực tế CPH không có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế bởi chỉ có một số lượng nhỏ cổ phần của DNNN cũ được bán, đôi khi những cổ phần đó được bán cho các nhà đầu tư thụ động, bao gồm các ngân hàng, vì vậy họ không quan tâm tới việc cải thiện hiệu quả quản lý.

Ngoài ra, một vướng mắc khác được các nhà đầu tư nước ngoài chỉ ra là mặc dù Chính phủ cho phép tăng tỉ lệ sở hữu nước ngoài tại các Cty đại chúng, Chính phủ vẫn chưa công bố danh mục các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài và tỉ lệ sở hữu nước ngoài cụ thể áp dụng với các ngành nghề này khiến Nghị định 60 gần như bị vô hiệu hóa.

“Luật Đầu tư 2014 quy định không rõ ràng về đối tượng điều chỉnh khiến cho các doanh nghiệp trong nước, nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán đều không biết mình có thuộc đối tượng áp dụng của Luật Đầu tư 2014 không” – nhóm công tác thị trường vốn nhận định.

Nói về CPH, Phó Đại sứ Australia tại Việt Nam Layton Pike khuyến nghị, trong 5 năm tới, Chính phủ nên xây dựng và thực hiện một chiến lược triệt để, toàn diện và minh bạch để dần dần từ bỏ sở hữu DNNN ở những lĩnh vực không cần đầu tư của Nhà nước và chuyển nguồn lực khan hiếm đó sang những lĩnh vực chiến lược như phát triển hạ tầng và cải thiện chất lượng quản trị. Cụ thể đối với các DNNN Việt Nam thấy cần thiết và quyết định giữ, cần áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp hiện đại và kỷ luật thị trường, bao gồm cả ngân sách cứng và lựa chọn các nhà điều hành chuyên nghiệp để đảm bảo rằng, các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả và có cạnh tranh bình đẳng với khu vực tư nhân.

Liên quan tới nội dung này, bà Victoria Kwakwa – Giám đốc quốc gia của World Bank – cho rằng, điều quan trọng là Việt Nam phải thay đổi vai trò của Nhà nước từ một nhà sản xuất sang vai trò kiến tạo và quản lý. Cụ thể, Chính phủ cần phải rút khỏi các lĩnh vực không cần thiết, nhằm tạo khoảng trống cho các doanh nghiệp tư nhân nhập cuộc. “Chính phủ cần thoái vốn hoàn toàn khỏi nhiều doanh nghiệp hơn nữa.

Chính phủ công bố con số là 10 doanh nghiệp. Nếu thực hiện thêm 10, thậm chí 20 doanh nghiệp nữa sẽ thể hiện mạnh mẽ hơn nữa quyết tâm cải cách của Chính phủ trong lĩnh vực này” – bà Kwakwa nói. Với các chuyên gia nước ngoài, dường như đây là lối thoát duy nhất để thoát khỏi gánh nợ chồng chất từ các DNNN đang đặt lên nền kinh tế hiện nay.

Đối tác phát triển lo nợ công Việt Nam

Nguyễn Lê (VnEconomy) – Nợ công và các khoản nợ do Nhà nước đảm bảo đã gần như tăng gấp đôi kể từ năm 2000…


ADB cho rằng, vào thời điểm này, Chính phủ Việt Nam đang đối mặt
với một thách thức là gánh nặng nợ công ngày càng tăng.

Được chuẩn bị bởi phái đoàn trường trú ADB tại Việt Nam (VRM), bản báo cáo về cấp vốn đầu tư cơ sở hạ tầng cho Việt Nam tại diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam 2015 thể hiện khá nhiều lo ngại về nợ công.

Lo ngại này nằm trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng nhanh của Việt nam đã vượt quá sự phát triển của cơ sở hạ tầng, và nhu cầu to lớn cho đầu tư cơ sở hạ tầng ước tính khoảng 10-12% GDP mỗi năm từ năm 2015 và 2020.

Tại diễn đàn, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam Eric Sindgwick cũng khuyến nghị Chính phủ nên có những hành động ngay lập tức để đối phó với thách thức mới về nguồn tài chính xây dựng hạ tầng.

Nhanh đến mức… không an toàn

ADB cho rằng, vào thời điểm này, Chính phủ Việt Nam đang đối mặt với một thách thức là gánh nặng nợ công ngày càng tăng.

Theo báo cáo, các nền kinh tế thu nhập thấp thường có tỷ lệ nợ công giảm. Nhưng nợ công tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong những năm qua.

Nợ công và các khoản nợ do Nhà nước đảm bảo đã gần như tăng gấp đôi kể từ năm 2000, hiện ở khoảng 60% GDP trong năm 2015, cao hơn mức trung bình trong khu vực.

“Việc tăng nợ công là kết quả của một nền tài chính lỏng lẻo, phản ánh thâm hụt ngân sách lớn, và gần đây là khoảng trống về ngân sách”, VRM khái quát.

Phân tích từ báo cáo cho thấy, tăng nợ công kéo theo chi thường xuyên cao hơn cùng thời kỳ trong khi nguồn vốn chi đầu tư vẫn hầu như không thay đổi và tính theo tỷ lệ GDP.

Trong khi các nguồn vay ưu đãi từ nước ngoài vẫn chiếm một tỷ lệ lớn trong danh mục nợ, các khoản nợ trong nước là nguyên nhân tăng chủ yếu. Còn phát triển thị trường trái phiếu trong nước sẽ cung cấp thêm nguồn tài chính cho chính phủ, nhưng sẽ rất dễ bị tổn thương.

VRM nêu rõ, theo điều 4 của báo cáo IMF về đánh giá kinh nghiệm các quốc gia, cho thấy rằng nợ công của Việt Nam đang nhanh chóng lên đến mức độ không an toàn (phân tích tại đây cho thấy mức độ nợ an toàn nên từ 40 – 45% GDP của Việt Nam).

Đối tác ADB cũng cho rằng nếu duy trì quỹ đạo chính sách hiện tại, sẽ dẫn đến nợ công cao hơn, kể cả khi tiếp tục kiềm chế chi tiêu – bao gồm cả chi đầu tư, dẫn tới làm giảm tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn – và thực hiện các biện pháp tăng thu tạm thời như chi trả cổ tức của các doanh nghiệp Nhà nước.

Hành động ngay lập tức

Theo Giám đốc ADB, ông Eric Sindgwick, việc tăng các khoản vay của Chính phủ đã cho thấy nhu cầu của thị trường trong nước trong việc hỗ trợ phát hành trái phiếu Chính phủ khá hạn chế. Rõ ràng là thị trường trái phiếu tiền tệ trong nước cần phải phát triển mạnh nếu muốn đóng một vai trò quan trọng hơn trong tài chính để xây dựng cơ sở hạ tầng.

Tại diễn đàn, ông Eric Sindgwick đã nêu ra 3 vấn đề chính mà các đối tác phát triển nghĩ rằng Chính phủ nên có những hành động ngay lập tức để bắt đầu các tiến trình nhằm đối phó với những thách thức mới về nguồn tài chính để xây dựng cơ sở hạ tầng.

Khuyến nghị thứ nhất là cần tận dụng hiệu quả hơn nữa nguồn vốn ODA sẵn có.

Việc Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình sẽ làm giảm đi các cơ hội tiếp cận với nguồn hỗ trợ vay ưu đãi từ các ngân hàng phát triển đa phương.

Tuy nhiên, ADB nhìn nhận, cùng lúc đó, rất nhiều nguồn lực mới tập trung vào thị trường của các nguồn hỗ trợ phát triển chính thức cũng xuất hiện nhiều hơn. Dù các điều kiện về lãi suất dựa trên thị trường của những nguồn lực này cao hơn đôi chút so với nguồn ODA ưu đãi, song điều ADB nhấn mạnh chính là nguồn tài chính thông qua các nguồn lực này ưu đãi hơn về lãi suất, phí vay và thời hạn trả nợ so với nguồn tài chính tư nhân thông thường.

Thêm vào đó, các nguồn lực này cũng thường xuyên cung cấp các kiến thức cần thiết để nâng cao chất lượng và tác động của nguồn vốn đầu tư.

Các đối tác phát triển cũng cho rằng cần ưu tiên cung cấp thông tin rõ ràng hơn về việc sử dụng nguồn vốn ODA cho các lĩnh vực xã hội. Khi các nguồn viện trợ đa phương có xu hướng giảm và Việt Nam tốt nghiệp nguồn vốn vay ODA ưu đãi, thì cần có một chính sách rõ ràng để hướng dẫn các nguồn đầu tư trong tương lai cho những lĩnh vực này.

Sau nhiều năm nỗ lực “dừng lại và đi tiếp”, cần nâng cao vai trò của đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại Việt Nam, ADB đưa ra khuyến nghị thứ hai.

Vấn đề tiếp theo cần hành động ngay, theo ADB là cần có nỗ lực phối hợp để thúc đẩy phát triển của thị trường vốn nhanh hơn.

Việc thị trường tài chính và thị trường vốn chậm phát triển đã làm cho Việt Nam mất đi nguồn đầu tư cần thiết, ông Eric Sindgwick nhìn nhận.

Việt Nam cũng cần tiếp tục đưa ra các tiêu chuẩn tài chính, kế toán và kinh doanh minh bạch và rõ ràng hơn vì sẽ giúp tạo lập niềm tin cho các nhà đầu tư và giúp họ mong muốn đầu tư dài hạn hơn vào Việt Nam.

Bức tranh nợ công của Việt Nam qua góc nhìn BVSC

Trung Nghĩa (VNTB) – Nợ công của Việt Nam đang ở mức cao so với các nước trong khu vực trong khi Chính phủ đang phải thu xếp các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển giai đoạn 2016-2020.

Tăng chóng mặt

Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) vừa công bố báo cáo chuyên đề mang tên “Nợ công: Cần cách nhìn trực diện”, trong đó phân tích quy mô và cơ cấu nợ công của Việt Nam, thách thức đối với Chính phủ trong việc xử lý nợ công trong trung hạn.

Theo báo cáo này, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam có xu hướng tăng liên tục với tốc độ khá nhanh, từ mức 51,7% năm 2010 lên mức 59,6% năm 2014, và ước tính sẽ đạt 61,3% năm nay và mức 64,3% trong năm 2017, sát mức trần 65% mà Quốc hội cho phép.

BVSC cho biết, trong 3 năm trở lại đây, GDP danh nghĩa tăng chậm lại cũng là một yếu tố khiến tỷ lệ nợ công có xu hướng tăng tốc, bên cạnh nguyên nhân chính là việc phát hành trái phiếu chính phủ gia tăng. Với tăng trưởng GDP thực tế hàng năm dự báo là 6,5% và lạm phát bình quân dự báo ở mức 4-6% trong các năm tới, GDP danh nghĩa ước tính sẽ tăng bình quân trên 10%/năm. Như vậy, quy mô nợ công hàng năm trên thực tế có thể tăng thêm khoảng trên 250 nghìn tỷ đồng vì tỷ lệ nợ công không đổi.

Trong cơ cấu nợ công, nợ của Chính phủ (bao gồm các loại trái phiếu, tín phiếu, vay ODA, vay thương mại từ các đối tác song phương và đa phương) chiếm tới 80%; còn lại 20% là nợ do Chính phủ bảo lãnh (các loại trái phiếu do Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) và Ngân hàng Chính sách Xã hội phát hành) và nợ chính quyền địa phương. Những năm gần đây, nợ của Chính phủ có cùng chiều xu hướng của tổng nợ công. Tỷ lệ nợ Chính phủ/GDP cũng tăng dần đều trong 5 năm trở lại đây, đến cuối năm 2015 ước đạt khoảng 49%.

Nếu niềm tin của người dân không còn, thì…

Tỷ lệ nợ công của Việt Nam đang ở mức cao hơn khá nhiều so với một số nước có điều kiện phát triển tương đồng trong khu vực. Đáng chú ý là tỷ lệ này có xu hướng giảm dần hoặc khá ổn định tại các nước khác kể từ năm 2006, trong khi ở Việt Nam lại tăng rõ nét, nhất là giai đoạn 2009 đến nay. Theo nhóm nghiên cứu của BVSC, thì khi bóc tách phần vay ODA, vay thương mại ưu đãi song phương và đa phương của Chính phủ (phần này có độ an toàn cao hơn, chi phí lãi vay thấp hơn), tổng các khoản nợ còn lại từ phát hành trái phiếu, tín phiếu, nợ bảo lãnh… của Việt Nam vẫn đứng thứ 2 trong số các nước thuộc mẫu so sánh.

Tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP của Việt Nam tăng nhẹ trong giai đoạn 2010-2014 (dao động từ 37-40%), nhưng vẫn cao so với các nước cùng nhóm khác trong khu vực (Bangladesh từ 18-22%; Thái Lan từ 30-36%; Philippin từ 22-30%; Indonesia từ 24-33%). Trong đó, tỷ lệ nợ nước ngoài của Chính phủ/GDP giảm nhẹ từ 28,7% năm 2010 xuống quanh mức 28% năm 2014, chỉ duy trì vay thêm vốn ODA với quy mô hạn chế. Việc Chính phủ hạn chế tăng vay nợ nước ngoài những năm gần đây được cho là một bước đi đúng hướng.

Về mức độ an toàn, tỷ lệ nợ nước ngoài ở mức trên 40% GDP của Việt Nam hiện nay vẫn thấp hơn đáng kể so với mức 60-80% của Mexico và Argentina giai đoạn 1983-1989 (thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng nợ công khiến 2 nước trên phải tuyên bố vỡ nợ quốc gia) và đặc biệt là cuộc khủng hoảng nợ công lần 2 của Argentia năm 2002 khi tỷ lệ này lên tới 140%. Tuy vậy, BVSC cho rằng cần đặc biệt lưu ý vì tỷ lệ nợ nước ngoài của một nước có thể tăng lên rất nhanh một khi khủng hoảng niềm tin xảy ra dẫn đến các cú sốc về tỷ giá. Tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP của Mexico và Argentina trước khi “có vấn đề” cũng chỉ xấp xỉ 40%, tương đương với mức của Việt Nam hiện nay.

Tiếp tục vay nợ

BVSC dự báo nhu cầu vay nợ trực tiếp của Chính phủ sẽ tăng đều trong giai đoạn 2016-2020. Trong kịch bản cơ sở, công ty chứng khoán này cho rằng Chính phủ có thể gia tăng dư nợ đều hàng năm cho tới ngưỡng 55% GDP vào năm 2020. Theo đó, tổng dư nợ trực tiếp của Chính phủ sẽ ở mức 4,3 triệu tỷ đồng vào năm 2020, gấp hai lần tổng dư nợ vào cuối năm 2015.

Trong cơ cấu tổng dư nợ của Chỉnh phủ, trái phiếu chính phủ (TPCP) sẽ tăng từ 32,5% năm 2015 lên 40% năm 2020, tương đương 22% GDP; vay viện trợ phát triển chính thức (ODA) sẽ giảm từ 40,7% năm 2015 xuống 32,7% năm 2020; TPCP phát hành quốc tế sẽ tăng từ 9,3% năm 2015 lên 12,7% năm 2020; và các khoản vay khác trong nước (tín phiếu kho bạc) sẽ giảm từ 17,5% năm 2015 xuống 14,5% năm 2020.

Dư nợ TPCP sẽ gia tăng mạnh trong năm 2016 do nút thắt về kỳ hạn gần đây đã được Quốc hội dỡ bỏ. Dự báo dư nợ TPCP sẽ tăng ròng thêm 162 nghìn tỷ đồng trong năm 2016, tăng 25% so mới mức tăng ròng của năm 2015. Dư nợ TPCP phát hành quốc tế sẽ tăng ròng thêm 45 nghìn tỷ đồng trong năm 2016 do quyết định của Quốc hội gần đây về việc phát hành trái phiếu quốc tế. Vay ODA dự báo sẽ tăng thêm 77 nghìn tỷ đồng, trong khi vay khác trong nước tăng không đáng kể.

Lãi suất các khoản vay của Chính phủ sẽ gia tăng trong giai đoạn 2016-2020. Dự báo lãi suất TPCP sẽ tăng dần từ mức trung bình 6,8%, 6,5% trong năm 2014 và 2015 lên 8,5% giai đoạn 2018-2020 (dựa trên giả định lạm phát mục tiêu 5-7% trong giai đoạn 2016-2020 và lộ trình tăng lãi suất của Fed lên 3,5% vào năm 2018). Lãi suất trái phiếu phát hành quốc tế được dự báo sẽ tăng dần từ 4,8% năm 2015 lên 6,5% trong giai đoạn 2019-2020. Tổng số lãi phải trả hàng năm của Chính phủ sẽ tăng lên 236 nghìn tỷ đồng vào năm 2020, gấp đôi so với nghĩa vụ trả lãi vào năm 2015 là 115 nghìn tỷ đồng. Áp lực trả lãi chủ yếu đến từ TPCP, chiếm hơn 50% vào năm 2020.

BVSC cho rằng cần lưu ý đến rủi ro điều chỉnh tỷ giá USD/VND và lạm phát vì đây là 2 yếu tố có thể đẩy một số chỉ tiêu nợ công vượt quá kế hoạch của Chính phủ trong các năm tới.

Trích Viet-studies điểm tin:

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Nợ công tăng nhanh, tham nhũng khá nhiều (TP 6-12-15) — Tít này hay! Ngắn gọn, dễ hiểu!

“Việt Nam lấy tiền đâu để phát triển nhanh, bền vững?” (DT 5-12-15) — Giám đốc World Bank hỏi Thủ tướng (Thủ tướng có thể trả lời: Gia đình tôi sẽ cho vay)

Thủ tướng: Dân là yếu tố quyết định thành bại của kinh tế (VNN 5-12-15) — Thủ tướng đổ lỗi cho dân (Đảng và Nhà nước hoàn toàn vô can)

Nhà nước cam đoan: Dứt khoát sẽ đi vay để trả nợ! Thủ tướng nói: “Xin nhấn mạnh, chúng tôi dứt khoát đảm bảo an toàn nợ công” (VnE 5-12-15)  Chủ tịch nước: ‘Chúng ta đang phải đi vay để trả nợ’ (VnEx 6-12-15) — Kẻ xướng người họa, Thủ tướng và Chủ tịch nước hợp tác để phổ biến thông tin cho dân.  Rất đáng quý!

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s