Gần 14 triệu người Việt Nam mắc bệnh tâm thần

Posted: December 9, 2015 in Uncategorized
Tags:

(NV) – Gần 14 triệu người Việt Nam đang mắc các chứng bệnh rối loạn tâm thần phổ biến và gần 1/5 trong số này bị bệnh tâm thần nặng.

� Xem thêm: Vòng luẩn quẩn ung thư tại Việt Nam.


Bệnh nhân tâm thần đang điều trị tại trại tâm thần Trọng Đức, tỉnh Lâm Đồng. (Hình: VnExpress)

Đó là số liệu được Cục Quản Lý Khám Chữa Bệnh, Bộ Y Tế, đưa ra tại hội thảo “Hoàn thiện chiến lược quốc gia về sức khỏe tâm thần” tại Hà Nội sáng này 7 tháng 12, theo tin VnExpress.

Theo phúc trình nghiên cứu, gần 15% dân số Việt Nam, tương đương gần 14 triệu người hiện đang mắc các bệnh về rối loạn tâm thần, trong đó khoảng 3 triệu người mắc rối loạn tâm thần nặng như tâm thần phân liệt, sa sút trí tuệ, chậm phát triển. Đặc biệt, con số này vẫn không ngừng gia tăng.

Nguyên nhân chủ yếu do làm việc suốt ngày đêm, áp lực công việc lớn, căng thẳng, uống rượu bia nhiều, cách biệt giàu – nghèo, ly hôn, thất nghiệp, xã hội bất an…

Trả lời báo chí, ông Trần Quý Tường, Phó cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế, cho biết rối loạn tâm thần là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất hiện nay tại Việt Nam và là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật.

Tuy nhiên, số lượng người bệnh được chữa trị còn cực kỳ thấp, cứ 10 người thì chỉ có 2-3 người được điều trị, trong đó điều trị bằng thuốc vẫn là chủ yếu, điều trị tâm lý rất hạn chế. “Chưa kể số lượng bác sĩ chuyên khoa tâm thần còn rất ít, cả nước có 850 bác sĩ nhưng chỉ tập trung tại tuyến trung ương và các thành phố lớn,” ông Tường cho biết thêm.

Bên cạnh đó, do nhận thức hạn chế, người dân vẫn chưa hiểu đúng về sức khỏe tâm thần, đánh đồng tất cả đều là “điên” mà không biết có nhiều rối loạn tâm thần khác như trầm cảm, mất ngủ, lo âu… dẫn đến tình trạng kì thị, phân biệt đối xử.

Tin cho biết, trước tình trạng trên, Việt Nam sẽ “phấn đấu ban hành luật Sức Khỏe Tâm Thần trước năm 2020” và đặt ra mục tiêu 50% bệnh nhân rối loạn tâm thần được điều trị vào năm 2025. Hàng năm, ngân sách y tế sẽ dành ít nhất 5% cho lĩnh vực sức khỏe tâm thần. (Tr.N)

[:-/] 13,5 triệu người Việt bị rối loạn tâm thần (VnMedia) – Việt Nam hiện có gần 15% dân số – tương đương khoảng 13,5 triệu người đang mắc các rối loạn tâm thần phổ biến và khoảng 3 triệu người mắc các rối loạn tâm thần nặng. Đó là thông tin được đưa ra tại hội thảo tham vấn chiến lược quốc gia về sức khỏe tâm thần giai đoạn 2016-2025 và tầm nhìn đến 2030 do Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) tổ chức ngày 7/12 tại Hà Nội.

Hiện tại, Việt Nam là một trong 35 nước chưa có luật về sức khỏe tâm thần. Hơn một nửa các nước Đông Nam Á không có hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng hay hoạt động điều trị các rối loạn tâm thần nặng tại tuyến cơ sở, các bệnh viện và viện vẫn là cơ sở điều trị chủ yếu. Với thực trạng như vậy, Nghị quyết của Hội đồng Y tế thế giới tháng 5/2012 đã đưa ra khuyến cáo rằng các quốc gia cần có các đáp ứng toàn diện và có phối hợp ở cấp độ quốc gia nhằm ứng phó với gánh nặng bệnh tâm thần.

[:-/] Gần 14 triệu người Việt bị rối loạn tâm thần (VNN) – – Gần 14 triệu người Việt Nam đang mắc các rối loạn tâm thần phổ biến. Gần 1/5 trong số này mắc các rối loạn tâm thần nặng.

Theo nghiên cứu, gần 15% dân số Việt Nam (tương đương gần 14 triệu người) mắc các bệnh về rối loạn tâm thần, trong đó khoảng 3 triệu người mắc rối loạn tâm thần nặng như tâm thần phân liệt, sa sút trí tuệ, chậm phát triển. Con số này vẫn không ngừng tăng.

Nguyên nhân chủ yếu do làm việc suốt ngày đêm, áp lực công việc lớn, căng thẳng, tiêu thụ rượu bia nhiều, cách biệt giàu – nghèo, ly hôn, thất nghiệp…

Tuy nhiên số lượng người bệnh rối loạn tâm thần được chữa trị còn cực kỳ thấp, cứ 10 người chỉ có 2-3 người được điều trị, trong đó điều trị bằng thuốc vẫn là chủ yếu, điều trị tâm lý rất hạn chế. Chưa kể số lượng bác sĩ chuyên khoa tâm thần còn rất ít, cả nước có 850 bác sĩ nhưng chỉ tập trung tại tuyến trung ương và các thành phố lớn.

Bên cạnh đó, do nhận thức hạn chế, người dân vẫn chưa hiểu đúng về sức khỏe tâm thần, đánh đồng tất cả đều là “điên” mà không biết có nhiều rối loạn tâm thần khác như trầm cảm, mất ngủ, lo âu… dẫn đến tình trạng kì thị, phân biệt đối xử.

Để giảm bớt gánh nặng do rối loạn tâm thần gây ra, Việt Nam xây dựng chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe tâm thần, phấn đấu ban hành luật Sức khỏe tâm thần trước năm 2020 và đặt ra mục tiêu 50% bệnh nhân rối loạn tâm thần được điều trị vào năm 2025. Hàng năm, ngân sách y tế sẽ dành ít nhất 5% cho lĩnh vực sức khỏe tâm thần.

[:-/] Khoảng 70-80% người mắc bệnh tâm thần chưa được điều trị (HNM) – Đó là thông tin tại hội thảo tham vấn chiến lược quốc gia về sức khỏe tâm thần giai đoạn 2016-2025 và tầm nhìn đến 2030 do Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tổ chức ngày 7-12 tại Hà Nội.

Theo Bộ Y tế, tại Việt Nam gần 15% dân số (tương đương khoảng 13,5 triệu người) đang mắc các rối loạn tâm thần phổ biến và khoảng 3 triệu người mắc các rối loạn tâm thần nặng. Tuy nhiên, khoảng 70-80% người mắc bệnh chưa được phát hiện bệnh để điều trị. Số người mắc các bệnh tâm thần đang gia tăng do áp lực công việc, học tập, sử dụng nhiều bia, rượu… Phó Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh Trần Quý Tường cho rằng, 10 loại bệnh tâm thần thường gặp gồm: Tâm thần phân liệt, trầm cảm, động kinh, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ ở người già, loạn tâm thần sau chấn thương sọ não, chậm phát triển tâm thần, rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên, rối loạn tâm thần do rượu, ma túy… nhưng hiểu biết của người dân về bệnh vẫn còn hạn chế, lệch lạc. Triệu chứng mắc bệnh tâm thần rất đa dạng, từ mất ngủ, suy nhược thần kinh, loạn thần, buồn rầu, bi quan, mất tự tin… cho đến các hành động cười vô duyên cớ, nói lẩm bẩm một mình…

Vòng luẩn quẩn ung thư tại Việt Nam

Trần Phương (Dân Trí) – Không chỉ có tỉ lệ mắc ung thư tăng 50% trong hơn chục năm trở lại đây, chúng ta đang phải đối mặt với một thách thức nữa là tỉ lệ tử vong sau chẩn đoán ung thư rất cao (75%) dù các bác sĩ tích cực điều trị và người bệnh cùng gia đình đã bán tất cả tài sản để cứu chữa.

Theo Tuyên bố gánh nặng ung thư toàn cầu GLOBOCAN 2012 của Cơ quan Nghiên cứu ung thư quốc tế, số ca mắc ung thư mới hàng năm là hơn 14 triệu, tăng 3,2 triệu ca so với năm 2002. Số ca hiện mắc trong năm 2012 là 32,5 triệu, tăng gần 8 triệu so với 1 thập kỷ trước.

Trong khi đó, tại Việt Nam, Bộ Y tế cho biết số ca mắc ung thư sau 10 năm (2000-2010) đã tăng khoảng 50% (từ 68.810 ca lên 126.307 ca) và dự báo sẽ tăng thêm 50% vào năm 2020 với 190.000 ca mắc.

Cùng với số ca mắc ung thư gia tăng là tỉ lệ tử vong cao (3/4 trường hợp tử vong sau khi phát hiện bệnh) và gánh nặng tài chính đè nặng lên người bệnh.

Cụ thể, thống kê từ Nghiên cứu chi phí điều trị Ung thư tại các quốc gia Đông Nam Á (ACTION), được tiến hành tại 8 quốc gia với 9.513 bệnh nhân (Việt Nam chiếm 20% bệnh nhân) trong giai đoạn 2012 – 2014, cho thấy bệnh nhân ung thư Việt Nam hiện đang phải gánh chịu những hệ lụy tài chính nghiêm trọng và tỷ lệ tử vong cao lên đến 55% trong vòng một năm sau khi được chẩn đoán.

Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là do chẩn đoán muộn. Chỉ có 5% người bệnh được chẩn đoán sớm bệnh ung thư ở giai đoạn I và II.

“Việc phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn sẽ khiến chi phí điều trị tăng cao, người bệnh tốn kém nhưng vẫn tử vong”, PGS.TS Mai Trọng Khoa, PGS. TS, Phó Giám đốc BV Bạch Mai, Giám đốc Trung tâm ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai), nhấn mạnh.

Nghiên cứu được thực hiện tại ba bệnh viện là Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện K, Bệnh viện Ung Bướu TpHCM này cũng cho thấy 41% bệnh nhân sống sót sau 1 năm chẩn đoán phải đối mặt với hệ lụy tài chính từ chi phí điều trị.

Chính thu nhập thấp và trình độ học vấn thấp có liên quan mật thiết đến việc gia tăng tỷ lệ tử vong và thảm họa tài chính này. Bên cạnh đó, bệnh nhân thuộc diện không có bảo hiểm y tế cũng có nguy cơ đối mặt với hệ lụy tài chính cao hơn so với những người có bảo hiểm. Bệnh nhân có bảo hiểm y tế được chẩn đoán sớm sẽ có cơ hội sống còn cao và tỷ lệ gặp phải hệ lụy tài chính thấp do được miễn giảm một phần chi phí điều trị.

Do đó, nhóm nghiên cứu đề xuất bệnh ung thư cần phải được Bộ Y tế công nhận và được ưu tiên đưa vào top 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong.

Chính phủ nên nhìn nhận ung thư dưới góc độ vấn đề quốc gia với tầm ảnh hưởng không chỉ giới hạn ở vấn đề sức khỏe mà còn liên quan đến các hộ gia đình, xã hội và cả nền kinh tế.

Bệnh ung thư: Thảm họa sức khỏe
và tài chính ở Việt Nam

Thùy Giang (TTXVN) – Chỉ trong vòng một năm sau khi được chẩn đoán mắc bệnh, ung thư được xem là “nỗi ám ảnh” lớn đối với nhiều người bệnh khi mang đến tỷ lệ tử vong cao kèm theo những hệ lụy tài chính nghiêm trọng cho cả bệnh nhân và gia đình.

Điều đáng lưu ý là tại Việt Nam có tới 55% số bệnh nhân ung thư gặp thảm họa tài chính và tử vong sau một năm chẩn đoán mắc bệnh.

Đó là kết quả của nghiên cứu chi phí điều trị ung thư tại các nước khu vực Đông Nam Á được Bộ Y tế công bố tại hội thảo phối hợp đa ngành trong phòng chống ung thư quốc gia diễn ra ngày 8/12, tại Hà Nội.


Kỹ thuật cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi điều trị
ung thư dạ dày sớm và tiền ung thư. (Ảnh: Dương Ngọc/TTXVN)

55% số bệnh nhân gặp thảm họa tài chính

Nghiên cứu chi phí điều trị ung thư tại các nước khu vực Đông Nam Á (ACTION) do Viện Nghiên cứu Sức khỏe toàn cầu George thực hiện, được tiến hành tại 8 quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu được tiến hành với hơn 9.500 bệnh nhân, trong đó bệnh nhân Việt Nam chiếm 20%.

Nghiên cứu trên đã cho thấy, bệnh nhân mắc ung thư tại Việt Nam trong vòng một năm sau khi được chẩn đoán, phải đối mặt với gánh nặng lớn khi tỷ lệ tử vong cao, “bòn rút” một nguồn tài chính khổng lồ cho cả bệnh nhân và gia đình. Chỉ có 45% bệnh nhân còn sống mà không có khó khăn về tài chính; 55% số bệnh nhân tham gia nghiên cứu hoặc là tử vong (24%) hoặc là còn sống nhưng gặp khó khăn về tài chính (31%) trong vòng một năm sau khi được chẩn đoán.

Theo nghiên cứu, khó khăn về tài chính được định nghĩa khi chi phí điều trị dành cho điều trị bệnh chiếm hơn 30% thu nhập của hộ gia đình.

Phát biểu tại hội thảo, giáo sư Mai Trọng Khoa, Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai – Giám đốc Trung tâm Y học Hạt nhân và ung bướu cho biết, sau khi điều trị một năm có 34% bệnh nhân không đủ tiền mua thuốc, 22% không thể thanh toán kể cả chi phí đi lại, 24% bệnh nhân không đủ khả năng chi trả chi phí thường xuyên trong gia đình như tiền điện nước, gas…

“Đây mới chỉ là kết quả sau 12 tháng, nếu tiếp sau đó thì không biết có bao nhiêu người bệnh còn đi tiếp được đường đi này,” tiến sỹ Khoa nhấn mạnh.

Giảm chi phí bằng phát hiện bệnh sớm

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Xuyên nêu rõ, xu hướng mắc bệnh ung thư không những gia tăng ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các nước trên thế giới.

Tại Việt Nam, ung thư đang trở thành thảm họa sức khỏe thầm lặng. Ước tính mỗi năm, Việt Nam có 150.000 ca mắc mới, khoảng 70.000 người tử vong và ước tính năm 2020 sẽ có 189.000 trường hợp mắc mới.

Nguyên nhân dẫn tới số lượng bệnh nhân ung thư tại Việt Nam tử vong cao là do việc chẩn đoán muộn, chỉ có 24%, người bệnh được chẩn đoán sớm ở giai đoạn 1 và 2.

Tại hội thảo, các chuyên gia chỉ ra rằng thu nhập thấp và trình độ học vấn thấp có liên quan mật thiết đến việc gia tăng tỷ lệ tử vong và thảm họa tài chính do bệnh ung thư. Bên cạnh đó, bệnh nhân thuộc diện không có bảo hiểm y tế cũng có nguy cơ đối mặt với hệ lụy tài chính cao hơn so với những người có bảo hiểm.

Vì vậy, để giảm bớt các chi phí điều trị cho bệnh nhân ung thư, các chuyên gia khuyến cáo người dân nên tầm soát, khám sức khỏe định kỳ để phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm. Đặc biệt, với những bệnh nhân có bảo hiểm y tế được chẩn đoán sớm sẽ có cơ hội sống còn cao và tỷ lệ gặp phải hệ lụy tài chính thấp do được miễn giảm một phần chi phí điều trị.

Tại hội thảo, Chương trình Phòng chống Ung thư Quốc gia đưa ra thông điệp khẩn cấp kêu gọi những hành động thiết thực như: tăng cường tầm soát sớm, ban hành chính sách hỗ trợ điều trị, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân ung thư.

Một trong những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực điều trị ung thư tại Việt Nam, giáo sư Mai Trọng Khoa nhấn mạnh, Việt Nam nên xem bệnh ung thư như một vấn đề mang tầm quốc gia vì mức độ ảnh hưởng không chỉ dừng lại ở lĩnh vực y tế mà mà còn liên quan đến cả sự phát triển kinh tế và xã hội.

Theo các nhà dự báo kinh tế và các chuyên gia y tế, nếu không hành động ngay từ bây giờ thì trong vòng 15 năm tới, khi số lượng bệnh nhân ung thư ở châu Á tiếp tục tăng lên, bệnh ung thư sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ hệ thống chăm sóc sức khỏe, đời sống xã hội và nền kinh tế của các quốc gia châu Á./.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s