Giáo sư, thạc sĩ, tiến sĩ, những đống sắt vụn và con ốc vít

Posted: December 9, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Xích Long (Dân Luận) – Lâu nay người ta vẫn đặt câu hỏi tại sao Việt nam có quá nhiều giáo sư, thạc sĩ, tiến sĩ mà chẳng có mấy sáng chế, phát minh được thế giới công nhận và mới làm được con ốc vít cung cấp cho các doanh nghiệp Hàn Quốc đã mừng hú khoe ầm ĩ trên báo chí, trong khi cuộc sống đời thường vẫn có những người nông dân sáng chế được các sản phẩm, thiết bị khoa học kỹ thuật ứng dụng tốt trong thực tiễn thì lại không được công nhận đưa vào sử dụng đến nỗi người ta phải đi ra nước ngoài làm việc hoặc bán sáng chế cho nước ngoài…

� Xem thêm: Đại học là học đại, đủ đầy ý nghĩa xót xa!


Việt Nam nhiều tiến sĩ nhất ASEAN, nhưng lại ít chất xám
đến mức không biết Giáo sư, Tiến sĩ Việt Nam đang làm gì?

Câu trả lời không khó, nguyên nhân sâu xa gốc rễ của vấn đề vẫn là thể chế độc đảng độc quyền đẫn đến cơ chế xin cho nịnh bợ, học giả vờ vịt, mua bằng cấp, chạy quyền chạy chức, cả một hệ thống giả tạo lừa bịp từ trên xuống dưới không có chân tài thực học, kiến thức sáo rỗng, ăn bẩn tham nhũng, nó càng ngày càng lộ rõ sự vô trách nhiệm, xảo trá, dốt nát một cách công khai từ những cấp cao nhất. Những điều này thì cũng đã có nhiều người nói, nhiều người hiểu, trong phạm vi bài này tôi chỉ xin đưa ra những câu chuyện, những ví dụ cụ thể để làm rõ, minh chứng cho cái ngyên nhân gốc rẽ sâu xa đẩy cả hệ thống trở thành bất tài vô dụng.

Từ thời kỳ đầu những năm 90 khi chính sách đổi mới mở cửa bắt đầu thực sự đi vào cuộc sống, làn sóng đầu tư nước ngoài bắt đầu ồ ạt đổ vào Việt Nam với các dự án liên doanh có vốn đầu tu nước ngoài như Nhà máy Coca Cola, Nhà Máy bia Halida, Nhà máy ô tô Ford, Thức ăn chăn nuôi CP, Con cò….. Khi đó cầm quyền chưa cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài với hy vọng khi liên doanh sẽ học tập bắt chước được khoa học công nghệ và cách quản lý của họ để phát triển sản xuất trong nước. Thế nhưng hỡi ôi những cán bộ nhà nước được đưa ra làm cho các liên doanh được các ông chủ nước ngoài trả lương cao hơn hẳn mặt bằng lương trong nước đã trở thành tay sai một cách thuần túy cho họ, bảo gì làm nấy và chỉ là người đi chạy thủ tục giấy tờ hợp thức hóa các tài liệu, giấy tờ thủ tục của họ cho phù hợp các chính sách xuất nhập khẩu, thuế, hải quan… của Việt nam để họ tìm cách chuyển giá báo lỗ trốn thuế rồi dần dần bắt đối tác Việt nam góp thêm vốn vào, mà thực chất phía Việt Nam không có tiền chỉ góp đất thế là sau vài năm phải bán lại cổ phần cho phía nước ngoài để họ trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Ý đồ học hỏi, ăn cắp khoa học công nghệ, khoa học quản lý phá sản hoàn toàn. Điều này dễ hiểu vì các tài phiệt tư bản nước ngoài họ đã có kinh nghiệm đầu tư đi trước cả trăm năm ở những nước mới phát triển với đội ngũ quan chức tham lam ngu dốt chỉ biết tiền và tham nhũng mà sẵn sang bán hết mọi thứ kể cả danh dự và tổ quốc.

Song hành cùng những nhà đầu tư trực tiếp vốn nước ngoài là những công ty, các tập đoàn thương mại đa quốc gia, họ ào ạt đổ vào khai thác thị trường tiềm năng non trẻ mới phát triển ở Việt nam. Với dân buôn thì chỉ cần biết lợi nhuận, sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi, vô số những dự án, nhà máy, thiết bị nghiên cứu… bị nhập về những đống sắt vụn rồi sau đó bán thanh lý. Đây là tôi nói với hoàn toàn nghĩa đen chứ không phải cách nói cường điệu hóa với nghĩa bóng cho hay đâu nhé. Tôi có thể kể ra rất nhiều các ví dụ cụ thể như bộ Nông Nghiệp thời ông Nguyễn Thiện Luân, ông Nguyễn Công Tạn có nhà máy cà chua cô đặc Hải Phòng nhập thiết bị công nghệ về không có nguyên liệu sản xuất chưa nổi 1 tháng đóng của cho đến ngày thanh lý, thiên hạ còn đồn chuyện sau khi khánh thành ông thứ trưởng xuống thăm quan giám đốc nhà máy phải đi trốn vì không có chi phí tiếp khách. Rồi nhà máy bia Bắc Sông Hồng đang ăn nên làm ra thì đâu tư dây chuyền chế biến nước quả nhập về cũng đắp chiếu cho đến ngày bán thanh lý, các nhà máy đường mía công nghệ lạc hậu không có vùng nguyên liệu, nhà máy tinh bột sắn, nhà máy xi măng lò đứng, nhà máy thép… số tiền thất thoát nếu tính cả trượt giá thì còn lớn hơn cả vụ VINASHIN, VINALINE nhiều. Các Viện nghiên cứu cũng không hơn gì, những năm đầu 2000 nhà nước có chính sách đầu tư nâng cấp khả năng nghiên cứu ứng dụng khoa học cho tất cả các viện nghiên cứu nhưng mỗi viện được bao nhiêu lại phụ thuộc vào khả năng xin cho. Do đó có những viện cứ xin thật nhiều đã còn giải ngân vào việc gì thì tính sau đến nỗi không biết mua gì cho hợp lý phải gọi các đối tác ở các công ty nước ngoài đến tư vấn cho xem nên mua gì. Có viện lúc đầu sắp đặt gói thầu mua thiết bị 3 tỷ nhưng do tranh chấp quyền quyết định chấm thầu với vụ tài chính của bộ phải hủy đi đấu thầu công khai lại và giá trúng thầu cho cùng lô thiết bị là 983 triệu đồng, các lãnh đạo viện kêu trời vì năm đó không có tiền ăn tết. Có viện bị vụ tài chính ép phải để nhà thầu của vụ giới thiệu trúng, trưởng phòng nghiên cứu đầu ngành phải làm căng thiết bị là do nhu cầu của chúng tôi, về có dùng được không là do chúng tôi cuối cùng vụ tài chính của bộ phải nhượng bộ để viện tự chấm thầu. Có viện nhu cầu nghiên cứu khảo sất mẫu địa chất chỉ mỗi năm 1-2 lần gửi nước ngoài mất vài trăm đô la/lần nhưng cũng vẽ dự án mua thiết bị cả triệu đô la để tự làm….. kể ra thì có thể viết cả quyển sách chưa hết. Đến nỗi khoảng cuối những năm 2000 tôi đã ngồi nghe 2 anh bạn làm quản lý cho các công ty thương mại của Đức và Pháp bảo nhau “bây giờ sắp hết cái thời Việt nam nó mua những đống sắt vụn công nghệ lạc hậu về nước rồi, phải chuyển hướng thôi.”. Thế nhưng sau đó không mua thiết bị công nghệ lạc hậu của châu Âu thì hiện nay lại rơi vào tình trạng mua thiết bị, công nghệ TQ là đổ thải loại của các nước phát triển.

Đầu tư thiết bị thì như thế, còn công tác nghiên cứu khoa học thì thế nào? Xin thưa lại vẫn xin cho vẫn vẽ dự án để chia tiền, bịp dân. Hàng năm các bộ ngành vẫn có những khoản ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học, ứng dụng thực tiễn nhưng do cơ chế xin cho dự án, chạy quyền chạy chức mà những người có chức quyền không có trình độ thực nên họ cấu kết bấu víu vào nhau vẽ dự án bịp dân moi tiền ngân sách, hơn 95% các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học chỉ được vẽ ra để moi ngân sách rồi bỏ xó. Tôi biết những câu chuyện về quan hệ của các quan chức bộ ngành và các giáo sư, tiến sĩ các viện nghiên cứu và trường đại học gần như trở thành mối quan hệ ăn chia gặp nhau chỉ để thỏa thuận năm nay trình dự án loại gì cho đúng quan tâm của nhà nước và xã hội rồi chia nhau bao nhiêu. Các quan chức mua bằng chạy chức không cần biết và cũng không đủ trình độ thẩm đjnh chất lượng và hiệu quả các dự án khoa học và ứng dụng thực tiễn. các giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ cũng mua bằng mua danh không đủ trình độ làm các sáng chế phát minh ứng dụng thực tiễn. Các trường đại học và cao đẳng dạy nghề cũng đều tình trạng như vậy.

Tại sao cả một đống giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ làm quản lý và nghiên cứu cho nước Việt Nam, lại để nền kinh tế yếu kém trì trệ tụt lùi thua cả Lào Cam Pu Chia, khoa học kỹ thuật yếu kém đến mức chưa làm nổi con ốc vít? Có phải người Việt Nam bây giờ kém cỏi ngu dốt quá rồi không? Xin thưa không, người Việt Nam ra nước ngoài sống dưới các chế dộ dân chủ phát triển, công bằng minh bạch rất nhiều người thành đạt có danh tiêng trong nhiều lĩnh vực, ngay trong nước các nông dân yêu nghề vẫn đang sang chế được những máy móc ứng dụng thực tiễn. Vậy chỉ còn một nguyên nhân chủ yếu cơ bản, gốc rễ sâu xa chính là cơ chế độc đảng, độc quyền mất dân chủ không minh bạch. Từ nguyên nhân này mọc ra chuyện mua bằng cấp học giả vờ vịt sáo rỗng, chạy quyền chạy chức, con ông cháu cha, những người không có trình độ thực bất tài vô dụng được nắm quyền quản lý, những kẻ cơ hội lợi dụng chuyện này để ăn cắp tham nhũng ngân sách cũng là tiền thuế của nhân dân, tài nguyên của đất nước. Kể cả những người lúc đầu học giỏi nhưng khi đã chui vào guồng máy này đầu óc họ cũng chỉ tập trung cho suy nghĩ âm mưu vẽ dự án, ăn cắp tham nhũng, bè cánh đấu đá, mưu mô nịnh bợ, nịnh trên đè dưới, tranh công đổ tội rồi ăn chơi nhậu nhẹt làm gì còn đầu óc đâu để học hỏi, nghiên cứu, làm gì còn thời gian đâu mà nghĩ chuyện ích nước lợi dân. Cho nên còn thể chế độc đảng, độc quyền này những căn bệnh mua bằng cấp danh hiệu, chạy quyền chạy chức, tham nhũng ăn cắp… sẽ vẫn chỉ là cái vòng luẩn quẩn ngày càng nặng thêm trong mọi lĩnh vực, mọi cấp ngành, nhân dân chỉ càng ngày càng khó khăn khổ sở chịu thêm bất công không thể nào có cách gì chữa được. Cách duy nhất để đất nước phát triển nhân dân no ấm là phải thay đổi thể chế dân chủ đa đảng thượng tôn pháp luật, minh bạch công khai, bầu cử phổ thông đầu phiếu có sự giám sát của nhân dân.

Đại học là học đại, đủ đầy ý nghĩa xót xa!

Ths Trương Khắc Trà (GDVN) – Để đại học hết “học đại” cần rất nhiều nỗ lực từ ngành giáo dục và toàn xã hội, đã đến lúc phải quyết liệt hơn với “quốc sách hàng đầu”.

LTS: Nhìn nhận thấy chương trình học bậc đại học sau nhiều năm không có thay đổi về kiến thức, về giáo trình trong khi con số thất nghiệp ngày càng gia tăng, Ths Trương Khắc Trà mạnh dạn chỉ ra những điểm cần được cải cách trong hệ thống giáo dục với mong muốn đừng để đại học là “học đại”.


Khi nào đại học không còn “học đại”?
(Ảnh minh họa trên giaoduc.net.vn)

Từ lâu đại học Việt Nam được ví von là “học đại” một sự ví von ngắn gọn, súc tích nhưng đủ đầy ý nghĩa xót xa.

Ngành giáo dục và toàn xã hội đang đau đầu trước bài toán thất nghiệp và vấn đề tuy không mới nhưng luôn nóng bỏng được đặt ra là phải cải cách giáo dục đại học.

Vậy, cải cách giáo dục đại học phải bắt đầu từ đâu? Thực sự đây là một phương trình đa nghiệm không riêng gì giáo dục đại học, bởi một khi xác định được điểm bắt đầu thì sẽ mở ra con đường, bản thân con đường sẽ quyết định hướng đi và đến lượt nó, hướng đi sẽ quyết định vận mệnh của cả nền giáo dục.

Để cải cách giáo dục đại học, thế giới có nhiều mô hình hay mà Việt Nam có thể học hỏi như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ…

Nhưng tất cả phải đảm bảo một nguyên tắc chung “có bột mới gột nên hồ”, bởi sẽ rất khó nếu bắt đầu bằng cái… chưa có! Thiết nghĩ nên lấy nội dung chương trình làm điểm xuất phát. Vì sao?

Giáo dục đại học Việt Nam hiện nay rất đa dạng về ngành nghề đào tạo, từ khoa học xã hội nhân văn đến khoa học tự nhiên không thiếu ngành nào, nhưng tất cả các trường, ngành học hiện nay đều mang một mẫu số chung là các môn đại cương chiếm quá nhiều thời lượng và thậm chí có những môn không biết…học để làm gì!

Hơn nữa, đối với các môn đại cương mãi vẫn là một mớ lý thuyết dày cộp, đã được dùng đi dùng lại mấy chục năm nay nhưng chưa thấy bổ sung cập nhật những kiến thức mới. Vậy mới có câu chuyện bi hài rằng sinh viên cách nhau cả chục khóa vẫn có thể vô tư dùng vở của nhau.

Đơn cử như giáo trình “Tâm lý học đại cương” đã được biên soạn từ rất lâu, ngược lại  ngành Y học và Tâm lý học thần kinh đã phát triển vượt bậc trong 20 năm qua, đã khám phá ra nhiều bí ẩn của não bộ và xuất hiện nhiều khái niệm chuyên ngành mới nhưng những chương mục trong cuốn giáo trình này vẫn không hề …“lung lay”!

Rồi đến các môn khoa học Mác Lê-nin, môn học gây “mê” và “tê” nhất đối với sinh viên, giáo trình giảng dạy hiện nay đã quá cũ, những kiến thức về Triết học, Kinh tế chính trị… mà chúng ta đang dạy cho sinh viên đã thuộc về thế kỷ XIX và XX!

Việc cập nhật ở đây sẽ tạo tính thời sự, lôi cuốn cho nội dung chứ không phải kiến thức cũ là bỏ đi.

Tình hình các môn chuyên ngành cũng không mấy sáng sủa, khi một ngành học mang tính “cập nhật” thường xuyên và cao độ như Điện – Điện tử, công nghệ Điện – Điện tử đang thay đổi từng ngày, từng giờ nhưng giáo trình để dạy môn này tại Đại học Bách khoa Hà Nội được biên soạn từ năm…1960!

Bởi vậy hầu hết các đồ án tốt nghiệp của sinh viên các trường kỹ thuật lớn đều chỉ là “khảo sát”, “tìm hiểu” chứ rất ít đề tài có tính “nghiên cứu” “chế tạo”.

Chẳng hạn như “khảo sát hệ thống gió trong động cơ đốt trong”, “khảo sát hệ thống làm mát động cơ”… động cơ đốt trong đã ra đời hơn 155 năm nhưng đến nay sinh viên chỉ vẫn “khảo sát” và “tìm hiểu”!

Làm sao các tân cử nhân, tân kỹ sư có thể đáp ứng được những công việc yêu cầu sự sáng tạo cao khi những kiến thức trong đầu họ thế giới đã bỏ qua cách đây hơn 50 năm?

Căng hơn là ngành công nghệ thông tin, từng được coi là ngành học “nóng” nhưng giáo trình giảng dạy lại quá “lạnh” như một lập trình viên đã thừa nhận “tại các trường đại học.

Nhất là công lập, các thầy hầu như chỉ cung cấp cho chúng tôi những kiến thức công nghệ thông tin của 10, 20 năm trước”. (Nguồn: Báo điện tử VnExpress đăng tải ngày 11/3/2005).

Rõ ràng chương trình học hiện nay, trước hết là các môn đại cương chưa theo kịp yêu cầu phát triển của xã hội, vẫn còn treo lơ lửng ở đâu đó, đây chính là liều thuốc ngủ nặng đô mà các giảng viên đã vô tình tiêm cho các sinh viên của mình khi lên lớp.

Nguy hơn việc dùng giáo trình quá lạc hậu khiến đội ngũ giảng viên lười hơn trong việc tìm tòi nghiên cứu vì nhiều giảng viên lâu năm sẽ thuộc lòng giáo trình nên nảy sinh tâm lý tự thỏa mãn, khi ấy việc làm mới giáo trình sẽ “khó” cho giảng viên!?

Một khi nội dung chương trình chưa theo kịp yêu cầu phát triển của xã hội thì việc đào tạo ra những cử nhân, thạc sỹ không làm được việc là điều không bất ngờ như lâu nay báo chí phân tích, mổ xẻ.

Theo số liệu điều tra mới đây, ngành toán ở Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh phải học số môn gấp đôi so với ngành toán tại đại học Chicago.

Cũng như vậy hầu hết các đại học của Việt Nam sinh viên phải hoàn thành khoảng 70 môn trong 7 học kỳ (trung bình 10 môn/học kỳ) trong khi đó số môn mà các đại học Mỹ quy định là 4 môn/học kỳ, phải chăng người Mỹ đào tạo… hời hợt hơn ta?

Câu hỏi, tại sao chúng ta không bỏ bớt các môn đại cương và những môn không cần thiết?

Thay vào đó nên tăng cường thời lượng cho những môn chuyên ngành và đặc biệt là mỗi môn chuyên ngành nên thiết kế kèm theo chuyến đi tìm hiểu thực tế (nếu có thể) như cổ nhân đã dạy “trăm nghe không bằng một thấy”.

Thêm vào đó chúng ta cần mạnh dạn tiếp cận và sử dụng học liệu của các hệ thống đại học tiên tiến trên thế giới, đó là cách “xóa mù” nhanh nhất cho hệ thống kiến thức “U50”, “U60” của ta.

Nào là con số thất nghiệp cao, thiếu kỹ năng mềm… tuy nhiên, ông cha ta có câu “tiên trách kỷ, hậu trách nhân” trước khi đổ lỗi cho hàng triệu sinh viên – sản phẩm của mình, thì ngành giáo dục, nhất là giáo dục đại học nên đặt câu hỏi vì sao?

Để đại học hết “học đại” cần rất nhiều nỗ lực từ ngành giáo dục và toàn xã hội, đã đến lúc phải quyết liệt hơn với “quốc sách hàng đầu”, trong những nhiệm vụ ấy việc cơ cấu lại nội dung chương trình học như thế nào là yếu tố rất quan trọng.

 

Comments
  1. nguyentamhan says:

    Thì ít nhất VietNam đã sáng chế ra được lò đào tạo những giáo sư tiến sĩ, thạc sĩ . Các nước khác làm gì có. ViệtNam còn có nhiều tỷ phú nhất thế giới. Đâu có nước nào sánh kịp…….

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s