Việt Nam sớm phá sản

Posted: December 9, 2015 in Uncategorized
Tags:

FB Trương Nhân Tuấn(Ba Sàm) – Ngày « quốc khánh » của Việt Nam chắc sẽ sớm xảy ra hơn dự tính. Chữ « khánh » trong bài này hổng phải chữ khánh của « vui mừng » mà là chữ khánh của « khánh tận », « khánh kiệt », tức là ngày quốc gia khánh kiệt, tức phá sản. Ngày đó đang tới.

� Xem thêm: Năm ngoái ‘nợ xấu’, năm nay ‘ngân sách’, năm sau sẽ là gì? + Nợ công Việt Nam nghiêm trọng tới đâu?


Chạm đáy phá sản

Theo định nghĩa thông thường, « phá sản » là khi anh không còn khả năng để trả nợ. Một cá nhân bị « phá sản » thì tài sản cá nhân bị « phát mại » để trả cho chủ nợ. Trường hợp phá sản của một quốc gia, ta có thể xem lại trường hợp nước Á Căn Đình (Argentine, năm 1998 và 2002), hay trường hợp Hy Lạp hiện nay. Hệ quả của quốc gia phá sản là người dân lãnh đủ : của cải quốc gia trở thành của cải nước ngoài, người dân nghèo càng thêm nghèo.

Hãy lắng nghe những lời chân thật của những người có trách nhiệm và hiểu biết về VN, ta thấy « tình hình thât là tình hình ».

Anh Tư Sang hôm rồi than thở với cử tri : nợ công tăng nhanh hơn mức tăng trưởng GDP tới 3 lần. Số nợ công đã vượt mức « báo động » là 65% GDP (là mức mà quốc hội cho phép). Đây là con số chính thức của cơ quan thống kê nhà nước.

Con số này chưa tính vào số nợ của các tập đoàn xí nghiệp quốc doanh. Báo chí trong ngoài nước cho biết « những quả đấm thép của nền kinh tế Việt Nam có tổng nợ phải trả năm 2014 lên tới hơn 1,7 triệu tỷ đồng tương đương 44,2% tổng sản phẩm nội địa GDP ».

Các tập đoàn kinh tế quốc doanh dĩ nhiên do nhà nước bảo trợ. Khi các xí nghiệp này mượn nợ nước ngoài thì có nhà nước bảo đảm sau lưng. Con số (nợ) 44,2% tổng sản lượng sản phẩm nội địa là con số kinh khủng.

Ước lượng số nợ công của VN phải ở mức từ 100% đến 200% GDP.

Mà nợ công càng tăng thì tiền lời càng tăng. Việt Nam hiện nay phải dùng đến 25% ngân sách quốc gia cho việc trả nợ.

Tình trạng của VN hiện nay là phải đi vay nợ để trả nợ. Bởi vì các nguồn thu của ngân sách đang gặp bế tắt.

Nguồn thu lớn nhứt của ngân sách là dầu khí, chiếm từ 15% đến 25%. Giá dầu hiện nay thấp dưới mức khai thác có lời (60 đô/thùng). Tức là, với giá dầu 40 đô/thùng hiện nay, VN không thể khai thác dàu nữa.

Các nguồn tài nguyên khác như than đá, gỗ, các mỏ khoáng sản khác… thì đã cạn kiệt.

Hôm rồi bà Kwakwa, đại diện Ngân hàng Thế giới ở Việt Nam, hỏi lãnh đạo VN là lấy « tiền đâu » để phát triển ? Ý của bà là : mấy anh lấy gì để trả nợ ?

Thủ tướng NT Dũng trả lời là VN có 4 triệu rưởi người sống ở nước ngoài và 92 triệu người trong quốc nội. Ông Dũng lấy dân để « bảo đảm » nợ.

Bà Kwakwa đáp lời bằng nhận định : năng suất lao động VN quá thấp.

Đây là thao nước tạt vô mặt ông Dũng mà không ai thấy. Người ta từ chối không cho mượn tiền nữa, vì VN không có cái gì bảo đảm để trả nợ hết cả.

Mọi biện pháp làm đầy ngân sách đang được thực thi, mà người dân vốn đã như trái chanh đã hết nước. Càng vắt thì người dân càng kiệt quệ. Các thuơng hiệu, xí nghiệp tư nhân… thi nhau đóng cửa. Làm không có lời thì ngu gì tiếp tục làm ?

Thử nhìn thái độ của những viên chức cao cấp nhà nước, những tay tài phiệt đỏ… tất cả đều… chân trong chân ngoài. Viên chức nhà nước, lúc cần thiết bênh vực cha thì « con là đảng viên mà ». Nhưng xét lại thì « con cũng có quốc tịch Mỹ ». Còn tài phiệt đỏ, tài sản của họ đã chuyển sang các nước lân cận.

Còn người dân ? Ai có khả năng thì đều cho con cái qua Mỹ hết.

Thái độ này cho thấy VN vỡ nợ chỉ còn đếm từng ngày.

Năm ngoái ‘nợ xấu’, năm nay ‘ngân sách’, năm sau sẽ là gì?

Phạm Chí Dũng (Ba Sàm) theo VOA Blog – Một luồng ý kiến lạc quan cho rằng cứ với tư thế này, ngân sách Việt Nam sẽ còn cầm cự được 2, thậm chí là 3 năm nữa. Nhưng cũng có ý kiến bi quan hơn hẳn: 8 tháng tới một năm, kể từ cuối năm 2015.

Đoàn tàu thời gian đang vùn vụt về điểm tận cùng của một năm cùng mớ bòng bong kinh tế trước cơn động kinh cuối.

Năm nay, 2015, nền kinh tế được trùm phủ cái tên mới “thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, lại vừa bục ra khối ung thư còn nguyên vẹn: ngân sách gần như cạn kiệt.

Hiện tại nối dõi từ quá khứ, còn tương lai lại khởi nguyên từ đáy hồ khô cạn niềm tin.


Người lao động làm việc tại một nhà máy Singlun Star có vốn đầu tư
của Singapore, ngoại ô Hà Nội, ngày 19/8/2014. Ảnh: Reuters

Đỉnh phù hoa

Nếu nhìn vào hệ thống chuỗi vận hành của nền kinh tế và các thị trường cơ bản ở Việt Nam, người ta sẽ nhận ra đỉnh của chúng nằm ở năm 2007, khi chỉ số GDP đạt đến gần 10% theo báo cáo và theo đủ các nghị quyết, nơi tính từ “quyết tâm” luôn phổ dụng mà chẳng cần biết thực tiễn tráo trở ra sao.

Nhưng dù thế nào, 2007 cũng chỉ là đỉnh của sự phù hoa. Hai thị trường được coi là “thăng hoa” dữ dội nhất lại mang tính đầu cơ vô cùng tận: chứng khoán tăng gần ba lần và bất động sản tăng hơn hai lần. Thế nhưng chân đứng của một vận hành tăng trưởng giả tạo đã rất thường giống với câu ví von của một chuyên gia phương Tây bắt chết nền kinh tế Trung Quốc vào đúng thời gian đó “Đầu tư, đầu tư ồ ạt cho tới lúc sụp đổ”.

Quả là thế. Sau 2007, tất cả đã trở về hư không như nó vốn dĩ phải thế. Biểu đồ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã mau chóng chìm nghỉm.

Đến 2008, Việt Nam ngập trong cơn suy thoái, hoặc có thể gọi là khủng hoảng kinh tế. Điều được gọi là “thị trường bền vững” ở Việt Nam hóa ra lại là cảnh tượng mà vào tháng 2/2008, thị trường bất động sản thình lình đóng băng chỉ sau một đêm khiến toàn bộ giới cò đất khóc ròng. Rất cùng pha, giá cổ phiếu lao dốc kinh hoàng và chẳng bao lâu sau đã hiện ra hàng loạt vụ tự tử cùng trụy tim nhưng chẳng đời nào được báo chí loan tin.

Kiêu ngạo cộng sản

Tuy nhiên, tính tự mãn của những người vẫn giữ mác cộng sản mới tự tôn làm sao. Không hề chấp nhận GDP nước nhà trên thực tế đã chìm đắm, tất cả hậu quả được đổ vấy cho “khủng hoảng kinh tế thế giới” với gốc gác từ chủ thể kinh tế Mỹ.

Nhưng dù sao, khác với với mấy năm gần đây, năm 2009 vẫn còn có một gói “kích cầu” giá trị đến 8,5 tỷ USD. Ngân sách vẫn còn tiền, thậm chí dư dả tiền, từ kế sách in tiền vượt quá cầu lưu thông. Và số tiền ấy lập tức được dùng để kích hoạt và lợi dụng triệt để vào hai thị trường chứng khoán và bất động sản theo quy tắc “bình thông nhau”. Kết quả là trong năm “phục hồi kinh tế” 2009, mặt bằng giá cổ phiếu tăng hơn hai lần và giá bất động sản cũng gần như thế. Khi các trọc phú phất lên từ chứng khoán và đất, giàu nghèo Việt Nam phân cực kinh hoàng.

Cho đến cuối năm 2009, khi Quốc hội ấp úng hỏi chính phủ về kết quả và lợi ích của gói kích cầu cùng vài đề nghị hãy minh bạch xem số tiền kích cầu đi vào đâu, không một quan chức nào của nhóm Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chịu trả lời trôi chảy. Số phận gói kích cầu năm 2009 cũng bởi thế vẫn là một bí mật của các nhóm lợi ích cho đến tận bây giờ.

Sau hai năm “phục hồi”, đến 2011, bi kịch đã thực sự hiện rõ. Đầu năm đó và trước cận cảnh “đầu tư cho đến lúc sụp đổ”, Bộ Chính trị và chính phủ Việt Nam không còn cách nào khác phải ban hành nghị quyết “thắt lưng buộc bụng”. Chính sách “siết tín dụng” cũng vì thế có hiệu lực lập tức và cực đoan đến nỗi kết quả rõ ràng nhất của nó là làm lợi cho nhóm lợi ích ngân hàng: lãi suất cho vay bị đẩy lên ngất trời – bình quân 20-23%, thậm chí đến 30%!

Sụp đổ

Một lần nữa thị trường nhà đất rơi vào cảnh trạng không ai mua. Đến cuối năm 2011, vào lúc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “đọc bài” trước Quốc hội về Luật biểu tình và nói vo vài câu tỏ dũng khí về Biển Đông, lần đầu tiên số doanh nghiệp phá sản đã lên đến hàng trăm ngàn và cũng chừng đó số công nhân không có tiền mua vé tàu xe về quê ăn tết. Một mùa đông rét mướt đã trùm lên thị trường: lần đầu tiên khái niệm “nợ xấu” được thừa nhận như một não trạng chẳng đặng đừng.

Ít nhất 70% nợ xấu thuộc về bất động sản bán không ai mua. Hàng ngàn dự án trùm mền hoặc đắp chiếu theo nghĩa đen và cả nghĩa bóng của tai nạn giao thông. Ngày càng nhiều doanh nghiệp kinh doanh nhà đất lâm vào cảnh “lâm sàng” hoặc phá sản. Bắt đầu diễn ra phong trào thế chấp tài sản cho ngân hàng, hoặc trên thực chất là tống tháo nợ để ngân hàng muốn làm gì thì làm. Nhưng đến lượt mình và cho đến tận giờ đây, rất nhiều ngân hàng vẫn không biết làm cách nào để tống khứ số nợ xấu đó cho những đối tượng khách hàng vẫn bị coi là “nai”.

Thế nhưng trong cảnh cùng cực không lối thoát, nợ xấu vẫn bị giới chức chính phủ và Ngân hàng nhà nước chỉ đạo “bảo mật” đầy quyết liệt vào năm 2012. Một văn bản vào tháng Ba năm đó của Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã cho phép các ngân hàng thương mại có thêm thời gian để “đảo nợ” – được ví như một cử chỉ giúp hấp hối lâu hơn.

Trong suốt thời gian từ cuối năm 2011 đến cuối năm 2014, tỷ lệ nợ xấu nhảy múa liên tục theo cách mà các đại biểu Quốc hội chỉ được biết những gì mà Chính phủ và Ngân hàng nhà nước muốn cho biết, cho dù những tổ chức xếp hạng tín nhiệm có uy tín trên thế giới như Credit Suisse và Moody’s đã công bố tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam lên đến 13-15% chứ không chỉ là 3-5% như con số mòn miệng điêu ngoa của giới chức quản lý ngân hàng.

Mãi đến cuối năm 2014 và ngay trong phiên họp Thường vụ Quốc hội, Thống đốc Bình mới lần đầu tiên phải tiết lộ con số nợ xấu thực, xét về giá trị tuyệt đối: 500.000 tỷ đồng.

Con số kinh khủng trên, gấp đến 3 – 4 lần so với số mà Ngân hàng nhà nước báo cáo từ năm 2012, đã ngay lập tức khiến báo chí và dư luận choáng váng.

Người Việt có thể tận hưởng, và vẫn còn đủ thời gian để tận hưởng những “của ngon vật lạ”. Nếu 2013 là năm bắt đầu xuất hiện con số thực về nợ công quốc gia lên đến 98% GDP chứ chẳng phải dưới 50% GDP như báo cáo của Chính phủ, thì năm 2014 nợ xấu tiếp liền nợ công. Đến lúc này, nền kinh tế Việt Nam đã trở nên vô phương. Hẳn đó cũng là nguồn cơn mà Nguyễn Văn Bình – được dư luận xem là “cánh tay mặt” của Thủ tướng Dũng – buộc phải thở ra sự thật quá cay đắng và bế tắc về nợ xấu.

Bất chấp làn sóng tuyên truyền đậm đặc tuyên giáo về “nước ngoài xếp hàng chờ mua nợ xấu của Việt Nam”, cho tới nay 500 hồ sơ chào bán nợ mà Ngân hàng nhà nước gửi cho các tổ chức, đối tác tài chính quốc tế vẫn chưa nhận được bất cứ hồi âm công khai nào. Ngay cả chuyến công du “bán nợ xấu” của Thủ tướng Dũng ở Australia vào đầu năm 2015, trong khi không nhận được sự đồng cảm nào của thủ tướng Úc lúc đó là Tony Abbot, phía “bạn” lại thẳng thừng tuyên bố sẽ cắt giảm viện trợ đối với Việt Nam.

Năm sau?

Cuối cùng trong tận cùng, năm 2015, ngân sách quốc gia chỉ còn vẻn vẹn 45.000 tỷ đồng mà “không biết phân bổ cho cái gì” – như một cảm thán đau xót khó có thể thành thật hơn của ủy viên Trung ương đảng, đương kim Bộ trưởng kế hoạch và đầu tư Bùi Quang Vinh.

Nợ công, nợ xấu, và ngân sách cạn kiệt. Vậy năm sau sẽ là gì?

Một luồng ý kiến lạc quan cho rằng cứ với đà này, ngân sách Việt Nam sẽ còn cầm cự được 2, thậm chí là 3 năm nữa.

Nhưng cũng có ý kiến bi quan hơn hẳn: 8 tháng tới một năm, kể từ cuối năm 2015.

Chỉ biết rằng câu trả lời cái gì sẽ xảy ra vào cuối năm sau dĩ nhiên không còn thuộc về quyết định của giới chính trị bất tài và bế tắc, mà xin dành cho các bạn đọc thông minh và yêu quý của chúng tôi.

Nợ công Việt Nam nghiêm trọng tới đâu?

Mặc Lâm (RFA) – Trong một báo cáo của Diễn đàn Phát triển Việt nam (VDPF) mới đây cho biết chỉ, trong vòng 15 năm nợ công Việt Nam đã tăng gấp đôi và vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lại.

Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Quang A, chuyên gia tài chánh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS để biết tìm hiểu thêm mức nghiêm trọng của nợ công hiện nay có ảnh hưởng gì tới việc phát triển kinh tế của Việt Nam.


Tiến sĩ Nguyễn Quang A trong một dịp đến thăm và thảo luận về Xã hội Dân sự tại RFA.

Chi tiêu quá mức

Mặc Lâm: Xin chào Tiến sĩ Nguyễn Quang A. Theo bản báo cáo của ADB cho biết năm 2016 nợ công của Việt Nam có thể tăng lên 65% GDP và con số này cho thấy tình trạng nợ công Việt Nam ngày càng tiến gần hơn mức an toàn cho phép. Ông có nhận định gì về dự báo này?

TS Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ rằng nợ công của Việt Nam tăng rất nhanh trong mấy năm vừa qua và khi nhìn vào cách chi tiêu của Việt nam thì rất dễ hiểu khi mức tăng là 60% so với năm trước. Người ta đặt ra cái ngưỡng là dưới 65% của GDP thì an toàn còn vượt quá số đo là mất an toàn.

Tôi nghĩ rằng nợ công tăng nhanh chóng như thế nó báo hiệu một nguy cơ rất lớn. Vấn đề không phải là nó đạt ngưỡng 65% của GDP trên đấy thì mất an toàn còn dưới đấy thì không mất an toàn.

Thực sự ở những nước mà nợ công của người ta lên đến trên 100% cúa GDP nhưng vẫn an toàn và có thể dưới mức 50% cũng không an toàn.

Quan trọng là khả năng của nền kinh tế, khả năng thu của chính phủ có đủ bù chi hay không. Có thể trả nợ lãi và gốc đến hạn hay không. Nếu việc ấy mà không thực hiện được thì dẫu ngưỡng có bao nhiêu chăng nữa thì đất nước cũng lâm vào cảnh vỡ nợ cho nên tôi thấy chuyện nợ công tăng nhanh như thế thì rất đáng lo ngại.

Mặc Lâm: Theo như TS vừa mới giải thích thì vấn đề bội chi ngân sách đang rất trầm trọng và đồng tiền thuế của người dân đóng góp để giải quyết vẫn là điều thiết yếu để trả các món nợ công. Tuy nhiên lĩnh vực dầu thô thì đồng tiền thuế không còn nhiều như xưa cộng với việc khi vào TPP sắp tới Việt Nam phải chịu bỏ các khoản thuế nhập khẩu như quy định của định chế này. Theo ông nhà nước phải sửa đổi cách thu thuế như thế nào để bù vào các khoản trống này?

TS Nguyễn Quang A: Nguồn thu của nhà nước Việt Nam dựa vào đầu tiên là thu từ dầu. Có thời nguồn thu từ dầu khí có thể lên tới 35% tổng thu của ngân sách.

Sau đó là thuế xuất nhập khẩu, có thời thuế xuất nhập khẩu đã chiếm một tỷ trọng rất lớn trong nguồn thu ngân sách.

Cũng may trong những năm gần đây thì tỷ lệ đó càng ngày càng giảm và bây giờ nó chỉ còn 17 hay 18% gì đó.

Khi mà TPP bỏ hết các khoản thuế đó thì tôi nghĩ chắc chắn nó sẽ làm giảm nguồn thu của ngân sách nhưng có lẽ cũng không phải không khắc phục được bởi vì ở Việt Nam người ta dựa chủ yếu vào thuế giá trị gia tăng, tức là thuế bán hàng mà chưa dựa nhiều lắm vào thuế tài sản, thuế thu nhập cá nhân cũng bắt đầu tăng lên một chút.

Nếu họ cơ cấu lại nguồn thu và tích cực thu nhiều hơn vào thuế tài sản, thếu thu nhập cá nhân thì tôi nghĩ rằng dần dần Việt Nam sẽ tiến dần đến một cơ cấu lành mạnh hơn, nhưng chắc chắn trong thời gian tới thì còn phải điều chỉnh nhiều.

Tiền đâu để phát triển?

NguyenQuangA-200.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS ở Hà Nội. RFA file photo

Mặc Lâm: Theo đánh giá của các định chế tài chính quốc tế thì nợ công của Việt Nam đã cán mức 110 tỷ đô la và chính phủ đã phải liên tục phát hành trái phiếu trong cũng như ngoài nước. Liệu động thái này có kềm lại được cơn khát ngân sách đang ngày một tăng hơn hay không và nó nói gì về sức khỏe của nền tài chính Việt Nam?

TS Nguyễn Quang A: Một chính phủ phát hành trái phiếu trong nước hay nước ngoài, vay cái mới để trả cái cũ hay nói nôm na gọi là đảo nợ là chuyện rất là bình thường, tôi nghĩ không có gì đáng lo ngại.

Đáng lo ngại là ở chỗ thu có đủ bù chi hay không mà trong cái chi này phải tính cả chi trả lãi và một phần gốc của món vay trước kia.

Rất đáng tiếc ngân sách Việt Nam mà nhất là Luật ngân sách chẳng hạn thì suốt mấy chục năm qua từ Quốc hội cho tới tất cả các quan chức Việt Nam người ta không có khái niệm về bội thu ngân sách mà chỉ có việc bội chi mà thôi.

Như thế là vì luôn luôn có bội chi trong suốt mấy chục năm qua tức là thu không đủ chi, mà thu không đủ chi thì phải đi vay. Vay từ năm nay cho tới năm sau cứ thế nó tích tụ lên. Đến một lúc nợ vay quá lớn khó vay được nữa thì dễ dẫn đến chuyện vỡ nợ.

Tôi luôn luôn nhấn mạnh là thu có đủ bù chi hay không và cái chi đấy phải tính cả trả lãi vay và một phần gốc vay.

Mặc Lâm: Đa số nợ công tập trung vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở, khi không còn vay được nữa thì việc xây dựng cũng ngưng lại và từ đó hạ tầng cơ sở không theo kịp đà phát triển kinh tế sẽ kéo theo sự trì trệ không thể tránh khỏi. Theo TS thì biện pháp nào sẽ giải đáp cho câu hỏi này?

TS Nguyễn Quang A: Đấy là vấn đề thực sự nan giải. Tổng công ty đường cao tốc Việt Nam vừa mới khánh thành một đoạn cao tốc Hà Nội Hải Phòng với vốn của dự án BOT nên tổng công ty nhà nước phải đi vay các ngân hàng và người ta dự tính sẽ phải bán quyền thu phí ở đường cao tốc đề lấy tiền đi làm các đoạn đường cao tốc khác.

Cách làm như thế cũng làm được cái gì đó nhưng cuối cùng thì nền kinh tế phải có sự đầu tư nhưng các ngân hàng thương mại lấy đâu ra tiền để cho ông Tổng công ty đường cao tốc vay? Cũng lại là tiền huy động của dân hoặc là tiền vay của nước ngoài. Không tình toán được như thế mà cứ nói là xã hội hóa, thế này thế kia thì rất là khó giải quyết nguồn vốn đó.

Trong cuộc họp với các nhà tài trợ vừa rồi bà Victor Kwakwa hỏi Việt Nam lấy nguồn vốn ở đâu mà phát triển thì ông Thủ tướng trả lời một câu rất là chung chung và tôi nghĩ đây là vấn đề hết sức nan giải, phải liệu cơm gắp mắm và nếu mà không vay được những khoản vay dài hạn với lãi suất thấp như là ODA, nhưng mà ODA không khéo thì vướng vào cái bẫy của ODA và đó là chuyện lẩn quẩn mà Việt Nam vẫn còn khó trong thời gian tới.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s