Năng suất lao động thấp cản trở Việt Nam hội nhập

Posted: December 12, 2015 in Uncategorized
Tags:

Thanh Trúc (RFA) – Năng suất lao động thấp cản trở tiến trình hội nhập toàn cầu, là cảnh báo của chuyên gia khi so sánh tiềm năng sản xuất của Việt Nam với các nước trong khu vực.

� Xem thêm: Năng suất lao động hạng bét vì cần cù + Năng suất lao động Việt Nam thấp nhất khu vực: Đâu là lối thoát?

000_Hkg9744216-622.jpgCông nhân đường sắt làm việc tại Hà Nội, ảnh minh họa chụp trước đây. AFP photo

Vì sao năng suất lao động của VN thấp?

Theo nhận định của ILO Tổ Chức Lao Động Quốc Tế, được báo Người Lao Động tường thuật lại, thì tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam từ 4,6% năm 2010 giảm còn 4,1% năm 2014 và 4,3% năm 2015. Như vậy, tổng mức lao động tăng trưởng năng suất lao động năm 2015 đạt 21,3% so với năm 2010.

Và dù tăng như thế, điều đáng chú ý vẫn là năng suất lao động của Việt Nam lại thấp hơn so với các quốc gia trong khu vực.

Số liệu năng suất lao động 2014 của ILO Tổ Chức Lao Động Quốc Tế cho thấy Việt Nam ở nhóm thấp nhất trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nghĩa là thấp hơn Thái Lan 2,7 lần, Philippines 1,8 lần, Indonesia 2,4 lần, Malaysia 6 lần, Singapore 15,6 lần và Brunei 17,6 lần.

   Ví dụ cũng một nhà máy đấy, cũng sức lao động đấý nhưng quản lý tốt thì giá trị sản phẩm nó nhiều hơn. Đâu phải Việt Nam mình không thể làm ra những sản phẩm tốt? Nếu đem công nghệ tốt vào, trang bị đầu tư và đào tạo người thì năng suất lao động của mình nó cao lên ngay.
– Bùi Kiến Thành   

Chuyên gia kinh tế tài chính Bùi Kiến Thành, hiện là cố vấn cao cấp cho các tập đoàn kinh doanh lớn ở Hà Nội, trước hết nên hiểu năng suất lao động qua cách sử dụng từ ngữ giản dị và dể hiểu:

“Năng suất lao động là anh sản xuất ra được cái gì, anh lãnh lương một tháng 200 đô la anh làm ra được cái gì. Đó là cái năng suất lao động của người ta, mỗi đầu người làm ra được bao nhiêu sản phẩm và sản phẩm đấy so ra với sản lượng đầu người của Việt Nam thì nó thấp hơn sản lượng đầu người của Thái lan là bao nhiêu đấy, của Philippines là bao nhiêu đấy.”

Đối với giáo sư Hà Tôn Vinh, tổng giám đốc Tổ Hợp Đào Tạo Và Phát Triển Nhân Lực Stellar Management ở thành phố Hồ Chí Minh, năng suất lao động là một khái niệm khá phức tạp nhưng cần được hiểu rõ:

“Năng suất lao động của một người công nhân hay một người quản lý có thể dựa trên hai khái niệm là input là đầu vào và output là đầu ra, ở giữa là người làm công việc đó. Thí dụ một công nhân sử dụng một cái máy trong một tiếng đồng hồ có thể sản xuất ra bao nhiêu ốc vít, 10 hay 20 cái kềm cái búa. Trong khi đó cũng cùng cái đầu vào tức là sắt thép thì một công nhân Singapore, Thái Lan hay Malaysia có thể sản xuất được 100 cái kềm cái búa. Sự khác biệt đó gọi là năng suất lao động.

Thứ hai là việc đào tạo, cái cách làm việc, cái qui trình làm việc. Qui trình làm việc ngắn hơn, mau hơn cũng có thể ảnh hưởng đến năng suất và đầu ra.”

Câu hỏi ở đây là vì sao năng suất lao động của Việt Nam thấp, phải chăng sức làm việc của người Việt Nam kém người Singapore đến 15 lần? Nhiều người còn cho rằng năng suất lao động thấp như vậy khi bước vào Cộng Đồng Kinh Tế ASEAN thì e rằng lao động Việt Nam sẽ thua cả lao động Kampuchia và Lào. Một chuyên gia của Bộ Lao Động, Thương Binh Và Xã Hội còn nghĩ năng suất lao động thấp là rào cản là thách thức của hội nhập. Chuyên gia Bùi Kiến Thành đưa ra cái nhìn khác hơn:

“Trường hợp như thế thì có thách thức gì trong vấn đề hội nhập? Giá lao động Việt Nam thấp nên nó là một lợi thế để phát triển kinh tế trong khi mình hội nhập. Giá lao động của mình thấp cho nên người ta đến đầu tư, hưởng giá lao động thấp để phát triển những nguồn sản xuất. Đó là một cách nhìn khác về giá lao động thấp.

Giá lao động thấp là một việc, giá trị sản phẩm người Việt Nam sản xuất ra được là một việc khác. Nhưng mà hai việc đấy có sự liên quan với nhau và nếu mà không đầu tư về vấn đề trang thiết bị tốt thì giá trị sản phẩm làm ra ít hơn người khác, cũng làm sản phẩm đó mà người ta được trang thiết bị tốt.

Ví dụ cũng một nhà máy đấy, cũng sức lao động đấý nhưng quản lý tốt thì giá trị sản phẩm nó nhiều hơn. Đâu phải Việt Nam mình không thể làm ra những sản phẩm tốt? Nếu đem công nghệ tốt vào, trang bị đầu tư và đào tạo người thì năng suất lao động của mình nó cao lên ngay. Phải cấu trúc lại hoạt động sản xuất, đưa công nghệ vào, tổ chức lại số người lao động, tổ chức lại điều kiện làm việc. Đào tạo tốt, trang thiết bị tốt, ban điều hành làm việc tốt thì năng suất lao động lên chứ việc gì đâu mà gọi là rào cản.”

ngo-doc-thuc-pham-622.jpgẢnh minh họa

Cần huấn luyện tay nghề?

Tổng giám đốc Tổ Hợp Đào Tạo Và Phát Triển Nhân Lực Stellar Management, ông Hà Tôn Vinh, nói rằng ông hoàn toàn đồng ý với việc huấn luyện tay nghề nếu muốn nâng mức năng suất lao động cho công nhân Việt Nam:

“Năng suất lao động là dựa vào vấn đề đào tạo một người công nhân. Trình độ của công nhân, gọi là tay nghề, hay là dựa vào công nghệ hay là dựa vào qui trình làm việc. Nếu so sánh năng suất lao động của Việt Nam với một nước như Singapore thì sự khác biệt là công nhân lao động Việt Nam chưa được đào tạo bài bản.”

   Năng suất lao động là dựa vào vấn đề đào tạo một người công nhân. Trình độ của công nhân, gọi là tay nghề, hay là dựa vào công nghệ hay là dựa vào qui trình làm việc.
– Hà Tôn Vinh    

Bên cạnh đó, giáo sư Hà Tôn Vinh cũng đề cập đến việc phải đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nghề:

“Giả dụ như bây giờ qui trình làm việc của Việt Nam có thể phải 10 bước mới xong một cái đinh, một cái kềm, một cái búa. Nhưng nếu tái cơ cấu là xem công đoạn nào không cần, thay vì 10 bước thì sắp xếp lại chỉ còn ba bốn bước thôi thì có thể sản xuất mau hơn.

Vậy thì người công nhân mà đóng góp cho sự thành đạt của doanh nghiệp không phải chỉ được tăng lương không mà phải có tay nghề, phải làm sao cho doanh nghiệp đó phát triển bền vững hơn bằng cách làm mau hơn, tốt hơn và không sai sót nhiều.”

Lao động được trả lương ở Việt Nam hiện chiếm 34% tổng lực lượng lao động. Dưới mắt chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, nâng cao năng suất lao động không chỉ đơn thuần là tăng thu nhập cho công nhân qua việc tăng mức lương tối thiểu:

“Từ trước tới nay tăng lương lên không phải do vấn đề năng suất lao động lên, không phải vì năm trước anh làm 10 đôi giày năm nay làm được 15 đôi giày rồi anh được tăng lương. Năng suất lao động không lên mà lương vẫn lên là tại vì nhà nước tăng mức lương tối thiểu. Lương lên không phải là thước đo năng suất lao động. Trong khi giá trị sản phẩm của người lao động các nước trong cộng đồng ASEAN cao hôn thì như thế thì mình khó cạnh tranh. Nói cụ thể là như vậy.”

Theo khuyến nghị của ILO Tổ Chức Lao Động Quốc Tế và ADB Ngân Hàng Phát Triển Á Châu, để bảo đảm tăng trưởng kinh tế Việt Nam cần thực hiện xây dựng khung chính sách nâng cao năng suất của các ngành nông nghiệp, đa dạng hóa các ngành công nghiệp, tái cơ cấu ngành nghề, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, bên cạnh một chính sách lao động rõ rệt của một nền kinh tế thị trường.

Năng suất lao động hạng bét vì cần cù

Đặng Kính (TTTG) – Số liệu năng suất lao động năm 2014 do ILO công bố cho thấy năng suất lao động của Singapore gấp 15,6 lần Việt Nam.


Lao động như thế này được đánh giá là năng suất lao động hạng bét,
nhưng báo chí lại gọi đó là vẻ đẹp lao động của Việt Nam. Ảnh: TL

Càng thảm đạm hơn khi ta nhìn thêm những chi tiết về năng suất lao động Việt so với năng suất lao động trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương: Thái Lan cao hơn 2,7 lần, Philippines 1,8 lần, Indonesia 2,4 lần, Malaysia 6 lần, Singapore 15,6 lần và Brunei 17,6 lần.

Trong khi đó Jetro (Tổ chức ngoại thương Nhật), khi giới thiệu Việt Nam với các nhà đầu tư Nhật tại Diễn đàn thường niên lần III Đầu tư đồng bằng sông Cửu Long 2015 lại đánh giá Việt Nam chỉ có 10 ngày nghỉ trong năm, so với Campuchia 20 ngày, Myanmar 18 ngày; ở Việt Nam 95% dân số biết đọc biết viết.

Nghỉ ít làm nhiều, biết đọc biết viết nhiều, mà năng suất lao động kém như thế thì phải xem cách tính của ILO như thế nào?

Một chuyên gia của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được Người Lao Động dẫn lại ý kiến cho rằng năng suất lao động thấp hay cao không hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ nghề nghiệp, mức độ chuyên cần của người lao động mà nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như hiệu quả sử dụng lao động, giá trị sản phẩm của ngành mà NLĐ làm việc cũng như chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp.

Cụ thể, ILO lấy GDP chia cho số lao động đang làm việc trong nền kinh tế nên năng suất lao động Việt Nam mới thảm hại đến thế.

Mà GDP ấy lại lấy nợ để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng làm cơ bản một phần để tôn tạo thành tích nên năng suất lao động thực tế có lẽ còn tệ hơn theo cách tính của ILO.

Hết năm nay cam kết Cộng đồng kinh tế Asean (AEC) có hiệu lực tạo ra một thị trường lao động liên thông giữa các nước Asean, thì 50% lực lượng lao động của Việt Nam đang làm việc ở lĩnh vực nông nghiệp sẽ vẫn tiếp tục đói nghèo vì năng suất lao động cực thấp.

Với lợi thế mà JETRO của Nhật đánh giá, Việt Nam có khả năng thu hút các nhà đầu tư vì lao động cần cù, nghỉ ít và biết đọc biết viết nhiều. Những công việc thâm dụng lao động chắc chắn sẽ đổ về nơi có nhiều lao động cần cù.

Một chuyên gia giảng dạy ở Fulbright Việt Nam nói: cũng như người Việt từng tự hào là làm chủ thị trường nail ở Mỹ, một công việc mà người Mỹ không thèm làm, nếu không có những đột phá trong hội nhập, rốt cùng chúng ta sẽ chỉ là hạng bét trong một thế giới mà đường biên quốc gia nhạt dần.

Ông nói thêm: “Hạng bét cũng không sao. Không có chết. Vấn đề là chúng ta muốn hạng mấy”. Vâng, vấn đề là giá trị lao động của chúng ta như thế nào để có một năng suất lao động được đánh giá cao.

Năng suất lao động Việt Nam
thấp nhất khu vực: Đâu là lối thoát?

Hoàng Long (MTG) – Báo cáo Năng suất Việt Nam 2014 do Viện Năng suất Việt Nam (VNPI) biên soạn mới công bố đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động – vốn là điểm rất yếu của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất, yếu tố thị trường: Nếu nhu cầu về hàng hóa trong nước cũng như xuất khẩu tăng lên, tăng các cơ hội tiêu thụ hàng hóa, từ đó tăng được đầu ra và kích thích được sản xuất hàng hóa và dịch vụ, các nguồn lực được sử dụng và khai thác đầy đủ, tận dụng được lợi ích kinh tế theo quy mô và theo phạm vi, tăng được năng suất.

Thứ hai, yếu tố môi trường kinh doanh: Chính sách và thể chế có tác động dưới dạng tạo những điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất. Hoặc môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh và thuận lợi dẫn đến tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực, hiệu quả hoạt động, giảm những hoạt động không tạo giá trị gia tăng để tập trung vào hoạt động tạo giá trị gia tăng cao hơn.

Thứ ba, tái cơ cấu kinh tế (phân bổ vốn và lao động của nền kinh tế) sẽ giúp phân bổ lại các nguồn lực. Do đó, Việt Nam sẽ có được ngành và thành phần kinh tế có năng suất cao hơn dẫn đến sử dụng có hiệu quả các nguồn lực dẫn đến TFP tăng cao. Thông qua cơ cấu lại vốn và lao động các ngành sẽ hoạch định tốt hơn nhằm tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Thứ tư, yếu tố về cải tiến đổi mới công nghệ và sản phẩm: Tiến bộ trong công nghệ có tác động đến tăng TFP dưới nhiều cách. Ví dụ, việc tạo ra sản phẩm mới giúp xâm nhập vào thị trường tốt hơn, hoặc thay đổi quá trình sản xuất bằng một công nghệ mới có thể làm giảm bớt cường độ lao động, thời gian lao động, tiết kiệm được các chi phí về nhân công, vật liệu và tạo ra đầu ra tốt hơn.

Bên cạnh đó, thay đổi công nghệ quản lý cũng có tác động rất tích cực. Thông qua thiết kế được hệ thống sản xuất linh hoạt, hiệu quả và cải tiến quá trình hiện tại bằng cách giảm bớt những hoạt động không tạo giá trị gia tăng, giảm thiểu các lãng phí cũng như thao tác thừa có thể đẩy mạnh được năng suất.

“Một lao động thay vì thực hiện hoạt động rườm rà, không có giá trị, họ tập trung vào các hoạt động thực sự tạo giá trị gia tăng. Như vậy, một lao động sẽ tạo ra được nhiều giá trị gia tăng hơn, nghĩa là tăng năng suất” – báo cáo nhận định.

Thứ năm, yếu tố về chất lượng lao động: Rõ ràng nền kinh tế hoặc một doanh nghiệp không thể có năng suất cao nếu chất lượng lao động thấp. Chất lượng lao động thể hiện dưới hai hình thái là trình độ lao động và thái độ làm việc.

Việc đầu tư thiết bị, ứng dụng công nghệ mới sẽ không có hiệu quả nếu như người lao động không biết vận hành, sử dụng, khai thác để tạo ra được những sản phẩm tốt.

Bên cạnh trình độ lao động, yếu tố thái độ làm việc cũng rất quan trọng. Chỉ có thái độ làm việc tích cực mới phát huy hết khả năng lao động, đem lại được hiệu quả tổng thể về mặt kinh tế và xã hội.

Trong các yếu tố kể trên, yếu tố khoa học công nghệ bao hàm hoạt động đổi mới công nghệ và sản phẩm, hệ thống quản lý, quá trình sản xuất ra sản phẩm và trình độ lao động khoa học công nghệ để cho ra đời các phương pháp mới, quá trình mới và sản phẩm mới.

Theo báo cáo nghiên cứu của Gordon Reikard – một nhà thống kê tại Leap Wireless có tựa đề “Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tiến bộ công nghệ” cho rằng, một trong những phát hiện quan trọng nhất trong 50 năm qua là một phần lớn (hơn 1/3) của sự phát triển kinh tế có được từ đóng góp của tiến bộ công nghệ.

Điều này bắt nguồn từ một chuyên đề nghiên cứu năm 1957 bởi Robert Solow có tựa đề “Thay đổi kỹ thuật và phương thức sản xuất tổng hợp – Technical Change and the Aggregate Production Function” đã được xuất bản trong Tạp chí Kinh tế và Thống kê.

Solow đã chứng minh rằng vốn và lao động chiếm ít hơn hai phần ba của tăng trưởng. Phần còn lại là công nghệ. Như vậy, khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao TFP và qua đó, nâng cao năng suất lao động, đặc biệt đối với tăng trưởng và phát triển bền vững.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s