Việt Nam lấy tiền đâu phát triển: Làm ngược

Posted: December 14, 2015 in Uncategorized
Tags:

Thành Luân (BĐV) – Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, Việt Nam đang làm ngược khi cứ lấy chi để ép thu, đẩy ngân sách vào tình trạng cạn kiệt.

� Xem thêm: Xăng dầu lãi hơn 2 tỷ USD, giá trong nước có giảm? + DN Việt muốn làm bao bì cho DN ngoại: Tương lai buồn + Sự thật Toyota nội địa hóa ôtô:Đắng lòng nhiều Tiến sĩ nhưng…

Viet Nam lay tien dau phat trien: Lam nguoc
Hiện nay tình trạng vay nợ của các doanh nghiệp nhà nước là khó kiểm soát. Ảnh: VnEconomy

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, Trưởng Bộ môn Quản trị Tài chính Quốc tế, khoa Tài chính Quốc tế (Học viện Tài chính) trao đổi với Đất Việt về nỗi lo của chuyên gia quốc tế về việc Việt Nam không biết lấy vốn ở đâu để phát triển và chỉ ra những việc cần làm để thay đổi điều này.

Hệ quả làm ngược

Tỏ ra đồng cảm với những lo lắng của các chuyên gia kinh tế, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh cho biết, Việt Nam có nhiều nguồn vốn để phát triển kinh tế xã hội, trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, từ các nguồn tài trợ bên ngoài (vốn FDI, vốn ODA, vay nợ thương mại) và cả nguồn vốn của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là nhiều nguồn vốn đang cạn kiệt dần.

Trước hết, đối với ngân sách nhà nước, nguồn thu bị giảm trong đó có việc giảm đáng kể của nguồn thu từ dầu mỏ do giá dầu tụt dốc.

Trong khi đó, chi tiêu thường xuyên của ngân sách nhà nước lại rất lớn. Vài năm gần đây, thâm hụt ngân sách thường trên 5% GDP. Nợ công của Việt Nam, chủ yếu là nợ của Chính phủ đối với nước ngoài, trở thành gánh nặng đối với nền kinh tế.

“Trước nay Việt Nam quan niệm thâm hụt ngân sách là để tạo ra nền tảng cơ sở vật chất phát triển kinh tế nên cứ lấy chi để ép thu, đó là cách làm ngược. Nếu lúc nào cũng thâm hụt ngân sách thì chỉ có nước đi vay để bù đắp, đẩy nợ công ngày càng cao lên, chưa kể đi vay hiện nay không phải dễ.

Chỉ khi nào thấy ngân sách ổn định, bền vững và trong giai đoạn nào đó cần đẩy mạnh đầu tư để kích cầu kinh tế hoặc phát triển một ngành, khu vực kinh tế nào đó thì hãy nghĩ đến việc dùng thâm hụt ngân sách để đẩy mạnh đầu tư”, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh chỉ rõ.

Đối với nguồn vốn ODA, khi thu nhập của người dân Việt Nam tăng lên và không còn ở trong nhóm các nước có thu nhập thấp, các nguồn vay cũng trở nên hạn chế.

Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, việc Việt Nam được vay ODA đến thời điểm này đã là một sự ưu ái của các tổ chức kinh tế quốc tế và các quốc gia tài trợ ODA, đặc biệt là Nhật Bản.

Phía Nhật Bản đã có tài trợ cho Việt Nam nguồn vốn ODA rất lớn trong những năm qua và tiếp tục cam kết tài trợ nhiều hơn trong thời gian tới.

“Thế nhưng, bất kể là nguồn vốn nào cũng phải quan tâm đến hiệu quả đầu tư, kể cả đó là đầu tư của tư nhân hay đầu tư khu vực công. Trong khu vực tư nhân, các nhà đầu tư đã phải tự lo, Nhà nước chỉ đứng ra trợ giúp bằng cách tạo ra môi trường, điều kiện sử dụng vốn hiệu quả nhất, thể chế đơn giản, minh bạch nhất để họ khỏi có “chi phí đen” trong quá trình đầu tư dự án.

Đối với khu vực đầu tư công, việc nâng cao hiệu quả đầu tư cực kỳ cấp bách vì đây là lĩnh vựcdễ xảy ra tham nhũng và hiệu quả sử dụng vốn thấp vì cha chung không ai khóc, quản lý bị buông lỏng, bị giằng xé về vai trò, trách nhiệm của các cơ quan.

Hệ số ICOR của khu vực công của Việt Nam rất lớn đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế không cao. Việc sử dụng vốn đi vay bị rơi rớt dọc đường tới 40-50% như dư luận từng lên tiếng. Người dân đóng thuế cho Nhà nước mà những đồng vốn đó bị rơi rớt đã gây bức xúc, đằng này đây là đồng vốn được quốc tế ưu ái cho Việt Nam vay mà bị tham nhũng, sử dụng lãng phí càng không thể chấp nhận được.

Lâu nay Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia sử dụng tốt nguồn vốn vay ODA, tuy nhiên tham nhũng, lãng phí trong quản lý ODA vẫn đang là vấn đề nhức nhối. Do đó, phải biết trân quý từng đồng đồng vốn của các nhà tài trợ quốc tế thì mới tiếp tục được họ ủng hộ, cho vay với giá rẻ, điều kiện ít ngặt nghèo”, ông nói.

Những việc cần làm ngay

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng, điều đầu tiên cần làm chính là phải thay đổi quan điểm thâm hụt ngân sách để tăng trưởng và phải dựa vào khả năng thu để thực hiện chi tiêu. Không thể để năm nào cũng thâm hụt 5-7% ngân sách rồi cứ đi vay để bù đắp. Chỉ có cân bằng ngân sách mới có thể giảm được nợ công, từ đó mới tạo ra được sự lành mạnh trong chi tiêu của ngân sách quốc gia.

“Ngân sách nhà nước đang gặp khó khăn bởi thế cần tiết kiệm chi thường xuyên, đồng thời đẩy mạnh nâng cao hiệu quả đầu tư công. Việc Chính phủ đứng ra bảo lãnh để vay nợ cho các doanh nghiệp nhà nước cũng là điều tốt nhưng sử dụng đồng vốn đó có hiệu quả hay không phụ thuộc nhiều vào khâu quản lý, trong khi thời gian qua các cơ quan bảo lãnh chưa làm tốt việc này”.

Vị chuyên gia nhấn mạnh, yếu tố quyết định để giảm nợ công là phải đẩy mạnh cải cách hàng chính, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm để cân bằng ngân sách.

Ông cũng chỉ ra rằng, thực tế vẫn còn một số yếu tố lạc quan đảm bảo cho Việt Nam có nguồn vốn để phát triển.

Ví dụ, đối với lĩnh vực vốn nước ngoài, với một thể chế tương đối ổn định và nền kinh tế đang tăng trưởng với tốc độ tương đối cao, Việt Nam đang là địa điểm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp Nhật Bản thậm chí đã rời khỏi thị trường Trung Quốc, Thái Lan tìm đến Việt Nam đầu tư. Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề cần cải thiện môi trường đầu tư nhưng thực tế thời gian qua môi trường đầu tư Việt Nam đã tương đối thông thoáng, phù hợp với nguyện vọng của các nhà đầu tư quốc tế.

Các thể chế tài chính quốc tế đang dần chuyển các khoản vay ODA, vay ưu đãi của Việt Nam sang khoản vay ít ưu đãi hơn hoặc vay thương mại. Đây là động thái làm cho chi phí sử dụng vốn của Việt Nam cao hơn. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các tổ chức quốc tế và Việt Nam cho thấy khả năng cung cấp nguồn vốn cho Việt Nam trong phát triển kinh tế thời gian tới vẫn có thể đảm bảo được.

Đối với việc phát hành trái phiếu, vay nợ thương mại quốc tế, tín nhiệm quốc gia của Việt Nam đã được nâng lên nên lãi suất vay đang thấp dần đi cũng sẽ nguồn bổ sung vốn cho phát triển kinh tế Việt Nam.

Một yếu tố khác là việc phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam và các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam đã tăng cường mở rộng, đầu tư theo chiều sâu để mở rộng sản xuất tương đối bài bản và phát triển.

Đứng trên giác độ nào đó, hội nhập kinh tế sâu rộng của Việt Nam thông qua việc tham gia các hiệp định thương mại đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý kinh tế và quản lý các doanh nghiệp.

Nó cũng đòi hỏi Việt Nam phải đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp, phát triển doanh nghiệp tư nhân, tạo ra sự bình đẳng trong đối xử với doanh nghiệp tư nhân. Đây là động lực chính cho việc đầu tư, phát triển nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.

Theo Ths Bùi Ngọc Sơn, Trưởng phòng Quốc tế, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị Thế giới, các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế Việt Nam đang cạn kiệt dần, nợ công tăng lên chứng tỏ việc vay nợ, sử dụng nguồn vốn vay kém hiệu quả, một khi làm ăn không hiệu quả thì không biết lấy tiền đâu trả nợ.

Sử dụng tài nguyên hiệu quả, theo ông Sơn, có nghĩa là về mặt kinh tế các dòng vốn phải tạo ra công ăn việc làm, kinh tế tăng trưởng cao. Nhưng Việt Nam lại rất khó làm điều này vì rào cản doanh nghiệp nhà nước.

Ông cho rằng phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thì mới giải quyết được vấn đề. Các nguồn vốn khi phân bổ phải có giải trình minh bạch, làm gì, ai làm, hết bao nhiêu, mục đích sử dụng, các phương án tiền quay về trong tương lai… tất cả phải minh bạch, có phản biện phản chứng. Không riêng gì doanh nghiệp nhà nước, nếu có đưa nguồn vốn sang khối doanh nghiệp tư nhân mà không có phản biện thì sẽ tiếp tục không hiệu quả. Đây là điều chúng ta phải hết sức lưu ý.

[:-/] Xăng dầu lãi hơn 2 tỷ USD, giá trong nước có giảm? (BĐV) – Thu ngân sách từ dầu năm qua chúng ta đã đạt và vượt, khi đem về khoảng 65.000-66.000 tỷ đồng. Đây là con số lãnh đạo Bộ Tài chính  – Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết.

Trả lời VTV, vị lãnh đạo Bộ cho hay, theo dự đoán giá dầu thô sẽ tụt xuống còn khoảng 36 USD mỗi thùng, nhưng mức giá này không hề bị ảnh hưởng tới nguồn thu của ngân sách trong năm 2015.

Bo Tai chinh: Xang dau vuot thu nho giam gia
Xăng dầu lãi, trong nước vẫn bán giá gấp đôi, tận lực vơ vét túi dân đen.

Xăng nhập 9000 đồng bán giá gấp đôi

Tại diễn biến liên quan, tờ báo Người lao động từng cho biết, trong khi giá dầu thế giới tiếp tục lao dốc xuống còn 40 USD/thùng, kéo theo giá xăng nhập khẩu giảm mạnh, chưa đầy 9000 đồng/lít thì trong nước vẫn đang bán với giá gấp đôi.

Cụ thể tờ báo này cho biết, kết thúc phiên giao dịch ngày 21/8, giá dầu ngọt nhẹ WTI của Mỹ giảm 1,8 USD (giảm 4,3%) xuống 40,7 USD/thùng, thấp nhất kể từ tháng 3/2009. Giá dầu Brent giảm 1,65 USD (giảm 3,4%) xuống 47,16 USD/thùng, thấp nhất kể từ tháng 1 năm nay.

Theo tính toán, với giá dầu giảm mạnh, hiện giá xăng A92 nhập từ Singapore chỉ còn khoảng 62,76 USD/thùng, tương đương 8.858 đồng/lít. Trong khi đó, giá xăng trong nước dù đã được điều chỉnh 6 lần giảm (giá xăng RON 92 bình quân giảm khoảng 3.600 đồng/lít so với giá xăng xuối năm 2014) thì hiện nay người tiêu dùng vẫn đang phải mua với giá gấp đôi tương đương 18.536 đồng/lít.

Theo công bố của các cơ quan quản lý, một lít xăng RON 92 về Việt Nam phải chịu thuế nhập khẩu (18%), thuế tiêu thụ đặc biệt (10%), thuế bảo vệ môi trường (1.000 đồng), thuế giá trị gia tăng (10%), tương đương 8.244 đồng. Ngoài ra, mức chiết khấu cho các đại lý xăng dầu hiện tại là trên dưới 1.000 đồng/lít.

Theo PGS.TS Trần Văn Ngãi, việc triết khấu bất hợp lý trên khiến ngành xăng dầu đang được lợi lớn. Cái lợi họ đang hưởng là bán được hàng, có thêm doanh thu, tránh bị tồn kho, nhập hàng mới ăn chênh giá lớn hơn, lợi nhiều hơn… đây vốn dĩ đã là lý do không thể chấp nhận được.

Thứ hai, đây được xem là cách các doanh nghiệp đầu mối đã mượn đại lý để gửi lợi nhuận, trốn tránh trách nhiệm đóng thuế với nhà nước. Với cách điều hành như vậy, ông Ngãi nói thẳng không cần sự tồn tại của quỹ bình ổn. Không thể bắt người dân đi bình ổn cho doanh nghiệp, đó là điều bất hợp lý.

Theo tính toán của TS Nguyễn Hồng Nga – Khoa Kinh tế (ĐH kinh tế – Luật, TP.HCM) thì khi giá xăng thế giới là 64 USD, thì việc giảm giá 816 đồng, các DN kinh doanh xăng dầu vẫn lãi khoảng 9000 đồng một lít. Trong khi giá thế giới giảm từ 64 USD còn 47 USD, nếu tính toán đúng giá thế giới giá xăng trong nước lúc này cũng chỉ không quá 17 ngàn đồng/lít.

[:-/] DN Việt muốn làm bao bì cho DN ngoại: Tương lai buồn (BĐV) – Nếu sản phẩm của họ làm tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, chất lượng cao hơn Samsung sẽ chọn họ và DN nội sẽ bị đánh bật ra.

PGS.TS Phương Ngọc Thạch – Chủ tịch Hội HASEM cho biết, theo dự báo tiềm năng ngành bao bì tại Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh trong thời gian tới. Trước tình hình đó nhiều DN của Hàn Quốc, Nhật, Đài Loan (Trung Quốc), Thái Lan dự định đầu tư phát triển bao bì tại Việt Nam.

DN Viet muon lam bao bi cho DN ngoai: Tuong lai buon
Ảnh minh họa

Cũng như những lĩnh vực khác doanh nghiệp Việt đang bị lép vế trước sự lấn lướt của doanh nghiệp nước ngoài. Theo đánh gia trong tương lai thị trường bao bì trong nước sẽ trở thành sân chơi chính của doanh nghiệp nước ngoài gồm cả bao bì mềm và bao bì PET…

Trong tương lai gần, bao bì, nhựa sẽ là phân khúc có nhu cầu rất lớn, thiết kế tốt bao bì sẽ là yếu tố làm tăng giá trị của sản phẩm. Nhận thấy lợi thế này, FDI sẵn sàng đầu tư mạnh để được làm từ A đến Z giống như dệt may, da giày. Đây sẽ là thách thức rất lớn với DN trong nước.

Theo vị chuyên gia, khả năng DN trong nước sẽ tự chuyển mình, nâng cao năng lực khi có sự xuất hiện của DN ngoại là không đáng kể. Cũng như những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khác, doanh nghiệp sản xuất bao bì VN, quản trị yếu kém, công nghệ thấp, lại khó tiếp cận nguồn vốn, đất đai, khó tiếp cận thị trường, sức cạnh tranh không cao… Cùng với đó DN trong nước, đặc biệt là DN nhỏ và vừa đuối sức khi chịu tác động kép, vừa chịu áp lực cạnh tranh với DN nước ngoài FDI, vừa phải “cõng” trên vai nhiều loại thuế phí. Trong khi đó DN nội còn phải đối diện với nguy cơ bị lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu, máy móc nhập khẩu.

Xét về mọi mặt, từ năng lực cạnh tranh, trình độ, đẳng cấp cho tới điều kiện tất cả DN nước ngoài đều đang thể hiện rõ trình họ hơn hẳn Việt Nam.

Cụ thể, vị chuyên gia cho biết, về công nghệ DN trong nước thì nhỏ lẻ, lạc hậu; trình độ quản lý yếu kém; thị trường hạn chế; vốn nhỏ, khó khăn…

[:-/] Sự thật Toyota nội địa hóa ôtô:Đắng lòng nhiều Tiến sĩ nhưng… (BĐV) – Theo Ths Bùi Ngọc Sơn, nhiều năm qua Việt Nam chỉ tập trung vào chuyện lắp ráp, thực chất là buôn bán ô tô mà thôi.

Su that Toyota noi dia hoa oto: Viet Nam duoc gi?
Nhà máy Toyota Việt Nam tại Vĩnh Phúc

Xung quanh câu chuyện Toyota Việt Nam nội địa hóa ô tô bằng cách mời gọi nhiều doanh nghiệp Nhật Bản thuộc lĩnh vực sản xuất phụ tùng, linh kiện ô tô sang Việt Nam, tiêu biểu là tập đoàn Denso, một số nhà cung cấp nằm trong hệ thống các nhà cung cấp của Tập đoàn Toyota Nhật Bản như Toyota Boshoku, Toyoda Gosei…, Ths Bùi Ngọc Sơn, Trưởng phòng Kinh tế Quốc tế, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng đó là chuyện tất yếu khi Toyota không tìm được nhà sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô tại Việt Nam.

“Bao nhiêu năm Việt Nam không xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ cho ô tô mà chỉ quan tâm đến chuyện lắp ráp ô tô. Muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô thì phải tập trung sản xuất các linh kiện và phụ trợ cho ô tô trước. Việt Nam chỉ tập trung vào lắp ráp mà thôi. Khâu lắp ráp chính là khâu làm giảm chi phí của buôn ô tô vì doanh nghiệp FDI nhập toàn bộ linh kiện từ các xưởng sản xuất bên đất nước họ theo các phân khúc của họ, đưa về Việt Nam lắp ráp và bán luôn. Lắp ráp vốn được coi là quá trình cuối cùng của sản xuất nhưng thực tế nó là quá trình của việc buôn ô tô là chính”, ông Sơn thẳng thắn.

Cũng theo vị chuyên gia này, nếu Việt Nam muốn sản xuất được ô tô thì phải có quá trình phát triển trước các phụ tùng, linh kiện như điều hòa, ắc quy, đèn, dây điện, ghế… Mỗi chiếc ô tô có hàng nghìn linh kiện, Việt Nam có thể khuyến khích tư nhân phát triển trước những linh kiện, phụ kiện ở cấp độ thấp. Nếu làm được như vậy, sau 20 năm, Việt Nam đã sản xuất rất giỏi các thứ này và khi ấy nhà đầu tư Nhật Bản không phải mời gọi, lôi kéo công ty từ Nhật Bản sang để làm các linh kiện, phụ kiện đó. Tiếp đó, ở giai đoạn hai, với những loại công nghệ có cấp độ cao hơn như điều hòa, các bộ phanh tang trống… sẽ lại có chương trình cao hơn đưa Việt Nam tiến dần đến sản xuất được tất cả các loại phụ kiện cho ngành ô tô. Lúc bấy giờ, Việt Nam sẽ tự động nội địa hóa được ô tô.

“Tuy nhiên, vì Việt Nam không phát triển theo hướng đó mà chỉ tập trung vào lắp ráp nên đến bây giờ vẫn không có ngành công nghiệp ô tô”, ông nhấn mạnh.

Bên cạnh việc doanh nghiệp Việt Nam không đáp ứng được việc sản xuất linh kiện, phụ kiện ô tô, một câu hỏi được đặt ra là: Liệu sản xuất ô tô ở Việt Nam có lãi không? Ths Bùi Ngọc Sơn nhắc lại vấn đề ông đã nhiều lần đề cập, đó là chính sách tỷ giá của Việt Nam suốt bao năm qua khiến sản xuất trong nước luôn bị lỗ.

Ông gay gắt: “Đến xe máy Việt Nam còn không làm nổi thì làm sao làm được ô tô? Khung xe máy nhập từ Trung Quốc về còn rẻ hơn sản xuất ở Việt Nam thì làm sao phát triển được lĩnh vực sản xuất khung xe máy ở Việt Nam? Vì Việt Nam không thể làm nổi nên khi người Nhật muốn đặt trụ sở ngành công nghiệp phụ trợ ô tô ở đây thì buộc phải đưa doanh nghiệp của họ sang”.

Cũng nói về vấn đề tỷ giá, ông nhận định rằng người Nhật hẳn cũng đã tính toán thiệt hơn khi đầu tư vào Việt Nam. Bởi nếu sản xuất phụ tùng ở Nhật Bản sẽ rất đắt do giá lao động của họ đắt đỏ hơn nhiều so với ở Việt Nam, vì thế có thể có lúc họ không được lợi về mặt tỷ giá nhưng so đi bù lại vẫn rẻ hơn ở Nhật. Ngoài ra, người Nhật cũng tính chuyện lâu dài bởi với một đất nước 100 triệu dân như Việt Nam, ở vị trí thuận lợi, có thể đưa hàng sang Trung Quốc, Lào, Thái Lan…, cảng biển thuận tiện thì nay họ có thể thiệt nhưng mai sẽ được lợi.

Nhìn nhận vấn đề từ hai phía, Ths Bùi Ngọc Sơn cho rằng, xét về phía doanh nghiệp Nhật Bản, nếu Việt Nam sản xuất được linh kiện, phụ tùng ô tô thì họ sẽ được lợi hơn nhiều và cũng dễ dàng cho họ đặt căn cứ ở đây. Người Nhật “không sung sướng gì” khi phải lôi kéo doanh nghiệp của họ sang Việt Nam bởi làm như vậy họ cũng thiệt hại.

Trong khi đó, về phía nước chủ nhà Việt Nam “rất đáng xấu hổ” bởi suốt mấy chục năm qua không làm nổi mấy phụ kiện ô tô. “Giáo sư, tiến sĩ về vật lý, hóa học, toán học rầm rộ phát triển, thi quốc tế giỏi, huy chương vàng nhiều… Tuy nhiên, cuối cùng sơn cũng không làm nổi, mạ cũng không xong”, ông Sơn chua chát.

Su that Toyota noi dia hoa oto:Dang long nhieu Tien si nhung...
Một sản phẩm của Toyota tại Vietnam Motor Show 2015

…Tuy nhiên, việc đầu tiên là phải trả lời được câu hỏi: Ta biết làm cái gì? Việt Nam được lợi nhiều hay ít tùy thuộc vào cách chuẩn bị làm ăn với Nhật Bản như thế nào. Về phía doanh nghiệp phải quan tâm đến việc học hỏi cách làm, buôn bán, công nghệ, cách tổ chức của doanh nghiệp nước ngoài. Còn Nhà nước phải có những thay đổi về chính sách, chẳng hạn như chính sách về tỷ giá để doanh nghiệp trong nước có thể yên tâm sản xuất. Tóm lại, lợi nhiều hay ít là do mình”.

Nhìn lại việc một số doanh nghiệp ô tô FDI, trong đó có Toyota thi thoảng lại dậm dọa xin ưu đãi, theo ông Sơn, điều này hoàn toàn dễ hiểu khi thị trường không công bằng với họ về mặt tỷ giá, nền tảng công nghệ trong nước không hỗ trợ cho họ, các chính sách hay thay đổi… Bởi thấy thua thiệt nên các doanh nghiệp kêu, “chứ hồi đầu làm ăn tốt không thấy ai kêu”.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s