Sản phẩm Việt Nam và câu chuyện thương hiệu: Tản mạn về cái cần không có và cái có không cần

Posted: December 16, 2015 in Uncategorized
Tags:

PGS.TS Phạm Bích San (TamNhin) – “Các trách nhiệm này của chúng tôi xin truyền lại đời bộ trưởng sau. Vì thời gian không còn nữa thì làm sao bây giờ” Hoàng Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lich (trả lời chất vấn Quốc hội cuối kỳ về trách nhiệm của Bộ trưởng)

� Xem thêm: TS Bùi Kiến Thành: Phải thay “cổ phần hóa” bằng “tư nhân hóa” doanh nghiệp nhà nước + Metro TP.HCM đắt bậc nhất thế giới: Ai xót, ai không?


ảnh minh họa, nguồn Internet

Toàn văn nội dung Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương-TPP đã được công bố, và Việt Nam bước vào một thời kỳ mới với nhiều ẩn số khó lường: cả cơ hội lẫn thách thức. Sẽ làm gì đây những người dân Việt cần cù, chăm chỉ lao động nhưng rất ít biết về những luật chơi của nền kinh tế thị trường hiện đại, trong một khu vực chiếm tới 40% tổng sản phẩm lảm ra của toàn thế giới ? Trong đó, có một thách thức cơ bản, nhưng ít người biết tới, là nguy cơ chúng ta sẽ hội nhập bằng cái gì khi mà hàng hoá Việt Nam, cả những mặt hàng truyền thống đứng hàng đầu thê giới, như lúa gạo, đến những sản phẩm hiện đại đang được ưa chuộng sử dụng cao và ít tiếng tăm, như những sản phẩm phần mềm do các kỹ sư Việt viết nên, đều không có thương hiệu cả cho sản phẩm cũng như cho doanh nghiệp.

Đầu tiên là gạo. Việt Nam hiện đang là nước sản xuất và xuất khẩu gạo hàng thứ ba hay thứ hai trên thế giới, tuỳ năm. Gạo Việt được xuất khẩu với khối lượng lớn, giá rẻ cho những thị trường dễ tính như Philipine, Indonesia, các nước châu Phi… và nhất là cho Trung Quốc thông qua con đường tiểu ngạch. Cho đến nay, chúng ta vẫn không hề có một thương hiệu nào cho gạo Việt ngoài một cái tên chung là gạo Việt Nam với sự mặc đinh, một cách nhầm lẫn, rằng đó toàn là những loại phẩm cấp thấp. Trong khi đó người Thái Lan đã xây dựng thương hiệu Thai Hom Mali cho gạo giống Jasmine của họ từ năm 1959, còn Campuchia tuy mới bước vào thị trường gạo thế giới 5 năm nhưng có thương hiệu Phkaromduol của mình. Nhờ vậy, cùng là sản phẩm gạo giống Jasmine nhưng giá gạo Thái cao hơn gạo Việt 340 USD mỗi tấn, còn gạo Campuchia đã có danh tiếng là gạo ngon nhất thế giới.

Còn các sản phẩm hiện đại, như phần mềm của công nghiệp tin học,.thì sao? Ít ai biết được rằng doanh số của hoạt đông gia công phần mềm nước ta hiện đạt trong khoảng 1,5-2 tỷ đô la mỗi năm và gia tăng với tỷ lệ 20-30% mỗi năm. Các công ty phần mềm của Việt Nam hiện đang gia công phần mềm cho các công ty lớn ở nước ngoai với trình độ cao: 20 triệu người ở Mỹ đang sử dụng điện thoại có phần mềm do kỹ sư Việt viết, 400.000 người đang sử dụng xe Ford giám sát xe bằng một ứng dụng di động do kỹ sư Việt lập trình trong khi 200 triệu người tra cứu Google đang sử dụng một phần mềm gắn ảnh (image tagging software) cũng do kỹ sư Việt soạn thảo ( theo TBKT Sài gòn). Nhưng dù đã được tính đến trong danh sách những địa điểm gia công phần mềm hàng đầu thế giới, thứ 18 đối với TP Hồ Chí Minh và 20 đối với Hà Nội và là nước nằm trong tôp 10 quốc gia tốt nhất châu Á về gia công phần mềm, các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam vẫn chưa tạo dựng được thương hiệu đáng kể nào trên trường quốc tế.

Vì thiếu những thương hiệu đủ mạnh đó cho nên người Việt làm ra nhiều gạo, hai đến ba vụ một năm, mà lợi nhuận thu về được chẳng là bao cho người nông dân. Còn những người làm tin học nước nhà dù cố gắng đến mấy thì thu nhập của họ vẫn thuộc hàng thấp nhất trong khu vực, và người ta đổ đến Việt Nam cũng chỉ vì cái rẻ đó. Nhưng thời gian qua đi mà việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm và doanh nghiệp nước nhà xem ra vẫn chẳng đi đến đâu, trong khi hội nhập với thế giới đã vào cao trào.

Có nhiều lý do để giải thích cho việc đủng đỉnh và không quan tâm tói việc xây dựng thương hiệu này, nhất là đối với các sản phẩm công nghệ cao như phần mềm, của những người đang hoạch định chính sách phát triển.

Đầu tiên lý do dễ thấy nhất : tàn dư của thời kỳ bao cấp luôn thiếu hụt hàng hoá vẫn đang ngự trị trong xã hội với thói quen cho rằng cái cần nhất là làm ra sản phẩm, còn bán sản phẩm là việc quá dễ dàng. Có điều, trong nền kinh tế thị trường, nhất là thời hội nhập, mọi việc lại khác: có vô vàn những sản phẩm tương đương và không có lý do gì người ta sẽ mua một sản phẩm cụ thể nào đó nếu nó không có được một thương hiệu nổi tiếng, được nhiều người biết đến. Tư duy không cần thương hiệu đã bắt rễ lâu đời và cơ sở của nó, nền kinh tế lấy doanh nghiệp nhà nước làm trung tâm, đến nay vẫn chưa bị loại bỏ.. Cũng có điều, đổ lỗi cho bao cấp là điều dễ làm nhất và cũng khó để làm được gì nhằm cải thiện tình hình nhất.

Thứ hai, việc xây dựng thương hiệu không phải là việc làm đơn giản. Nó bao gồm nhiều hoạt động từ việc đảm bảo có một sản lượng đủ lớn, sẵn có, với chất lượng của sản phẩm đủ ổn định phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng ở mọi xã hội và mọi nền văn hoá khác nhau, thiết kế lôgô dễ nhận dạng cho đến các chiến dịch truyền thông đưa thông tin về sản phẩm đến đại chúng… và, nhất là, cần nhiều năm tháng giữ gìn để không có tỳ vết gì xảy ra với sản phẩm. Đây là những hoạt động rất tốn kém và có thể vượt sức của nhiều doanh nghiệp lúc khởi sự, nên để xây dựng được các thương hiệu mạnh của quốc gia cần có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ và, đôi khi, là cả bắt buộc đối với các doanh nghiệp.

Cuối cùng, cần có một nền hành chính có trách nhiệm: có trách nhiệm với sự phát triển chung của đất nước, thể hiện qua việc xây dựng các thương hiệu, và có trách nhiệm cá nhân của những nhà lập chính sách và quản lý với sự thành bại trong việc xây dựng thương hiệu này. Và đòi hỏi này là nhất quán và liên tục xuyên qua nhiều thế hệ các nhà hoạch định chính sách, như ta đã biết, xây dựng thương hiệu cần có thời gian và lòng kiên trì của nhiều thế hệ.

Xem ra để đạt được những điều này đang gần như là không thể trong môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp Việt.

Vì các doanh nghiệp nhà nước dang giữ địa vị chi phối trong nền kinh tế quốc dân và đang sử dụng tới 80% các tiềm lực quốc gia vẫn dang vận hành theo kiểu cũ: trọng cung chứ chưa trọng cầu không cần thương hiệu, và người lãnh đạo được bổ nhiệm từ đâu đó về doanh nghiệp sẽ không có lý do gì để sống chêt với doanh nghiệp cũng như với các thương hiệu của chúng, cả khi đương chức cũng như sau khi đã hết chức.

Vì các nhà quản lý và hoạch định chính sách có tư duy vẫn đang đơn giản và ít hiểu biết đối với thương hiệu: cứ xem việc các quan chức Bộ Công thương hồn nhiên khẳng định Samsung là hàng Việt Nam trên TTXVN cách đây hai tháng thì rõ. Hàn Quốc đã mất cả nửa thế kỷ để xây dựng nên thương hiệu Samsung và Made in Korea, sản xuất ở Hàn Quốc, đâu phải để đơn giản chúng ta có thể ngộ nhận chúng là của mình hay để thế giới thừa nhận dễ dàng coi rằng đây là hàng Việt Nam, cho dù chúng có thể được lắp ráp tại Việt Nam. Không bỏ sức ra mà cứ nhận của mình là tư duy không phù hợp với kinh tế thị trường, nơi mà người ta chỉ trả giá trị cho bạn nếu bạn có đóng góp được giá trị gia tăng vào đó. Và hàng hoá chỉ có thể là hàng Việt Nam khi giá trị của chúng ta góp vào đó phải vượt ít ra hơn 50%.

Và vì các nhà lập chính sách ở cấp cao hơn trong nền kinh tế cũng đang bị chi phối bởi tư duy nhiệm kỳ: họ lên đảm nhiệm các vị trí quan trọng không có các chính sách và các cam kết cụ thể những gì sẽ làm cho quốc dân biết, và họ ra về cũng chẳng mấy bận tâm những gì mình đã làm được trong suốt cả một, hai nhiệm kỳ của người hoạch định chính sách. Họ tâm niệm thật là đơn giản: cứ chuyển trách nhiệm cho người sau, như quan niệm của ông bộ trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, một lĩnh vực đang rất cần xây dựng và bảo vệ các thương hiệu. Vậy mà nền hành chính chúng ta đã bắt tay vào cải tổ kéo dài được 20 năm!

Việt Nam đang vật lộn để phát triển trong suốt một phân tư thế kỷ qua, những thành công đạt được là những kết quả rất bất ngờ: công sức vô cùng lớn lao của những người lao động, từ những nông dân ít học cho đến những người kỹ sư phần mềm học vấn cao. Tương lai sắp tới vẫn là trông chờ vào sức lao động của những con người ấy, nhất là những người đang làm việc trong những lĩnh vực công nghệ cao như phần mềm máy tính, công nghiệp điện tử hay công nghiệp văn hoá… những ngành có thể mang lại các giá trị gia tăng vượt trội một cách nhanh chóng nhất. Triển vọng thực tế có thể cũng sẽ là những bất ngờ thú vị mà người Việt sẽ có thể mang lại.

Nhưng vai trò và sự đóng góp của các nhà hoạch định chính sách nước nhà, qua trường hợp xây dựng thương hiệu cho sản phẩm Việt, quả là còn có thê được gia tăng hơn nữa. Vai trò rất quan trọng của họ chưa được thừa nhận một cách tương xứng, trong khi đóng góp của họ thường là không mấy rõ ràng và trách nhiệm của họ lại càng không rõ ràng ơn nữa. Nếu như có được những chính sách phù hợp, trước hết là trong việc định hinh và phát triển các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, cái mà chúng ta hoàn toàn có thể làm được như trường hợp công ghiệp gia công phần mềm, cùng với thương hiệu Việt Nam đủ mạnh để hội nhập với thế giới, thì giá trị sản phẩm Việt Nam mang lại sẽ gia tăng nhiều lần. Và cũng chỉ có như thế mới đáng để mở cửa để thị trường Việt Nam hội nhập với thị trường thế giới.

Như vậy, TPP và hàng chục hiệp định tự do thương mại đã và đang được Việt Nam ký kết, nhưng xem ra tư duy của nhiều nhà quản lý vẫn như xưa. Nếu vậy trong sân chơi toàn câu hoá vô cùng khắc nghiệt, phần thua thiệt của người Việt là rất cao. Vậy nên lời dạy của nhà khoa học vĩ đại, Albert Einstein, vẫn cần được nhắc lại : “Không thể giải quyết được vấn đề chúng ta phải đương đầu bằng trình độ tư duy giống như khi chúng ta gây ra những vấn đề đó”

TS Bùi Kiến Thành: Phải thay “cổ phần hóa”
bằng “tư nhân hóa” doanh nghiệp nhà nước

Hoàng Long (MTG) – Hiện nay Việt Nam còn khoảng 1,2 – 1,3 triệu tỉ đồng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Nếu so với số vốn cần phải thoái thì con số này rất ít ỏi. Theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, cần phải thúc đẩy “tư nhân hóa” chứ không chỉ là “cổ phần hóa” như hiện nay.

Theo con số thống kê của Chính phủ, năm 2013 Việt Nam mới chỉ cổ phần hóa chưa đầy 100 doanh nghiệp nhà nước. Năm 2014, có thêm 74 đơn vị được cổ phần hóa (CPH) và đến trung tuần tháng 11.2015 có thêm 159 đơn vị được CPH. Theo nhiều dự đoán, kết thúc năm 2015, có tổng cộng khoảng 460 đơn vị được CPH, hoàn thành 90% mục tiêu đặt ra cho cả giai đoạn 2011-2015.

Dù thoái vốn ở nhiều doanh nghiệp nhưng hiện nay vẫn còn khoảng 1,2 – 1,3 triệu tỉ đồng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Nếu so với số vốn cần phải thoái thì con số này rất ít ỏi.

Theo báo cáo kinh tế vĩ mô quý 3/2015, việc chậm trễ trong CPH có nhiều nguyên nhân, cả chủ quan lẫn khách quan. Nguyên nhân khách quan là thị trường chứng khoán chưa thực sự khởi sắc, cung vượt quá sức cầu của thị trường…

Nguyên nhân chủ quan là việc định giá khởi điểm bán cổ phần nhà nước chưa hợp lý, thường cao hơn so với giá thị trường kỳ vọng, dẫn tới tỷ lệ cổ phần trúng giá đạt thấp. Chưa có sự công khai, minh bạch trong CPH, các thông tin liên quan đến doanh nghiệp không dễ tiếp cận với nhà đầu tư…

Bên cạnh đó, tình trạng xây dựng phương án CPH để lại tỷ lệ cổ phần nhà nước ở mức cao khiến nhà đầu tư bên ngoài không mặn mà với CPH. Bởi vì nếu cổ phần nhà nước quá cao thì vẫn đội ngũ điều hành doanh nghiệp đó, tình hình không có gì thay đổi.

Theo kết quả nghiên cứu về cải cách doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam do Ngân hàng Á châu (ADB) phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và Bộ Tài chính Việt Nam thực hiện, giai đoạn 2003 – 2009, Việt Nam CPH được 2.389 doanh nghiệp, nhưng từ năm 2009 – 2013 chỉ CPH được 69 doanh nghiệp. Năm 2015, trong số gần 300 doanh nghiệp phải CPH xong như mục tiêu đề ra, thì 6 tháng đầu năm mới CPH được 61 doanh nghiệp.

Qua những con số trên rất dễ nhận ra rằng việc CPH đang diễn ra chậm và ngày càng phức tạp, khó khăn hơn. Trong đó có nguyên nhân quan trọng là tiến trình CPH bắt đầu đụng chạm đến các doanh nghiệp nhà nước lớn, có nhiều khoản nợ không rõ ràng, gây khó cho xác định giá trị doanh nghiệp; quản trị yếu kém; hoạt động thiếu minh bạch, nên làm nản lòng nhà đầu tư.

Trao đổi với báo điện tử Một Thế Giới, chuyên gia kinh tế, TS Bùi Kiến Thành cho rằng việc CPH doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua vẫn chưa được như kỳ vọng, số vốn cần thoái vẫn còn rất lớn.

Theo TS Thành, Việt Nam chỉ cần giữ lại những doanh nghiệp nhà nước ở các lĩnh vực như an ninh-quốc phòng, những lĩnh vực mà tư nhân chưa làm được, còn ngoài ra phải CPH hết.

“Không chỉ cải cách doanh nghiệp nhà nước, phải tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế nói chung. Không chỉ cổ phần hóa mà phải là tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước”, TS Bùi Kiến Thành khẳng định.

TS Thành nói thêm, nếu CPH, theo cách mà nhà nước vẫn nắm giữ số vốn rất lớn ở các doanh nghiệp thì việc điều hành vẫn như cũ, vẫn không thay đổi bộ máy và triết lý điều hành thì cũng không có gì khác.

Ngoài ra cần phải quyết liệt hơn trong việc minh bạch công tác CPH, tránh lợi ích nhóm, bè phái…, ông Thành cho biết.

Metro TP.HCM đắt bậc nhất thế giới:
Ai xót, ai không?

Châu An (BĐV) – “Nếu các nhà quản lý thấy xót xa trước đồng tiền mồ hôi nước mắt của người dân, thì đã không sử dụng một cách không tính toán như hiện nay”.

“Cưỡi ngựa xem hoa”

Trước việc Bộ KH&ĐT nhận định suất đầu tư tuyến metro ở TP.HCM cao hơn so với các nước, ông Hoàng Như Cương – Phó trưởng ban kiêm phụ trách Ban quản lý đường sắt đô thị TP.HCM cho rằng sở dĩ có sự chênh lệch về suất đầu tư là do tuyến metro có đoạn đi ngầm dài hoặc ngắn.

Thế nhưng, chia sẻ với Đất Việt, ngày 14/12, TS Nguyễn Xuân Thủy – Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản giao thông cho rằng, đó là cách giải thích hoàn toàn không hợp lý.

Bởi vì, hiện nay tuyến Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên có chiều dài 19,7km, trong đó 17,1km đi trên cao và 2,6km đi ngầm, như vậy chỉ có 15% đi ngầm, với suất đầu tư là 93,9 triệu USD/km.

Tương tự, tuyến metro số 2 Bến Thành – Tham Lương có suất đầu tư 123 triệu USD/km với tổng chiều dài 12km, trong đó 2,7km metro đi trên cao và 9,3km đi ngầm, như vậy là 77% đường đi ngầm.

Trong khi, ở Thượng Hải tuyến Metro xây dựng 100% đi ngầm, suất đầu tư chỉ có 91 triệu USD/km, ở Ý cũng xây dựng 100% đi ngầm nhưng giá chỉ có 98,87 triệu USD/km, Chile cũng xây 100% đi ngầm giá cũng chỉ 99,01 triệu USD/km. Như vậy là tỷ lệ đường đi ngầm của Việt Nam so với thế giới vẫn còn quá thấp, nhưng suất đầu tư vẫn cao hơn rất nhiều.

Ông Thủy cho hay: “Ai cũng biết để so sánh được chính xác suất đầu tư các tuyến Metro là rất khó, tất cả chỉ mang tính chất tương đối, bởi cần phải có những dự án tương đồng về điều kiện địa hình, địa chất và các tiêu chuẩn thiết kế.

Metro TP.HCM dat bac nhat the gioi: Ai xot, ai khong?
Một đoạn đi trên cao của tuyến Metro Bến Thành – Suối Tiên. Ảnh IE

Thế nhưng, khi tính toán đưa ra  suất đầu tư ban đầu, các yếu tố như đặc điểm địa hình, địa chất, đặc biệt là kết cấu, tỷ lệ xây dựng ngầm…cũng đã phải được tính toán cụ thể. Nên không thể có chuyện khi đưa vào thực hiện suất đầu tư lại tăng cao thì đổ cho địa hình thực tế”.

Bên cạnh đó, theo ông Thủy, trước đây khi nghiên cứu về tàu điện ngầm, bản thân ông cũng đã đưa ra mức giá cho Việt Nam (nếu xây dựng 100% đi ngầm) thì rơi vào khoảng 60 triệu USD/km. Đơn giản là vì vật tư, nhân công chúng ta rẻ hơn gấp chục lần so với thế giới.

Cụ thể, một công nhân làm tàu điện ngầm ở Việt Nam lương chỉ được 300-400 USD/tháng, còn lương công nhân nước ngoài làm tàu điện ngầm phải dao động từ 3000-5000USD/tháng. Hơn nữa, công nghệ của chúng ta cũng vừa phải, cho nên giá thành cũng sẽ rẻ hơn rất nhiều, so với giá tàu điện ngầm của các nước.

“Cách đây khoảng 40 năm, tôi đã dự đoán giá tàu điện ngầm của Việt Nam sẽ dao động khoảng 40 – 60 triệu USD/km. Trong khi, tuyến Metro Nhổn – ga Hà Nội, hiện nay đã lên tới 70 triệu USD/km, với 4km đi ngầm, 9km đi trên cao.

Trong khi, suất đầu tư của tuyến đường đi trên cao giá chỉ bằng 1/3 giá tuyến đường ngầm, nói cách khác, 1 tuyến đi trên cao suất đầu tư chỉ khoảng 25-30 triệu USD/km, như vậy, để thấy suất đầu tư của chúng ta đang quá cao so với thế giới.

Điều đáng nói là mức sống của người dân Việt Nam hiện nay chỉ bằng 1/20 của Mỹ, 1/20 của Anh, 1/10 của Nga, 1/10 của Chile và 1/4 của Thái Lan. Mà suất đầu tư làm tàu điện ngầm đắt gấp đôi các nước cùng trong khu vực, như Quảng Châu suất đầu tư làm tàu điện ngầm hiện nay chỉ 45 triệu USD/km, ở Bắc Kinh khoảng 60 triệu USD/km, Hồng Kông nơi làm đắt nhất giá cũng chỉ 90 triệu USD/km. Hỏi vậy có xót xa hay không?”, ông Thủy lo ngại.

Cho nên, theo TS Thủy, không có lý do gì để bào chữa được cho việc thiếu trách nhiệm, thiếu kỹ năng, thiếu chuyên môn của Ban quản lý các tuyến Metro cả Hà Nội và TPHCM. Bởi khi áp dụng kinh nghiệm của nước ngoài mà không cải tiến, nâng cao mà bê nguyên si nên giá cả tăng cao, không phù hợp thực tế của Việt Nam.

Đây chính là hệ quả của việc làm “cưỡi ngựa xem hoa”, tắc trách, không hết trách nhiệm, không đủ kỹ năng, trình độ, kỹ thuật tính giá, quản lý hợp đồng lỏng lẻo, thích thì đội giá lên, không có ai cản trở, không có ràng buộc về trách nhiệm.

Trong khi, làm những tuyến đường giá thành cao, thì phải tính toán chi li giá tiền của từng cân xi măng, từng cân thép. Ví dụ, 1 tuyến tàu điện ngầm như vậy với độ dày bê tông, cốt thép cụ thể thì sẽ cần bao nhiêu bê tông, bao nhiêu cốt thép, bao nhiêu nhân công, công nghệ đòi hỏi như thế nào, giá điện ra sao, rồi đưa ra mức giá tổng thể, chứ không phải làm sai thì xin tăng giá như hiện nay.

Công trình yếu kém, quy trách nhiệm

Nhìn nhận vấn đề ở góc độ trách nhiệm, ông Thủy khẳng định: “Nếu như các nhà quản lý thấy xót xa trước đồng tiền mồ hôi nước mắt của người dân, thì đã không sử dụng một cách bừa bãi, thiếu ý thức, thiếu nhân văn và không tính toán như hiện nay.

Hơn nữa, chuyên môn kém, nên dẫn đến không có kinh nghiệm quản lý, trong khi tôi nghiên cứu về Metro ở nước ngoài hàng chục năm nay, nhưng nắm giá thành các suất đầu tư còn kỹ hơn Ban quản lý hiện tại.

Đây chính là hệ quả của sự yếu kém, thiếu trách nhiệm. Nhà nước cho tiền đầu tư, cho đi tham quan du lịch để nghiên cứu, nhưng vẫn làm không hết trách nhiệm.

Đoàn đi học hỏi kinh nghiệm thì đi tham quan là chính, nên yếu kém vẫn hoàn yếu kém về chuyên môn dẫn đến nâng giá một cách bừa bãi. Bên cạnh đó, là vấn đề đạo đức của đội ngũ quản lý, của chung thì xây dựng lãng phí, không vun vén.

Như tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông đội giá đến 300 triệu USD tức là 70%, thử hỏi ai chấp nhận được”.

Vị chuyên gia nói thên, nghịch lý hiện nay là đã có bao nhiêu tuyến Metro được đưa vào xây dựng nhưng người dân vẫn chưa hề được thụ hưởng một chút lợi ích từ tuyến đường này, mà chỉ thấy chậm tiến độ, đội vốn, gây mất an toàn, bức xúc trong dư luận.

Chỉ rõ, những cơ quan phải có trách nhiệm trong việc này, ông Thủy cho biết thêm: “Thứ nhất, Bộ KH&ĐT, thứ hai là Bộ Tài chính, thứ ba là Bộ GTVT, thứ tư là cơ quan quản lý dự án, thứ năm là cơ quan quy hoạch thiết kế, thứ sáu là cơ quan giám sát, tư vấn kỹ thuật, thứ bẩy mới là nhà thầu thi công”.

“Tôi vẫn hay ví von, nếu điều hành tốt, không đội vốn lên đến 1 tỷ USD ở tuyến Metro số 1 thôi, thì cũng đủ tiền để xây mấy trăm cây cầu treo cho học sinh vùng khó khăn đi học, vì giá trị mỗi chiếc cầu chỉ có 3 tỷ đồng”, ông Thủy chua xót.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s