Hệ lụy từ báo cáo “đẹp”

Posted: December 29, 2015 in Uncategorized
Tags:

Gia Khang (NLĐ) – Hiện cả nước có 225.500 người trình độ đại học trở lên không tìm được việc làm, trong tổng số 1.128.700 người trong độ tuổi lao động thất nghiệp. Con số người thất nghiệp hầu như không giảm nhiều năm qua, trong đó tỉ lệ người có bằng cử nhân trở lên ngày càng tăng.

� Xem thêm: Vì sao lao động trình độ thạc sĩ, cử nhân ồ ạt thất nghiệp? + 225.500 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp: Học vì hư danh.


Các tân cử nhân đang tìm thông tin việc làm tại ngày hội việc làm
do Trường ĐH Ngân hàng TP HCM tổ chức ngày 17-5-2015 – Ảnh: BẢO LÂM

Những nguyên nhân cơ bản đã được các chuyên gia phân tích: đào tạo không gắn với thực tế; tỉ lệ tạo việc làm thấp, tăng trưởng kinh tế chững lại… thực ra không mới. Nó đã được đưa ra từ nhiều năm trước, thậm chí còn gây tranh cãi ở các kỳ họp Quốc hội nhưng kỳ lạ là những biện pháp khắc phục chưa thấy hiệu quả.

Chỉ 10 năm qua, số trường đại học tư mọc ra “như nấm sau mưa”, tuyển sinh ồ ạt, dễ dãi. Họ đào tạo đủ các ngành nghề trùng lắp nhau, cơ sở vật chất thiếu thốn, giảng viên không có… Dù có cố gắng đào tạo nhưng “sản phẩm” sau khi đưa vào xã hội không thể sử dụng được. Bên cạnh đó, quá nhiều thanh niên vẫn còn tư tưởng vào bằng được đại học mà không cần biết khả năng mình đến đâu, sở thích như thế nào. Việc các trường cho thôi học cả ngàn sinh viên mỗi năm là minh chứng rõ nhất. Còn các doanh nghiệp thì luôn ngao ngán với những cử nhân đầy ắp “kiến thức vĩ mô” mà chẳng có chút nghiệp vụ. Muốn sử dụng, họ phải đào tạo lại từ đầu rất tốn kém.

Thực trạng như thế nhưng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vẫn vô tư đưa ra những con số lạc quan. Cụ thể, mỗi năm đều tạo được từ 1,5-1,6 triệu việc làm mới; đào tạo lại hàng vạn người bị thất nghiệp… Mỗi năm, dân số của Việt Nam tăng khoảng 1 triệu người. Nếu con số tạo việc làm mới chính xác thì không bao nhiêu năm nữa chúng ta làm gì còn người thất nghiệp. Vậy nên, khi đưa con số trên ra tại kỳ họp Quốc hội, nhiều đại biểu không tin và nói thẳng: “Nếu tình hình phát triển kinh tế như hiện nay mà mỗi năm đều tạo được bấy nhiêu việc làm thì thế giới cũng phải học hỏi”.

Khác với cách thống kê như ở Việt Nam, tại Mỹ, hằng tháng Bộ Lao động đều có khảo sát đối với các gia đình có nhiều người trong độ tuổi lao động để kiểm tra lại tỉ lệ thất nghiệp. Song song đó, một khảo sát khác cũng được tiến hành đối với các doanh nghiệp để xem cơ cấu sử dụng lao động như thế nào. Từ tham khảo này, sẽ đưa ra những điều chỉnh cấp thời để hạn chế thất nghiệp.

Các nhà khoa học luôn dè chừng các con số thống kê không chuẩn thì sẽ dẫn đến những chính sách xã hội không sát thực tế. Hậu quả, tỉ lệ người thất nghiệp sẽ khó giảm, kinh tế chậm phát triển, đời sống người dân sẽ thấp. Câu chuyện sinh viên ra trường thất nghiệp đã quá phổ biến, doanh nghiệp nhiều ngành nghề chật vật duy trì sản xuất hiển hiện hằng ngày… thì liệu chúng ta có dám tin vào con số đẹp đẽ mà Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đưa ra.

Với số người thất nghiệp hiện nay là 1.128.700 người, số việc làm tạo mới khoảng hơn 1,5 triệu, vậy chúng ta hãy thử quan sát sang năm 2016, số người thất nghiệp của Việt Nam là bao nhiêu?

Vì sao lao động trình độ thạc sĩ, cử nhân ồ ạt thất nghiệp?

Ngọc Lan /Zing (cafebiz.vn) – 225.000 cử nhân, thạc sĩ cả nước không có việc làm, trong khi người ở trình độ sơ cấp, trung cấp nghề lại khá dễ dàng tìm được việc.


Tỷ lệ người lao động có trình độ sau đại học thất nghiệp ngày càng trầm trọng. Ảnh: TP.

Ra trường hơn 1 năm, Nguyễn Phương Linh, cử nhân Đại học Kinh tế quốc dân chuyên ngành Kinh doanh quốc tế vẫn chưa tìm được việc làm đúng chuyên môn. Linh cho biết đã rải hồ sơ khắp công ty nhiều lĩnh vực nhưng chưa nơi nào có hồi đáp.

Trong khi chờ việc, cô phải làm nhiều nghề để sống qua ngày. Mức thu nhập của nhân viên lễ tân, phụ bàn, tiếp thị chỉ 3,5-4 triệu đồng một tháng. Linh phải ki cóp, tính toán chi li mới vừa đủ trả tiền thuê phòng, ăn uống, sinh hoạt…

“Việc làm thời vụ không ổn định, thu nhập lúc lên lúc xuống, không có chế độ, bảo hiểm – không bằng nhiều bạn bè chỉ học nghề làm công nhân may, giấy tiền ở quê. Nghĩ tới chuyện đi xin việc, tôi cảm thấy chán nản và hụt hẫng thực sự”, Linh chia sẻ.

Linh chỉ là một trong số hơn 1,1 triệu người trong độ tuổi lao động thất nghiệp, tính đến quý III/2015. Trong đó, riêng nhóm người có trình độ sau đại học (cử nhân, thạc sĩ…) cao nhất, chiếm 20% là hơn 225.000 người. Dự báo, trong thời gian tới, con số này có xu hướng tăng lên.

Nghịch lý là những người trong nhóm này gần như không có nhu cầu tìm việc làm. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm người không có chuyên môn kỹ thuật bằng chứng chỉ, có trình độ sơ cấp, trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp lại có xu hướng giảm mạnh. Điều này cho thấy, bất cập giữa cung và cầu của thị trường lao động ngày càng trầm trọng.

Song, theo Bà Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ LĐ-TB&XH), tâm lý sính bằng cấp vẫn diễn ra. Phần lớn tâm lý người lao động lựa chọn những trường cao đẳng, đại học với ngành nghề “sang trọng” để học thay vì những trường trung cấp, cao đẳng nghề…. Việc học đáp ứng nhu cầu tâm lý của người lao động chứ không phải nhu cầu về việc làm khi ra trường.

Một nguyên nhân nữa theo bà Hương là việc phân luồng trong quá trình tuyển sinh chưa dựa trên nhu cầu của thị trường lao động. “Các trường đại học đua nhau mọc lên, lấy điểm rất thấp. Và đương nhiên ít ai lại có tâm lý đi học hệ thấp hơn. Hệ lụy là đào tạo trình độ chưa tới, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường thực tế”, Viện trưởng Khoa học Lao động và Xã hội cho hay.

Bên cạnh đó, người lao động trong nước cũng chưa chủ động trong việc xác định nhu cầu việc làm. Do đó, bản thân họ nên sử dụng thông tin thị trường lao động để điều chỉnh phù hợp với tín hiệu thị trường.

Nghiên cứu của JobStreet (mạng quảng cáo việc làm Đông Nam Á) cho thấy, chất lượng lao động của Việt Nam chưa đảm bảo đáp ứng nhu cầu thị trường.

Bà Diệu Anh, Giám đốc công ty AIM Academy cho biết, một trong những vấn đề nan giải hiện nay đó là nguồn cung nhân lực đặc biệt ở phân khúc cấp cao còn hạn chế. Đó là lý do DN buộc phải tự chọn giải pháp “săn người” từ công ty đối thủ.

Tại buổi Tổng kết các vấn đề lao động, người có công và xã hội (Bộ LĐ, TB-XH) diễn ra cuối tuần trước, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đặt ra vấn đề: “Ngay bây giờ, bao nhiêu người học đại học ra không có việc làm? Việc này cần phải giải quyết triệt để, đào tạo nghề cần phải thiết thực hơn. Vì suy cho cùng, đó là tiền, nguồn lực của đất nước khi còn rất nghèo”.

Theo đó, cơ sở chỉ mở lớp khi biết chắc người đi học cần phục vụ cho nhu cầu thiết thực của mình, để có việc làm tốt hơn chứ không phải học vì chính sách. Thị trường lao động cần gắn kết chặt chẽ hơn thông qua doanh nghiệp.

“Chúng ta sẽ không đánh giá đơn thuần thông qua số lượng người tham dự lớp học mà phải đánh giá thực chất nhu cầu học của họ. Bên cạnh đó, nếu người lao động muốn có việc làm thì DN phải có sản xuất, môi trường doanh nghiệp, đầu tư tốt”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Trong quý III/2015, tỷ lệ thất nghiệp ở độ tuổi thanh niên (15-24 tuổi) tăng 7,5% so với quý II, gấp 3,1 lần so với tỷ lệ thất nghiệp chung. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên thành thị tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao.

Cũng theo Bản tin thị trường lao động quý III/2015 (Bộ LĐ,TB-XH), tình trạng thất nghiệp dài hạn (trên 12 tháng) tăng mạnh, từ 17 lên 25%.

Lỗi chính là do dân Việt háo danh cho oai? chạy theo phong trào hiếu học đến lạc hậu, học vì hư danh:

225.500 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp: Học vì hư danh

Quyên Quyên (Zing News) – PGS Văn Như Cương nêu, cử nhân, thạc sĩ không làm được việc do đào tạo không sát với thực tế, nhà trường vốn chỉ dạy những gì họ có chứ không dạy điều xã hội cần.


PGS Văn Như Cương. Ảnh: Quyên Quyên.

Thống kê vừa công bố của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội nêu, cử nhân và thạc sĩ chiếm tỷ lệ thất nghiệp 20% (225.500 người).

Theo đánh giá, số lượng cử nhân, thạc sĩ không có việc làm gia tăng đáng kể so với con số 199.000 người của quý trước. Bên cạnh đó còn có 117.300 người có trình độ CĐ cũng đang thất nghiệp, tăng rất nhiều và nhanh so với vài tháng trước đây.

Trong khi số lượng người thất nghiệp nói chung đang có xu hướng giảm, số lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên không có việc làm lại có xu hướng tăng và trở thành nhóm có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong các bậc trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động.

Đánh giá về con số trên, PGS Trần Xuân Nhĩ – Nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT bày tỏ, đây là điều đáng lo ngại. Còn PGS Văn Như Cương nêu, 225.500 người là sự lãng phí về thời gian, tuổi trẻ.

“Trống” định hướng nghề nghiệp

PGS Văn Như Cương – Chủ tịch Hội đồng Quản trị trường THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội) cho rằng, cần định nghĩa lại sự hiếu học. Nước ta đang tồn tại phong trào hiếu học đến lạc hậu, học vì hư danh. Người người, nhà nhà đều muốn tốt nghiệp cử nhân, thạc sĩ theo cách ngành nào cũng được, chủ yếu để “oai”. Nhiều trường dạy nghề, đảm bảo công việc sau tốt nghiệp nhưng ít người học.

Hiếu học đúng nghĩa không phải lấy bằng cấp mà học để nâng cao chất lượng sống của bản thân, gia đình.

Đồng tình với ý kiến trên, PGS Trần Xuân Nhĩ nhận định, tâm lý chung của người dân Việt Nam là thích học đại học và học lên cao, không cần biết có cơ hội xin việc làm hay không. Trong khi đó, nhu cầu của người học lại mâu thuẫn với việc chất lượng đào tạo giáo dục đại học của nước ta.

Cụ thể, chương trình, kiến thức còn quá nặng nề, nghiêng về lý thuyết, thực hành còn hạn chế. Điều này có thể khắc phục bằng cách tăng cường trang thiết bị như kết hợp với nhiều xí nghiệp, nhà máy, doanh nghiệp. Tăng số lượng thời gian thực tập của học sinh.

Ngoài ra, còn tồn tại một thực tế khác, nguồn nhân lực ở nước ta rất thiếu ở các tỉnh thành, trong khi con người đổ xô về các thành thị.

Tất cả những nguyên nhân trên xuất phát từ việc “trống” hướng nghiệp trong nhà trường. Điều này dẫn đến tâm lý, học sinh không hiểu được sở thích bản thân, nhu cầu xã hội, cứ nghĩ theo đại học mới thành tài. Trong khi đó “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, một người đầu bếp giỏi cũng có thể đi khắp thế giới và thành đạt. Công việc phải đáp đứng được kinh tế và nhu cầu của gia đình, xã hội. Vì vậy, định hướng nghề nghiệp phải được thực hiện từ bậc THCS.

PGS Trần Xuân Nhĩ chỉ ra, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể hiện tại không đảm bảo được sự phân luồng học sinh. Hết bậc THCS, chúng ta phải chia luồng học sinh sao cho số lượng học đại học chiếm khoảng 40-50%, còn lại theo trung học nghề, vừa học văn hóa vừa đào tạo công nhân lành nghề.

Cũng trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, phần định hướng nghề nghiệp của học sinh không được nêu rõ. Đó là nguyên nhân khiến cho nguồn nhân lực nước ta bị mất cân đối.

PGS Văn Như Cương kiến nghị, trước mùa tuyển sinh, Bộ GD&ĐT phải công bố số lượng nguồn nhân lực của từng ngành nghề đang thừa hay thiếu trong tương lai.

Cử nhân, thạc sĩ cũng phải “học lại”

Là Chủ tịch Hội đồng quản trị trường THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội), PGS Văn Như Cương kể, khi tuyển chọn giáo viên cho trường, ông từng gặp những bạn trẻ có tài nhưng có rất nhiều người “không ghi được điểm”.

“Có lần, khi mở túi hồ sơ xin việc, tôi thấy ngay phong bì của người nộp đơn. Đó thực sự đã trở thành tệ nạn. Một lần khác, có bạn trẻ rất tự cao khi đánh giá về bản thân, nhưng khi được hỏi về vấn đề giao dục đang được quan tâm trong xã hội lại không biết”, PGS Văn Như Cương kể.

Ông cũng cho biết thêm, giáo viên trong trường dạy cùng bộ môn và trình độ đều có mức lương giống nhau, không phân biệt học vị là Thạc sĩ hay Tiến sĩ… Nhà trường cũng không trả lương cho giáo viên theo thành tích của học sinh, vì sẽ tạo ra phong trào học vì điểm số.

Về việc hệ đại học và cử nhân ra trường vẫn thất nghiệp, PGS Trần Xuân Nhĩ nêu, bản thân họ phải “học lại” để có kiến thức hữu dụng, tìm hiểu nhu cầu của xã hội, rèn luyện kỹ năng của bản thân để tự tạo cơ hội cho mình.

Chất lượng thạc sĩ hiện nay cũng đáng báo động khi có nhiều cử nhân tốt nghiệp ra trường, thất nghiệp, lựa chọn cách học thêm bằng thạc sĩ. PGS Trần Xuân Nhĩ đánh giá, học thạc sĩ hiện nay giống “đại học cấp 5” (vì tăng số lượng 1 năm học so với bậc đại học). Chương trình bậc thạc sĩ hiện tại chủ yếu học lý thuyết, chưa có tính thực hành và nghiên cứu sâu.

Bàn về chất lượng cử nhân, thạc sĩ, Nguyễn Minh Ngọc – Giám đốc Gemslight Company Ltd đã thẳng thắn: “Về kiến thức thì vứt cái tư duy ông cử nhân, bà thạc sĩ đi.

Các ông bà đi làm thì kỹ năng không có, giá trị thấp nhưng lại đòi hỏi công việc phải nhàn hạ, lương cao, tương lai, ổn định. Người ta làm kinh doanh chứ có phải mở doanh trại từ thiện đâu”.

Câu nói “Tôi chưa thấy ai chăm chỉ mà thất nghiệp cả” kết thúc bài phát biểu đã thức tỉnh nhiều người.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s