Vì sao doanh nghiệp Việt không lớn được?

Posted: December 30, 2015 in Uncategorized
Tags:

(VnEconomy) – Cứ làm được một đồng thì phải chi cho “bôi trơn”, cho tham nhũng 0,72 đồng, thậm chí có lúc phải chi đến 1,02 đồng thì doanh nghiệp Việt làm sao mà lớn được, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói tại hội thảo vừa được VCCI tổ chức, sáng 29/12.

� Xem thêm: Sợ khởi nghiệp, tinh thần kinh doanh của người Việt Nam thấp hơn Thái Lan và Malaysia + Vẫn còn gần 3.000 điều kiện kinh doanh trái luật.


Phải chi “bôi trơn” nhiều là một trong những lý do khiến cho doanh nghiệp vừa và nhỏ chậm phát triển.

Nội dung chính của hội thảo liên quan đến kết quả khảo sát thực hành liêm chính trong kinh doanh và nhu cầu hỗ trợ xây dựng năng lực của doanh nghiệp.

Chủ đề bà Lan được ban tổ chức “đặt hàng” là vì sao doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) Việt Nam chậm phát triển.

Câu trả lời cho câu hỏi này có liên quan mật thiết đến vấn đề liêm chính. Bởi theo bà Lan, kết quà điều tra của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy con số rất bức xúc, đó là doanh nghiệp Việt cứ làm ra một đồng lợi nhuận thì phải bỏ ra 0,72 đồng thậm chí có trường hợp phải bỏ ra đến 1,02 đồng để chi cho “bôi trơn”, cho tham nhũng.

Làm ra bao nhiêu thì bị “bóc” với một số lớn không kém thì doanh nghiệp nhỏ và vừa cứ nhỏ đi, không thể lớn lên được là phải thôi, bà Lan nhấn mạnh.

Một con số nữa, theo vị chuyên gia này cũng đang là rào cản rất lớn cho cạnh tranh, khi cũng theo kết quả điều tra của WB thì thuế và phí đang chiếm tới 40,8% lợi nhuận của doanh nghiệp,

“Ban đầu có nhiều người không tin nhưng sau đó trong cuộc họp hội đồng cạnh tranh tôi đã đặt câu hỏi và thứ trưởng Bộ Tài chính thừa nhận con số trên là đúng”, bà Lan nói.

Bên cạnh hai con số trên, phần trình bày của nữ chuyên gia còn đề cập không ít cản trở khiến cho doanh nghiệp Việt đa phần là siêu nhỏ , rất ít có cơ hội vươn vai mà còn có nhiều nguy cơ thành nhỏ li ti.

Trước tiên, nói về điều kiện khởi nghiệp thì chương trình giáo dục bậc phổ thông không có nội dung khuyến khích phát triển tinh thần kinh doanh cho học sinh

Các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chưa phát triển tương xứng. Cơ sở hạ tầng, dịch vụ tài chính chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của các hoạt động kinh doanh.

Hệ thống các giải pháp chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa còn tản mát, quy mô chưa đủ lớn, thiếu trọng tâm, thiếu nhất queen

Cản trở tiếp theo là các thể chế hỗ trợ thị trường hoạt động kém hiệu quả, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghệp phải chịu nhiều áp lực của thủ tục hành chính phức tạp, tốn kém; chưa bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực; hành lang pháp lý kém an toàn

Các hiệp hội doanh nghiệp chưa có hành lang pháp lý hoạt động nên chưa phát huy được vai trò trợ giúp, bảo vệ doanh nghiệp.

Trong những cản trở liên quan đến hiệu ứng lan toả, bà Lan cho rằng quá trình sản xuất của các doanh nghiệp Việt ít gắn kết vào chuỗi giá trị. Hợp tác kinh doanh ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở khâu tiếp thị bán hàng (29,5%) và trong khâu sản xuất hàng hóa và dịch vụ (24,8%). Khâu phát triển sản phẩm mới ít có sự hợp tác nhất.

Mối liên kết ngược và liên kết xuôi hạn chế, không tạo được hiệu ứng lan toả của các doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt. Tỷ lệ các sản phẩm được mua từ các nhà chế biến chế tạo trong nước chỉ chiếm khoảng 26,6% tổng giá trị đầu vào của doanh nghiệp FDI, bà Lan phân tích.

Điều được nữ chuyên gia nhấn mạnh là chính vì quy mô nhỏ nên chỉ có 36% doanh nghiệp Việt tham gia vào mạng lưới sản xuất (bao gồm cả xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp), so với 60% ở Malaysia, Thái Lan.

Chỉ có 21% doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu so với 30% của Thái Lan, 46% của Malaysia. Điều này khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam ít có khả năng được hưởng lợi từ hiệu ứng lan tỏa của FDI qua chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất.

Tỷ lệ xuất khẩu của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng kim ngạch xuất khẩu luôn thấp hơn doanh nghiệp lớn: ở Việt Namchỉ 16,8% so với 83,2 %; ở các nước khác là 23% so với 77%, bà Lan so sánh.

Sợ khởi nghiệp, tinh thần kinh doanh
của người Việt Nam thấp hơn Thái Lan và Malaysia

Tô Mạn (cafebiz.vn) Theo Trí Thức Trẻ – Đó cũng chính là lí do vì sao doanh nghiệp Việt Nam không lớn được vì người dân không có niềm tin vào kinh doanh, lập doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho biết.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan dẫn chứng, theo chỉ số kinh doanh toàn cầu GEM 2013, tỷ lệ người trưởng thành ở Việt Nam có ý định kinh doanh trong vòng 3 năm tới chỉ đạt 24,1% so với mức trung bình 44,7% ở các nước Đông Nam Á trong giai đoạn phát triển như Việt Nam.

Như vậy, tỷ lệ người Việt Nam thấy có niềm tin, tự tin để khởi sự kinh doanh thấp. Đó cũng chính là lí do vì sao doanh nghiệp VN không lớn được vì người dân không có niềm tin vào kinh doanh, lập doanh nghiệp.

Điều này dẫn đến về thành lập doanh nghiệp trong khởi sự kinh doanh, Việt Nam đứng thứ 3 trong khu vực, sau Thái Lan và Malaysia.

Bên cạnh đó, phần lớn nhân sự cao cấp ở các doanh nghiệp của Việt Nam chưa được đào tạo về quản trị kinh doanh.

Trong nhóm dân số từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam chỉ có 4,4% tốt nghiệp đại học, cao đẳng; 8,9% đã qua trường lớp kỹ thuật; 86,7% không có tay nghề.

Một trong những cản trở đối với tinh thần khởi sự kinh doanh của người Việt Nam, bà Lan lý giải:

Thứ nhất, chương trình giáo dục phổ thông không có nội dung khuyến khích phát triển tinh thần kinh doanh cho học sinh. Trong khi ở nước khác, ở bậc giáo dục phổ thông, đa số học sinh đã được dạy, được học cách kinh doanh. Văn hóa Việt Nam ít nhiều vẫn thể hiện sự kỳ thị đối với người kinh doanh.

Thứ hai, các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chưa phát triển tương xứng. Cơ sở hạ tầng, dịch vụ tài chính chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của hoạt động kinh doanh. Việt Nam chưa phát triển đầy đủ đến mức mong đợi, cần thiết, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Để nâng cao tinh thần khởi sự kinh doanh, từ đó phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, theo vị chuyên gia kinh tế này, cần phải xây dựng quốc gia khởi nghiệp.

Trong đó bao gồm: Các chương trình hướng nghiệp, giáo dục kinh doanh cần được giới thiệu và phổ biến ở các bậc phổ thông.

Các kỹ năng làm việc trong doanh nghiệp, bao gồm cả người chủ và người làm thuê phải được đào tạo trong tất cả các trường đại học và trường nghề.

Các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính phải được đơn giản hóa một cách tối đa.

Đặc biệt, đào tạo khởi sự doanh nghiệp có thể phải là chương trình bắt buộc để hạn chế tổn thất của cá nhân và xã hội do thiếu hiểu biết về kinh doanh. Nguồn tài chính cho khởi sự ở quy mô nhỏ luôn sẵn có.

“Các chương trình hỗ trợ người trưởng thành khởi sự cần phải được xây dựng và phổ biến rộng rãi như vườn ươm doanh nghiệp, chương trình tư vấn truyền thụ. Xây dựng thái độ thân thiện với đối với những người kinh doanh, phát triển các dịch vụ phục vụ kinh doanh hiện đại…”, bà Lan nhấn mạnh.

Vẫn còn gần 3.000 điều kiện kinh doanh trái luật

Tư Giang (TBKTSG Onnline) – Kết quả rà soát bước đầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, trong số 5.826 điều kiện đầu tư kinh doanh áp dụng đối với 267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật đầu tư thì có đến 2.833 điều kiện đang được quy định tại các văn bản được ban hành không đúng thẩm quyền gồm cả các văn bản được ban hành trước và sau khi Luật đầu tư có hiệu lực thi hành.


Vẫn còn nhiều điều kiện kinh doanh hạn chế các doanh nghiệp trái luật – Ảnh TL.

Đây kết quả rà soát văn bản quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh được ban hành không phù hợp về thẩm quyền theo quy định của Luật đầu tư trong một báo cáo của bộ này gửi Chính phủ.

“Điều đặc biệt đáng lưu ý là sau khi Luật đầu tư có hiệu lực thi hành, một số bộ vẫn tiếp tục ban hành, soạn thảo các thông tư quy định về điều kiện kinh doanh”, theo báo cáo của bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn TBKTSG Online gần đây, Bộ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh khẳng định, chỉ có nghị định của Chính phủ trở lên mới có quyền hạn chế quyền kinh doanh của người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, các bộ ngành vẫn ra thông tư đặt ra điều kiện kinh doanh.

“Điều kiện kinh doanh nào cấm đoán quyền của người dân một cách trái luật thì phải hạn chế triệt để. Tôi thấy là có tình trạng ban hành nhiều giấy phép con làm trái tinh thần của Luật Đầu tư”, ông Vinh nói.

Ông cho biết, Chính phủ vừa thành lập Tổ thi hành Luật doanh nghiệp và trong năm tới Tổ này sẽ tổng rà soát để xem có bao nhiêu điều kiện kinh doanh được đẻ ra thêm để báo cáo Chính phủ.

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, có nhiều điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, tạo chi phí tuân thủ lớn, hạn chế gia nhập thị trường của các doanh nghiệp. Ví dụ: yêu cầu số lượng phương tiện tối thiểu, thiết bị, diện tích kho bãi, số lượng người có chứng chỉ hành nghề, yêu cầu chung chung về người điều hành doanh nghiệp phải có đủ kinh nghiệm chuyên môn, yêu cầu địa điểm kinh doanh thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng…

Trong quá trình rà soát điều kiện đầu tư kinh doanh đã phát hiện vướng mắc liên quan đến việc áp dụng Luật đầu tư và các luật chuyên ngành liên quan đến thẩm quyền quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh.

Theo quy định tại Điều 7 Luật đầu tư, điều kiện đầu tư kinh doanh phải được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định. Tuy nhiên, trong trường hợp một số luật giao bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thì việc ban hành này có trái với quy định của Luật Đầu tư không?

“Đây là vấn đề cần có sự thống nhất giữa các bộ, ngành”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nêu vấn đề.

Về việc rà soát các điều kiện đầu tư kinh doanh, Bộ than phiền hầu hết các bộ, ngành chưa gửi báo cáo về Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo quy định của Nghị định số 16/2013/NĐ-CP. Các bộ được nêu tên gồm: Quốc phòng, Công an, Lao động – Thương binh và Xã hội, Thông tin và Truyền thông, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ, Y tế, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Công Thương.

Chỉ có một số ít bộ đã gửi báo cáo về việc rà soát điều kiện đầu tư kinh doanh là Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính, Giao thông-Vận tải, Tư pháp, và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Về việc ban hành nghị định quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết các bộ Công an, Giao thông-Vận tải, Thông tin và Truyền thông, Y tế vẫn đang trong quá trình soạn thảo các nghị định quy định điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các ngành: kinh doanh súng bắn sơn; dịch vụ bảo đảm hàng hải; kinh doanh thiết bị gây nhiễu, phá sóng thông tin di động; kinh doanh dịch vụ an toàn thông tin; kinh doanh dịch vụ ngân hàng mô, dịch vụ thẩm mỹ, kinh doanh dịch vụ thử thuốc trên lâm sàng…

Bộ Kế hoạch và Đầu tư lý giải nguyên nhân chủ yếu của việc chậm trình Chính phủ ban hành các nghị định này là do hầu hết các luật quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nêu trên vừa mới được Quốc hội thông qua trong năm 2015.

[:-/] Gần 50% ‘giấy phép con’ trái luật (VEF) – “Chốt sổ” kết quả thi hành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp năm 2015, Bộ Kế hoạch và đầu tư phát hiện vẫn còn 2.833 điều kiện kinh doanh được ban hành trái thẩm quyền. Ba bộ Tài chính, Xây dựng, Lao động Thương binh và xã hội bị điểm tên đầu tiên trong danh sách “đẻ” giấy phép con.

Báo cáo tới Chính phủ tại phiên họp vừa qua, Bộ Kế hoạch và đầu tư cho biết, hiện đang có 5.826 điều kiện đầu tư kinh doanh được áp dụng đối với 267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật đầu tư. Tuy nhiên, trong số này, có 2.833 điều kiện hiện đang được quy định tại các văn bản được ban hành không đúng thẩm quyền. Tỷ lệ số “giấy phép con” này chiếm tới 48,6% tổng số các loại “giấy phép” hiện nay.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s