2015: những điều trông thấy khiến âu lo về tương lai

Posted: December 31, 2015 in Uncategorized
Tags:

Trần Văn Thọ (TBKTSG) – Việt Nam mới vừa trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, hạ tầng kinh tế và giáo dục còn rất kém nhưng quan chức lại chi tiêu lãng phí ngoài sức tưởng tượng của người bình thường.

� Xem thêm: Bộ Tài chính “chốt” nợ công năm 2015 ở 61,3% GDP + Thoái vốn ngoài ngành: Tồn hơn 15.000 tỷ đồng ở các lĩnh vực nhạy cảm.


Có quá nhiều quan chức được hưởng tiêu chuẩn đi xe con do ngân sách cấp. Nhưng dù thấy như vậy,
nhà nước vẫn chưa cho thấy quyết định sẽ cắt giảm biên chế hoặc sửa đổi tiêu chuẩn. Ảnh: Kinh Luân

Từ nhiều năm nay giới nghiên cứu kinh tế phát triển phần lớn có cùng nhận định rằng đối với một nước còn ở giai đoạn phát triển thấp hoặc trung bình, yếu tố cơ bản quyết định khả năng và chất lượng phát triển là thể chế, là cơ chế. Thể chế, cơ chế tốt mới có chiến lược, chính sách đúng đắn và mới chọn ra được những quan chức có năng lực và tinh thần trách nhiệm để thực thi hiệu quả các chiến lược, chính sách ấy. Tôi cũng có cùng quan điểm này. Từ nhận định đó, “những điều trông thấy” trong năm 2015 làm tôi thấy lo âu cho tương lai kinh tế Việt Nam.

Những ngày cuối năm báo chí rộ lên vấn đề nợ công. Nhiều người lo là Việt Nam có thể lâm vào khủng hoảng ngân sách vì tình trạng bội chi triền miên. Chính phủ hiện không đủ tiền chi tiêu nên tìm cách vay thêm, chưa nói tới vấn đề phải trả nợ nước ngoài. Những người có trách nhiệm (chắc không phải là tất cả) cũng bắt đầu lo. Nhưng vấn đề cơ bản hơn là cái thể chế, cơ chế đưa đến hậu quả đó đã quá rõ từ rất lâu mà không thấy lãnh đạo, quan chức nào đề khởi biện pháp để thay đổi. Chẳng những thế, trước bức xúc của dư luận về những hiện tượng lãng phí, một số quan chức qua phát ngôn còn cho thấy thiếu cả hiểu biết và tinh thần trách nhiệm.

Chỉ đơn cử vài trường hợp cũng thấy được bản chất của vấn đề và mức độ trầm trọng trong thể chế ở Việt Nam hiện nay.

Vấn đề xe con được báo chí nêu lên như một dẫn chứng về một trong những nguyên nhân gây nên gánh nặng ngân sách. Cái gốc của vấn đề là có quá nhiều quan chức được hưởng tiêu chuẩn đi xe con do ngân sách cấp. Nhưng dù thấy như vậy, nhà nước vẫn chưa cho thấy quyết định sẽ cắt giảm biên chế hoặc sửa đổi tiêu chuẩn.

Ngược lại, có người ở cương vị có trách nhiệm còn cho rằng đó là hiện tượng bình thường, ở nước ngoài quan chức còn dùng cả máy bay đi làm việc! Một phát ngôn nghe tưởng như đùa.

Năm qua cũng rộ lên vấn đề quan chức địa phương đi tham quan học tập ở nước ngoài. Một người dân bình thường cũng thấy bất ngờ khi đọc tin trên dưới 20 quan chức, kể cả người đã hoặc sắp về hưu, sang tận Canada tìm hiểu về tổ chức dịch vụ xổ số, hoặc một tỉnh khác tổ chức đoàn đi tham quan ngành du lịch ở tận Nam Phi. Dù đó là những chuyến đi nghiêm túc (được biết thêm là hoàn toàn không nghiêm túc) người ta vẫn đặt nghi vấn về sự ưu tiên, sự cần thiết, sự lựa chọn của việc dùng ngân sách cho một đoàn tham quan đông đảo như vậy.

Tôi càng ngạc nhiên hơn khi đọc giải thích, biện hộ của những quan chức liên hệ, rằng các vị lãnh đạo tỉnh đã cống hiến cho địa phương hàng chục năm nay đã hoặc sắp về hưu cần được ủy lạo bằng cách cấp ngân sách cho đi du lịch nước ngoài. Quả thật tôi chưa thấy nước nào có thiên đường của quan chức như ở Việt Nam.

Nhật Bản cũng là nơi quan chức các cấp ở Việt Nam sang tham quan, học tập kinh nghiệm rất nhiều, nhiều đến nỗi một ông cựu đại sứ Việt Nam ở Tokyo mới đây có phát biểu là trong thời gian ông nhậm chức ông ngạc nhiên khi thấy quá nhiều đoàn sang Nhật tham quan, học tập kinh nghiệm. Nhiều cơ quan ở Nhật cho tôi biết họ tiếp rất nhiều đoàn và ngạc nhiên thấy các đoàn đến nêu những câu hỏi rất giống nhau.

Dĩ nhiên không thể phủ nhận ý nghĩa của việc ra nước ngoài tìm hiểu, học tập kinh nghiệm để tham khảo khi lập chính sách và cải thiện phương pháp quản lý. Nhưng trong điều kiện ngân sách hạn hẹp phải xét thứ tự ưu tiên và phải thực hiện bằng biện pháp tiết kiệm tối đa. Tôi thấy các nước lân cận có nhiều kinh nghiệm đáng tham khảo, Việt Nam có thể tiếp thu với phí tổn rất ít mà hiệu quả lại cao, nhưng cho đến nay có được bao nhiêu bài học đã được áp dụng?

Chẳng hạn, mỗi lần về TPHCM, thấy cảnh nhếch nhác trong cách điều hành taxi đón khách tôi lấy làm lạ sao những người có trách nhiệm không tham khảo cách điều hành rất hiện đại, rất văn minh ở sân bay quốc tế Singapore chẳng hạn, chỉ cách Việt Nam độ hai giờ bay. Chắc chắn là nhiều người có trách nhiệm quản lý sân bay đã từng đến Singapore nhưng tại sao không quan tâm, không tham khảo? Hay Luật Đầu tư nước ngoài của Thái Lan cũng rất hay vì vừa thu hút FDI vừa khuyến khích phát triển doanh nghiệp bản xứ nếu được tham khảo thì đã tránh được tình trạng phân hóa giữa hai khu vực FDI và khu vực trong nước như hiện nay tại Việt Nam.

Về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, vào thập niên 1950, Nhật Bản chỉ cần nghiên cứu vài tháng là đưa ra đạo luật áp dụng có thời hạn (năm năm), rồi được triển khai ngay nên chỉ trong thời gian ngắn đó cũng đủ để nuôi dưỡng các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhờ thế, các doanh nghiệp này, sau đó, có thể tự mình phát triển mạnh trong thị trường cạnh tranh và “hỗ trợ” cho các ngành trong lĩnh vực máy móc như xe hơi, đồ điện gia dụng phát triển.

Việt Nam từ đầu thập niên 2000 đã bàn đến sự quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ nhưng phải đến tháng 12-2012, nghĩa là hơn 10 năm sau, mới có quyết định của Chính phủ khuyến khích công nghiệp hỗ trợ. Chưa hết, cho đến nay quyết định ấy cũng chưa phát huy tích cực vì đã ba năm mà các văn bản cụ thể để thực thi chính sách ấy chưa được đưa ra.

Trong năm qua phong trào xây tượng đài, xây các tòa nhà hành chính hoành tráng, mỗi công trình tốn kém hàng ngàn tỉ đồng, cũng là những biểu hiện của sự lãng phí và thiếu trách nhiệm của lãnh đạo địa phương đối với công cuộc phát triển lâu dài và đối với việc cải thiện cuộc sống người dân của địa phương mình.

Trong bối cảnh đó, tôi muốn kể câu chuyện về tinh thần tiết kiệm công quỹ của quan chức Nhật vào thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, là giai đoạn Nhật còn nhập siêu và đang phải dành ưu tiên ngân sách, công quỹ cho các chính sách phát triển.

Năm 1950, Bộ trưởng Tài chính Ikeda Hayato dẫn đầu một đoàn đi làm việc với Chính phủ Mỹ ở Washington DC. Vì đất nước còn khó khăn, phải đi vay mượn nước ngoài, ngoại tệ phải được tiết kiệm để nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất, nên đoàn của Ikeda đến Washington phải thuê khách sạn hạng trung bình (thuộc loại 3 sao theo cách gọi bây giờ) và hai hoặc ba người phải ở chung phòng, kể cả bộ trưởng phải chia phòng với người trợ lý là Miyazawa Kiichi (cả hai ông Ikeda và Miyazawa đều trở thành thủ tướng sau này).

Phòng của bộ trưởng cũng rất đơn sơ, không có gì ngoài chiếc giường đôi. Ban ngày tiếp xúc với quan chức và chính khách Mỹ, tối về pha nước nóng với rượu sake mang theo từ Nhật, vừa uống vừa bàn bạc phương châm chiến lược cho ngày hôm sau. Không có bàn ghế nên mọi người phải ngồi trên giường bàn luận.

Ở Nhật trong giai đoạn còn nhập siêu (nghĩa là đến giữa thập niên 1960), ngoại tệ được quản lý rất chặt chẽ, chẳng những hạn chế tối đa trường hợp quan chức đi công du nước ngoài mà người dân đi du lịch nước ngoài cũng bị kiểm soát chặt qua việc cấp phép chuyển đổi ngoại tệ. Cần nói thêm rằng Nhật Bản vào khoảng năm 1960 đã ở vị trí một nước trung bình cao và đang trên đường trở thành một cường quốc công nghiệp. Vào khoảng đó, sản lượng thép mỗi năm đã vượt 2 triệu tấn, xe hơi sản xuất đã trên 2 triệu chiếc, Kobe và Yokohama đã là những thương cảng lớn và hiện đại bậc nhất thế giới. Ở đại học thì mỗi giáo sư đã có một phòng nghiên cứu riêng… Với trình độ phát triển như vậy nhưng quan chức và người dân vẫn phải tiết kiệm từng đồng công quỹ, từng đồng ngoại tệ.

Việt Nam mới vừa trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, hạ tầng kinh tế và giáo dục còn rất kém nhưng quan chức lại chi tiêu lãng phí ngoài sức tưởng tượng của người bình thường. Người giàu có mua đổi ngoại tệ hầu như tự do. Hiện nay người Việt Nam du lịch sang Nhật rất đông, thống kê sơ bộ còn cho thấy mỗi khách du lịch từ Việt Nam trung bình chi tiền nhiều hơn cả khách đến từ Trung Quốc.

Từ nhiều năm nay tôi mong được thấy những con số lành mạnh xuất hiện nổi bật trong những thông tin ở Việt Nam nhưng rất tiếc chẳng thấy. Những con số lành mạnh báo hiệu cho triển vọng sáng sủa của kinh tế chẳng hạn như khuynh hướng tăng trong tỷ lệ ngân sách dành cho giáo dục, cho khoa học công nghệ, tình hình ngoại tệ dành cho du nhập công nghệ… hầu như không thấy. Ngược lại là những thông tin về ngân sách cho tượng đài, cho trụ sở, cho quan chức tham quan nước ngoài…

Nếu Việt Nam muốn phát triển như Nhật, như Hàn Quốc, Đài Loan thì phải có ngay cuộc cách mạng hành chính, thay đổi hẳn hiện tượng tiêu cực nói trên và đưa ra khỏi bộ máy nhà nước trung ương và địa phương những quan chức thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm đối với công cuộc phát triển đất nước.

[:-/] Việt Nam phải trả 155.000 tỷ đồng nợ trong năm 2016 Theo Zing – Theo báo cáo của Bộ Tài chính, dự toán trả nợ, viện trợ sẽ ưu tiên trả đủ các khoản nợ gốc, lãi vay nước ngoài đến hạn, còn các khoản vay trong nước sẽ trả đủ lãi và một nợ gốc. Báo cáo trong hội nghị tổng kết của Bộ Tài chính cho biết, dự toán thu cân đối ngân sách Nhà nước năm 2016 đã được Quốc hội thông qua là 1.014.500 tỷ đồng. Trong khi đó, dự toán chi lên tới 1.273.200 tỷ đồng.

Theo dự toán thu chi ngân sách, thu nội địa năm 2016 có thể đạt 785.000 tỷ đồng. Trên cơ sở sản lượng dầu thô là 14,02 triệu tấn, và giá dự kiến 60 USD một thùng, xuất khẩu dầu thô năm 2016 có thể thu về 54.500 tỷ đồng. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng, giá xăng dầu hiện nay chỉ còn ở mức 35-36 USD một thùng, nên kịch bản có thể phải tính tới việc giá dầu năm 2016 xuống tới mức 30 USD.

Trong các khoản dự chi ngân sách năm tới, chi đầu tư phát triển vẫn chiếm tỷ trọng lớn với 254.950 tỷ đồng. Chi thường xuyên dự đạt 824.000 tỷ đồng. Riêng với chi trả nợ, viện trợ, mức dự toán là 155.100 tỷ đồng, trong đó đảm bảo trả đủ nợ gốc và lãi vay nước ngoài đến hạn. Còn với nợ nội địa, mức chi chỉ ưu tiên trả hết lãi và một phần nợ gốc, nhằm giảm mức vay đảo nợ.

Theo tính toán, quy mô thu ngân sách giai đoạn 2011-2015 bằng gần 2 lần giai đoạn 2006-2010 và bằng hơn 5 lần giai đoạn 2001-2005. Tỷ lệ huy động từ thuế, phí vào ngân sách bình quân khoảng 21% GDP, khá sát với Nghị quyết Quốc hội (không quá 22-23%GDP). Trong khi đó, tổng chi ngân sách 5 năm 2011-2015 ước xấp xỉ mục tiêu đã đặt ra, riêng năm 2015, mức chi tăng gần gấp đôi so với năm 2010 (tăng 70%).

Bộ Tài chính đánh giá, việc cắt giảm nhanh chính sách thu, cùng tăng chi lớn, nhiệm vụ cân đối ngân sách sẽ ngày càng khó khăn. Bội chi ngân sách được dự báo sẽ phải duy trì ở mức cao, trong khi dư nợ công tăng nhanh, đòi hỏi có giải pháp phù hợp để giảm dần trong giai đoạn tới.

Bộ Tài chính “chốt” nợ công năm 2015 ở 61,3% GDP

Phương Dung (Dân Trí) – Bộ Tài chính cho biết, dự kiến nợ công đến hết năm 2015 khoảng 61,3% GDP, tăng so với con số 59,5% GDP vào năm 2014.

Báo cáo tại hội nghị tổng kết ngành tài chính diễn ra chiều ngày 30/12, Bộ Tài chính cho biết, dự kiến nợ công đến hết năm 2015 khoảng 61,3% GDP, tăng so với con số 59,5% GDP vào năm 2014.

Theo Bộ Tài chính, các chỉ tiêu khác như nợ Chính phủ khoảng 48,9% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 41,5% GDP. Năm 2015 được ngành tài chính đánh giá là đã đảm bảo các chỉ tiêu nợ trong giới hạn cho phép, không tác động lớn tới kinh tế vĩ mô.

Về cân đối ngân sách, bội chi ngân sách năm 2015 ở mức 226 nghìn tỷ đồng, tương đương 5% GDP, trong phạm vi Quốc hội quyết định. Đáng lưu ý, mặc dù giá dầu thô giảm mạnh khiến thu ngân sách từ dầu thô chỉ đạt 73,1% dự toán nhưng thu ngân sách cả năm vẫn vượt dự toán 5% nhờ tăng thu nội địa.

Quay trở lại với con số nợ công, mặc dù vẫn trong giới hạn cho phép (dưới 65% GDP), tuy nhiên trong thời gian qua, nhiều tổ chức trong và ngoài nước đánh giá, áp lực nợ đã bắt đầu đè nặng lên nợ công Chính phủ.

Một báo cáo được công bố tại Diễn đàn Đối tác Phát triển Việt Nam mới công bố hồi đầu tháng 12 cho thấy, nếu như các nền kinh tế thu nhập thấp thường có tỷ lệ nợ công giảm thì tại Việt Nam xu hướng này lại ngược lại. Nợ công và các khoản nợ do nhà nước đảm bảo gần như tăng gấp đôi kể từ năm 2000 và cao hơn mức trung bình trong khu vực và giữa các nền kinh tế có thu nhập thấp.

Việc tăng nợ công là kết quả của một nền tài chính lỏng lẻo, phản ánh thâm hụt ngân sách lớn và gần đây là khoảng trống về ngân sách. Tăng nợ công kéo theo chi thường xuyên cao hơn cùng thời kỳ trong khi nguồn vốn chi đầu tư vẫn hầu như không thay đổi, tính theo tỷ lệ GDP.

Một báo cáo của IMF đánh giá, kinh nghiệm các quốc gia cho thấy, nợ công của Việt Nam đang nhanh chóng đến mức độ không an toàn (mức an toàn nên trong khoảng 40-50% GDP).

Theo báo cáo chuyên đề nợ công do Công ty chứng khoán Bảo Việt công bố cũng cho hay, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam có xu hướng tăng liên tục với tốc độ khá nhanh, từ mức 51,7% năm 2010 lên mức 59,6% năm 2014 và ước tính sẽ đạt mức 64,3% trong năm 2017 (áp sát mức trần 65% mà Quốc hội cho phép).

Cũng theo nhận xét của BVSC, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam đang ở mức cao hơn khá nhiều so với một số nước khác, có điều kiện phát triển tương đồng trong khu vực. Điểm đáng chú ý là kể từ năm 2006, trong khi tỷ lệ này có xu hướng giảm dần hoặc khá ổn định tại các nước khác thì ở Việt Nam lại tăng khá rõ nét, điển hình giai đoạn từ năm 2009 cho đến nay, và khoảng cách đang dần nới rộng.

Trong văn bản trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội hôm 24/12, Thủ tướng Chính phủ cho biết, cùng với việc nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản vay của Chính phủ, Chính phủ sẽ giảm dần hạn mức cấp bảo lãnh Chính phủ, rà soát, loại bỏ các dự án không hiệu quả.

Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ các khoản bảo lãnh Chính phủ, các khoản nợ của chính quyền địa phương, nợ xây dựng cơ bản của các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương; quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản vay về cho vay lại, để giảm thiểu phát sinh các nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ…

Thoái vốn ngoài ngành: Tồn hơn 15.000 tỷ đồng
ở các lĩnh vực nhạy cảm

Xuân Dũng (TTXVN) – Kế hoạch thoái vốn ngoài ngành vẫn chậm so với kế hoạch đề ra khi cả năm 2015, các đơn vị mới thoái được gần 5.000 tỷ đồng trên tổng số hơn 20.000 tỷ đồng cần thoái.


Vốn ngoài ngành vẫn đọng lại trong các lĩnh vực nhạy cảm trong đó có bất động sản. (Nguồn: TTXVN)

Đây là số liệu vừa được lãnh đạo Bộ Tài chính công bố trong buổi họp tổng kết năm 2015 diễn ra vào chiều 30/12.

Cụ thể, các đơn vị cả nước hiện mới thực hiện thoái vốn khỏi 5 lĩnh vực nhạy cảm (chứng khoán, ngân hàng tài chính, bảo hiểm, bất động sản và quỹ đầu tư) là hơn 4.975 tỷ đồng. Như vậy, theo tính toán của ngành tài chính, số vốn đầu tư vào 5 lĩnh vực trên cần phải thoái tiếp là hơn 15.000 tỷ đồng.

Thừa nhận tiến độ trên còn chậm so với kế hoạch đề ra, lãnh đạo ngành tài chính cho rằng, một phần nguyên nhân do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và những khó khăn của kinh tế trong nước, ảnh hưởng đến thị trường tài chính, thị trường chứng khoán làm cho nhu cầu sụt giảm.

Điều này khiến kế hoạch bán cổ phần ra công chúng của các doanh nghiệp cổ phần hóa không đạt được kế hoạch đề ra, tỷ lệ bán thành công thấp, nhiều doanh nghiệp sau IPO vẫn còn số lượng vốn Nhà nước lớn.

“Trong khi đó doanh nghiệp phải thoái một lượng vốn lớn trong khoảng thời gian nhất định vì vậy ảnh hưởng đến tiến độ thoái vốn của doanh nghiệp,” đánh giá của Bộ Tài chính nêu thêm.

Về tiến độ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, tính tới hết tháng 11, số lượng doanh nghiệp đã cổ phần hóa là 173 đơn vị trên tổng số 289 đơn vị chưa cổ phần hóa trong năm 2015.

Tính chung trong giai đoạn từ năm 2011 tới năm 2015, số doanh nghiệp đã thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa là 422 đơn vị, đạt khoảng 78% kế hoạch.

Theo đánh giá của lãnh đạo Bộ Tài chính, nguyên nhân tiến độ chậm như trên một phần do nhận thức của một bộ phận cán bộ ở các cấp, các ngành và các doanh nghiệp chưa hiểu đúng ý nghĩa quan trọng của việc tái cơ cấu doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế, xã hội. Điều này khiến tại nhiều nơi, lãnh đạo chưa thật sự quan tâm, tập trung triển khai.

Đánh giá thêm về quá trình cổ phần hóa, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh cho rằng, nhiều doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng tỷ lệ vốn Nhà nước nắm giữ vẫn cao và chưa thoái tới mức đã được phê duyệt.

Đây là vấn đề theo Phó Thủ tướng cần tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới để nâng cao quản trị của doanh nghiệp Nhà nước.

Ngoài ra, với thoái vốn ngoài ngành, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cũng yêu cầu các đơn vị tiếp tục triển khai một cách “trật tự.”/.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s