Việt Nam đạt 18 trên thang 100 điểm về minh bạch ngân sách

Posted: January 14, 2016 in Uncategorized
Tags:

Xuân Dũng (TTXVN) – Việt Nam chỉ đạt 18 trên thang điểm 100 về mức độ minh bạch ngân sách, thấp hơn khá nhiều so với mức trung bình khoảng 45 điểm ở hơn 100 quốc gia khác.

� Xem thêm: Tin liên quan + Cải cách thể chế đang gặp… khó.


Ảnh minh họa. (Nguồn: PV/Vietnam+)

Báo cáo chậm, thiếu

Đây là kết quả khảo sát “mức độ công khai ngân sách” đưa ra cho kỳ ngân sách năm 2015 được Tổ chức Hợp tác Ngân sách Quốc tế (IBP) thực hiện trong 18 tháng (tháng 3/2014 đến tháng 9/2015) tại 102 quốc gia trong đó có Việt Nam. Kết quả vừa được phía IBP công bố sáng 14/1.

Nói cụ thể hơn về kết quả trên, ông Joel Friedman, Nghiên cứu viên cao cấp của IBP cho hay, có 3 trụ cột cơ quan khảo sát đặt ra: mức độ minh bạch, sự tham gia của công chúng và sự giám sát của cơ quan lập pháp trong đó “minh bạch” là yếu tố đầu tiên.

Tuy nhiên, theo ông, “minh bạch” cũng là trụ cột phía Việt Nam được chấm điểm thấp nhất, chỉ 18/100 điểm. Với số điểm này, Việt Nam hiện thuộc nhóm thứ 5, tức là nhóm yếu nhất với đánh giá là “ít” hoặc “không” công khai thông tin ngân sách.

Cụ thể, một trong các yếu tố cơ quan khảo sát tính tới là việc công khai các tài liệu ngân sách. Về mặt này, Việt Nam hiện đã công khai một số tài liệu theo IBP là chủ chốt như: định hướng xây dựng ngân sách, dự toán, báo cáo quý, báo cáo cuối năm.

Tuy nhiên, ông Joel Friedman thẳng thắn, một số tiêu chí đã đánh tụt điểm của Việt Nam là dự thảo dự toán ngân sách, báo cáo giữa kỳ và báo cáo kiểm toán.


Báo cáo kiểm toán và Báo cáo giữa kỳ của Việt Nam
bị đánh giá là Không có/Công bố muộn. (Nguồn: IBP)

Theo ông, nếu như dự thảo dự toán ngân sách mới đây đã được phía Việt Nam đưa vào luật thì việc công bố báo cáo kiểm toán vẫn chưa được cải thiện. Những báo cáo kiểm toán được cơ quan khảo sát chấm ở mức chậm và muộn hơi nhiều so với quốc tế.

Ngoài ra, với báo cáo giữa kỳ, ông Joel Friedman cho rằng, phía Việt Nam hiện đã có công khai nhưng tài liệu này không bao gồm các thông tin định lượng về dự báo kinh tế vĩ mô, ước tính về tài khóa 6 tháng còn lại,…

Bởi vậy, báo cáo 6 tháng theo ông phải đầy đủ và chi tiết hơn nhiều so với báo cáo tháng và quý. Tuy nhiên, đây là vấn đề theo ông phía Việt Nam chưa cải thiện trong năm qua.

Nhiều tiềm năng cải thiện?

Nói về 2 trụ cột khác của khảo sát, bà Dương Thị Việt Anh, Giám đốc điều hành Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI), cơ quan phối hợp khảo sát cùng IBP tại Việt Nam, cho hay, sự tham gia của công chúng và giám sát ngân sách vào quy trình ngân sách là yếu tố để tối đa hóa các kết quả.

Theo bà, vấn đề được phía cơ quan khảo sát quan tâm là người dân có được phép tham gia vào việc xây dựng dự toán ngân sách hay kiểm toán ngân sách hay không. Ngoài ra, quá trình kiểm toán ngân sách hiện có sử dụng chuyên gia, tổ chức xã hội hay không cũng là một trong những câu hỏi đặt ra,…

Về lĩnh vực khảo sát này, đánh giá của cơ quan khảo sát được chấm 42/100 điểm và ở mức độ hạn chế.

Tuy nhiên, so sánh kết quả này với các nước, báo cáo cho thấy, Việt Nam hiện xếp cao hơn mức trung bình 25 điểm của thế giới và tốt hơn nhiều các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc,…

Với trụ cột thứ 3, việc giám sát ngân sách của cơ quan lập pháp được báo cáo đánh giá “đầy đủ” trong lập kế hoạch và “hạn chế” trong khâu thực thi.

Theo giải thích, mặc dù cơ quan lập pháp có Ủy ban Tài chính và Ngân sách với chức năng phân tích ngân sách nhưng bộ phận nghiên cứu chuyên biệt thì hiện Việt Nam vẫn chưa có.

Chưa đánh giá về những mức điểm trên, ông Nguyễn Minh Tân, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính ngân sách, Ủy ban Kinh tế-Ngân sách Quốc hội thừa nhận, việc công khai, minh bạch ngân sách chưa được đề cập nhiều trong luật khoảng 10-20 năm trước.

Tuy nhiên, theo ông, Luật ngân sách Nhà nước 2015 hiện đã có 2 chương nói riêng về việc công khai và giám sát cộng đồng với ngân sách trong đó có đề cao vai trò của mặt trận tổ quốc.

Khẳng định luật hiện đã có bước tiến dài, ông Tân cho hay, sắp tới, Chính phủ sẽ có thêm những hướng dẫn cụ thể về đối tượng công khai ngân sách (sẽ bao gồm cả các quỹ, dự án,..) và mở rộng phạm vi công khai.

Ngoài ra, để đảm bảo việc thực thi, ông Tân cho biết, thời gian công khai với các văn bản liên quan tới ngân sách cũng sẽ được đề ra chi tiết trong đó bao gồm cả các báo cáo hàng quý, hàng tháng.

Đây cũng là những vấn đề được ông Joel Friedman, Nghiên cứu viên cao cấp của IBP, cho rằng, Việt Nam có nhiều tiềm năng cải thiện mức độ công khai.

“Với Việt Nam, mục tiêu cần xác định để đạt được chỉ số công khai trên 60 điểm, như vậy, việc công khai mới thực sự hiệu quả,” đại diện cơ quan khảo sát đánh giá.

Khảo sát về công khai ngân sách là sáng kiến do IBP phối hợp với các tổ chức xã hội độc lập tại hơn 100 quốc gia trên thế giới thực hiện.

Tại Việt Nam, IBP phối hợp với Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI) để thực hiện thu thập, phân tích. Kể từ năm 2006 tới nay, khảo sát đã được thực hiện 2 năm 1 lần. Khảo sát gồm 140 câu hỏi phân tích về 3 trụ cột chính là: mức độ minh bạch, sự tham gia của công chúng và giám sát ngân sách.

[:-/] Chỉ số công khai ngân sách của Việt Nam rất kém (Tư Giang TBKTSG) 14/1/2016 – Chỉ số công khai ngân sách của Việt Nam năm 2015 chỉ đạt 18/100 điểm, thấp hơn rất nhiều so với điểm trung bình toàn cầu là 45 điểm.

Đây là chỉ số được đưa ra tại hội thảo “Công bố Chỉ số công khai ngân sách (OBI) 2015 và chia sẻ kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam về thúc đẩy công khai minh bạch ngân sách” tổ chức ngày 14-1 tại Hà Nội. Theo đó, chỉ số này của Việt Nam năm 2006 là 3/100 điểm; năm 2012 là 19/100 điểm. Hội thảo do Liên minh Minh bạch ngân sách (BTAP) và Tổ chức Hợp tác Ngân sách Quốc tế (IBP) đồng tổ chức.

Với mức trung bình của toàn cầu năm 2015 là 45 điểm, Việt Nam do vậy vẫn đang bị xếp vào nhóm thứ 5 là nhóm yếu nhất, gồm 17 nước được coi là ít hoặc không công khai thông tin ngân sách, theo báo cáo trên.

Trong cùng nhóm này, Việt Nam xếp trên Trung Quốc, Myanmar, Campuchia. Tuy nhiên, thứ hạng của Việt Nam vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với một số nước trong khu vực như Indonesia (59 điểm), Malaysia (46), Thái Lan (42). Đặc biệt Philippines hiện ở nhóm thứ 2 – nhóm các nước có mức công khai ngân sách đáng kể (62 điểm).

[:-/] Bí ẩn ngân sách (Tư Giang TBKTSG) 21/9/2015 – Chỉ số công khai ngân sách mở của Việt Nam năm 2015 chỉ là 18 điểm trên thang điểm 100, thấp hơn khá nhiều so với mức trung bình toàn cầu là 45 điểm, theo khảo sát của tổ chức Đối tác Ngân sách quốc tế công bố ngày 9-9-2015. Chỉ số này thậm chí thấp hơn một điểm so với xếp hạng năm 2014.

jpg Mức độ thiếu công khai, minh bạch về ngân sách, như xếp hạng trên, không gây ngạc nhiên với nhiều người, trong đó có Trưởng đại diện Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam (JICA), ông Mori Mutsuya. Trong nỗ lực tìm kiếm thông tin về ngân sách để phục vụ cho nghiên cứu gần đây về nợ công, nợ trong nước, nợ nước ngoài của Việt Nam mà JICA quan tâm, ông đã không khỏi thất vọng. Các số liệu ngân sách nhà nước mà Bộ Tài chính thường công khai trên cổng thông tin điện tử, ông nhận xét, không thể hiện được gì nhiều.

Khi minh bạch không được đảm bảo, nghĩa vụ giải trình bị phớt lờ, và trách nhiệm vẫn là của tập thể, thì sẽ không thể dừng được xu hướng đáng báo động hiện nay của NSNN.

Hệ lụy của sự thiếu công khai, minh bạch là rõ ràng, và đáng báo động. Một báo cáo về phân cấp tài khóa của Ngân hàng Thế giới phát hiện, các kế hoạch chi tiêu của địa phương thiếu độ tin cậy qua so sánh với số thực hiện. Đặc biệt, chi đầu tư xây dựng cơ bản – thường chênh lệch tới 50% so với dự toán, vượt xa so với hướng dẫn về thông lệ tốt là duy trì chênh lệch chi tiêu ở mức không quá 5% dự toán. Bình quân các tỉnh miền núi phía Bắc chi cao hơn dự toán đến 42%, các tỉnh ở Tây Nguyên chi cao hơn 35%. Còn tại khu vực Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long, mức chi bình quân cao hơn lần lượt là 7% và 9%. Ngân hàng Thế giới lý giải tình trạng này là do cơ quan hành pháp được phép linh hoạt thay đổi dự toán, không cần cơ quan lập pháp phê duyệt.

Giải thích này phù hợp với thực tế gần đây nhất, khi bội chi ngân sách nhà nước năm 2013 vọt lên 6,6% GDP, từ mức 5,3% GDP được phê duyệt trước đó và điều đó đã được Quốc hội dễ dàng thông qua.

[:-/] Ngân sách là tiền dân, phải công khai với dân (VNN 24/11/2014) – Ngân sách là tiền của dân, thì đương nhiên phải công khai với người chủ của nó, từ bước dự toán đến quyết toán. Ngoài ra, dân phải có quyền góp ý, theo dõi thực hiện, kiểm tra từng bước trong quy trình ngân sách.

Trước hết, hãy xem chúng ta đang ở đâu so với thế giới. Có một số chuẩn mực về công khai ngân sách, ví dụ như Chỉ số Công khai Ngân sách (OBI), Quy tắc về Minh bạch tài khóa của IMF. Theo OBI, VN được 19/100 điểm, thấp hơn so với điểm trung bình của các nước trên thế giới 43 điểm, và cũng thấp hơn hẳn các nước trong khu vực (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Đông Timo).

Cải cách thể chế đang gặp… khó

Tư Hoàng (TBKTSG) – Nhà kinh tế học Douglass North định nghĩa, thể chế là những luật lệ của cuộc chơi (rules of the game) trong một xã hội. Hệ thống thể chế bao gồm ba thành tố chính là thể chế chính thức (luật pháp), thể chế phi chính thức (tục lệ), và các chế tài. Căn cứ vào định nghĩa phổ quát này, thì những nghi ngại trên rõ ràng là sự hiểu sai tai hại.

jpgĐịnh nghĩa trên có phạm vi rất rộng, vì thế, trong khuôn khổ bài viết này chỉ đề cập một phần đến khía cạnh kinh tế – thể chế kinh tế và thay đổi thể chế kinh tế – đang có nhiều điểm nóng cần quan tâm.

Từ bài toán “nội trị” của Nhà nước

Rốt cuộc, thì Chính phủ cũng báo cáo trước Quốc hội là đã yêu cầu các chính quyền địa phương dừng cuộc đua xây trụ sở có quy mô hàng ngàn tỉ đồng. Cuộc đua này được khởi động từ mấy năm nay, bắt đầu từ Bình Dương, trải dài qua các tỉnh miền Trung, lên đến các tỉnh phía Bắc, và gần đây nhất đã lan đến Hải Phòng. Trong bối cảnh ngân sách đang rất khó khăn, chi cho đầu tư phát triển ngày càng teo tóp, thì rõ ràng không thể chấp nhận “phong trào” này. Thật khó lý giải, vì sao đã có Chỉ thị 1792 của Thủ tướng, rồi Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách Nhà nước sửa đổi sắp có hiệu lực, và đặc biệt là chương trình tái cơ cấu đầu tư công mà người ta vẫn có thể triển khai xây dựng các tòa nhà công vụ như vậy?

Nhưng phong trào này chỉ là câu chuyện nối dài của tình trạng đầu tư tràn lan các khu kinh tế, khu công nghiệp, sân bay, bến cảng lâu nay. Một báo cáo của Kiểm toán Nhà nước cho thấy tính đến hết năm 2011, nợ đọng xây dựng cơ bản đã đạt hơn 91.273 tỉ đồng. Không rõ, con số này đến nay được giải quyết như thế nào, nhất là khi Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh trả lời trước cuộc họp tổ ở Quốc hội gần đây rằng, tình trạng này chỉ có thể giải quyết xong sau năm năm nữa.

Một ví dụ khác gần đây. Ngân sách được cấp cho 13 sở khoa học và công nghệ của 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, và cả 13 tỉnh này đều nghiên cứu nuôi trồng thủy sản và tạo ra 13 kết quả nghiên cứu giống nhau. Tình trạng này là không hiếm cả ở cấp bộ.

Không chỉ cài cắm các điều kiện kinh doanh khi ban hành các văn bản hướng dẫn luật, tình trạng không ban hành các văn bản hướng dẫn luật, dẫn đến vô hiệu hóa luật đang diễn ra.

Một báo cáo gần đây của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (thực hiện cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo chỉ đạo của Chính phủ) đề cập đến một khảo sát tại Bộ Tài chính giai đoạn 2006-2014. Theo đó, xấp xỉ 1.800 đơn vị dự toán thuộc bộ này được sử dụng ngân sách nhưng tỷ lệ các đơn vị được thực hiện kiểm toán nội bộ hàng năm chưa đến 5%. Tỷ lệ các đơn vị này được giám sát bởi các cơ quan bên ngoài như Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Bộ Tài chính từ năm 2010 đến nay luôn dưới 4%. Sự kiểm tra, giám sát trong bộ máy nhà nước là rất thấp!

Những câu chuyện điểm sơ qua ở trên cho thấy, thể chế điều chỉnh quan hệ nội bộ giữa các cơ quan nhà nước hầu như chưa được đụng đến. Các quá trình ra quyết định của các cơ quan nhà nước vẫn đang phân tán. Khi các quyết định đó tạo ra những hậu quả cho nền kinh tế thì không ai chịu trách nhiệm về chúng. Hơn nữa, sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước là rất kém hiệu quả, làm cho quá trình ra quyết định rất chậm trễ và chồng chéo nhau. Việc phân cấp, phân quyền thiếu sự giám sát hiệu quả và sự điều phối chung dẫn đến hiện tượng đầu tư tràn lan và trùng lắp, không tận dụng được những kết quả của nhau.

Rõ ràng, hệ thống pháp luật – hay thể chế – trong lĩnh vực này là có, và gần như đầy đủ. Vấn đề là hệ thống giám sát và kiểm tra chéo lẫn nhau chưa rõ ràng nên tình trạng này vẫn chưa được khắc phục. Nhìn rộng ra, vai trò và chức năng của Nhà nước vẫn nặng về đầu tư, kinh doanh chứ chưa chú trọng đến kiến tạo phát triển đã góp phần vào tình trạng này.

Môi trường đầu tư, luật bảo nghị định không nghe

Sau khi có Hiến pháp sửa đổi năm 2013, hàng loạt các luật và bộ luật được sửa đổi, bổ sung như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Việc làm, Luật Phá sản… nhằm bảo vệ tối đa lợi ích chính đáng, đặc biệt là quyền kinh doanh của người dân.

Đây rõ ràng là nỗ lực rất lớn của Chính phủ trong việc thay đổi thể chế để cải thiện môi trường kinh doanh. Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán, ít nhất 3.299 điều kiện kinh doanh được quy định tại 170 thông tư, quyết định của các bộ đương nhiên phải bãi bỏ và hết hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2015 khi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới đi vào hiệu lực. Song, đây chỉ là tính toán trên giấy vì trong khi nhiều điều kiện trong số này chưa thực sự được gỡ bỏ bởi nhiều bộ, ngành, thì hàng loạt điều kiện khác lại mọc lên.

Chẳng hạn, Nghị định 73 thay thế Nghị định 06 áp dụng cho các dự án đầu tư nước ngoài và hợp tác trong giáo dục và đào tạo ở Việt Nam yêu cầu tới ba loại giấy phép là: giấy phép đầu tư, giấy phép thành lập và giấy phép hoạt động. Hơn nữa, có rất nhiều thủ tục, giấy tờ lặp đi lặp lại qua các bước và yêu cầu nhiều đánh giá của nhiều cục, vụ liên quan.

Chính phủ cũng đã liên tục ban hành hai Nghị quyết 19 trong hai năm qua nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tháo bỏ rào cản kinh doanh, với hy vọng sẽ đuổi kịp nhóm nước ASEAN 4 trong báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới.

Thế nhưng, thật đáng ngạc nhiên khi Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư 37 (liên quan đến việc kiểm tra hàm lượng formaldehyt và amin thơm trong sản phẩm dệt may) để thay thế Thông tư 32 vốn bị doanh nghiệp kêu ca suốt trong sáu năm qua, nhưng nhiều hiệp hội doanh nghiệp cho rằng nhiều quy định của Thông tư 37 còn kém thuận lợi hơn Thông tư 32.

Vô hiệu hóa luật – vô hiệu ý chí cải cách

Không chỉ cài cắm các điều kiện kinh doanh khi ban hành các văn bản hướng dẫn luật, tình trạng không ban hành các văn bản hướng dẫn luật, dẫn đến vô hiệu hóa luật đang diễn ra. Một báo cáo mới đây trong khuôn khổ Dự án Quản trị nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện (GIG) mang tên “Đánh giá thực trạng – tác động của việc ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh” cho thấy điều này. Báo cáo cho biết, năm 2012, không có văn bản quy định chi tiết nào được ban hành có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, trong khi cần có tới 22 văn bản như vậy. Năm 2013 chỉ có 6/194 văn bản có hiệu lực cùng thời điểm với luật, pháp lệnh (đạt 3,09%). Năm 2014 có 7/108 văn bản có hiệu lực cùng thời điểm (6,48%). Năm 2015 có 14/156 văn bản được ban hành kịp thời (đạt 8,97%). Tỷ lệ trung bình chỉ 5,47%.

Muốn thúc đẩy cải cách thể chế, phải đưa các luật vừa được sửa đổi theo hướng tiến bộ vào thực thi. Cùng với đó là nâng cao chất lượng làm luật, khắc phục tình trạng văn bản pháp luật tự vô hiệu do không phù hợp với điều kiện và cuộc sống thực tế của đa số nhân dân, hoặc chi phí thực thi lớn hơn lợi ích mang lại, hoặc gây tổn hại lợi ích chính đáng của người dân. Bên cạnh đó, phải triển khai cơ chế theo dõi thi hành pháp luật, trong đó phải xác định được quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu.

Hệ thống pháp trị phải được tăng cường

Theo một nghiên cứu về nền kinh tế thị trường Việt Nam của một nhóm học giả do chuyên gia kinh tế Nguyễn Đức Thành và Đinh Tuấn Minh dẫn đầu, hệ thống pháp trị của nước ta được xếp hạng ở mức thấp, và đáng lo ngại, là có xu hướng giảm, bất chấp hội nhập. Mức độ thực thi hợp đồng, tư pháp độc lập, bảo vệ quyền tài sản và tính công minh của tòa án trong hệ thống pháp trị Việt Nam ở mức khá thấp so với các nước trong khu vực cũng như thế giới, và có dấu hiệu giảm xuống gần đây. Các vấn đề về công bằng trong pháp luật và quyền tài sản cũng có xu hướng như trên.

Nghiên cứu này trích dẫn báo cáo của Gwartney và cộng sự chỉ ra rằng, chỉ số tư pháp độc lập của Việt Nam thấp. Cơ quan tư pháp chịu ảnh hưởng nhiều từ các tổ chức chính trị, cơ quan, cá nhân và doanh nghiệp. Năm 2011, chỉ số tư pháp độc lập của Việt Nam là 3,94 điểm (trên 10), thấp hơn so với mức 4,28 của Indonesia; 4,79 của Trung Quốc; 5,02 của Thái Lan; 6,04 của Malaysia. Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2014, chỉ số này chỉ hơn được Myanmar, Campuchia và Philippines.

Về chỉ số Tòa án công minh, hệ thống luật pháp của Việt Nam chưa đủ mạnh để tạo ra môi trường pháp lý công minh, hay khu vực tư nhân có khả năng đối chất luật lệ. Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, chỉ số này của Việt Nam chỉ đứng trên Myanmar trong các nước tham chiếu trong ASEAN.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s