Lo cho nền kinh tế của các doanh nghiệp tư nhân siêu nhỏ

Posted: January 17, 2016 in Uncategorized
Tags:

Hồ Quốc Tuấn (TBKTSG) – Theo số liệu của Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc đưa ra trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 10-2015, Việt Nam có 96-97% doanh nghiệp là nhỏ và siêu nhỏ, chưa đầy 2% là doanh nghiệp lớn và gần 2% là doanh nghiệp cỡ vừa.

� Xem thêm: “Chúng ta đang thụt lùi về phẩm cấp” + Cải cách không đủ mạnh, doanh nghiệp tư nhân… ra rìa.


Nếu tính luôn cả hộ kinh doanh cá thể (khoảng 4,6 triệu hộ) thì tỷ lệ
doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tới trên 99,9% số doanh nghiệp tư nhân. Ảnh: MINH KHUÊ

Con số này tương tự như con số công bố vào năm 2014. Đây là kết quả khảo sát gần 390.000 doanh nghiệp ở Việt Nam. Số doanh nghiệp siêu nhỏ (sử dụng dưới 10 lao động) chiếm 66-67% trong số doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Nếu tính luôn cả hộ kinh doanh cá thể (khoảng 4,6 triệu hộ) thì tỷ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tới trên 99,9% số doanh nghiệp tư nhân (xem bài Tới 99,9% doanh nghiệp tư nhân là siêu nhỏ trên TBKTSG Online ngày 8-12-2014).

Các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ này gặp rất nhiều hạn chế về vốn, nhân lực chất lượng cao, khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài và khả năng tham gia vào mạng lưới doanh nghiệp phụ trợ cho các tập đoàn lớn trong và ngoài nước. Cho dù sản phẩm của các doanh nghiệp này có chất lượng tương đương các doanh nghiệp phụ trợ từ nước ngoài của những tập đoàn lớn, như Samsung, họ thiếu vốn và mối quan hệ để có khả năng chen chân vào chuỗi doanh nghiệp vệ tinh của những tập đoàn lớn.

Vì vậy, sự gia tăng vốn đầu tư nước ngoài và xuất hiện của các tập đoàn trong và ngoài nước lớn không tạo ra một hiệu ứng lan tỏa đáng kể về tăng trưởng đến các công ty nhỏ và siêu nhỏ nội địa. Những lợi ích từ hội nhập và ưu đãi của Chính phủ vì vậy nhiều khả năng sẽ tập trung vào trong tay một số dưới 1% doanh nghiệp lớn nội địa và tập đoàn nước ngoài, trong khi doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ sẽ đứng trước rủi ro rất lớn khi phòng tuyến bảo hộ hàng Việt Nam đang ngày càng bị xuyên thủng bởi các hiệp định thương mại tự do.

Tại sao chúng ta không mấy quan tâm việc một hộ kinh doanh cá thể bán nước mía của Việt Nam có thể cạnh tranh được với các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh nước ngoài hay không, mà quan tâm một doanh nghiệp hàng tiêu dùng lớn của Việt Nam nhận đầu tư cả tỉ đô la Mỹ từ một doanh nghiệp bia ngoại?

Với việc gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) (và có thể là Hiệp định TPP trong tương lai), các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ này đối mặt với rất nhiều rủi ro. Nguy cơ hàng nội bị đánh bật khỏi thị trường tiêu thụ, ở các thành phố lớn, đang lớn dần lên và dự báo vào đầu năm nay của tác giả Vũ Kim Hạnh rằng nông thôn là phòng tuyến cuối cùng của doanh nghiệp Việt có thể sẽ trở thành sự thật không lâu nữa (xem bài Giữ thị trường nội địa: Quyết định là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng… trên TBKTSG Online ngày 14-2-2015).

Trong bối cảnh đó, những sự trợ giúp của Chính phủ cho doanh nghiệp siêu nhỏ là rất hạn chế. Như tác giả Vũ Kim Hạnh nhận xét trong bài viết đề cập ở trên, Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng việc triển khai thực hiện thì hầu như là không có.

Trong khi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ không hiệu quả ở khâu thực thi, thì ngược lại, doanh nghiệp siêu nhỏ đối mặt với những khó khăn lớn do bộ máy hành chính của ta tạo ra. Chẳng hạn, tại hội thảo Cải cách thủ tục hành chính về thuế, chế độ kế toán cho các doanh nghiệp nhỏ Việt Nam tổ chức ngày 23-10-2015, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế VCCI, cho biết tuy các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đang được áp thực hiện chế độ thuế và kế toán riêng, gọn hơn so với hệ thống kế toán chung, nhưng vẫn còn khá phức tạp so với quy mô và tính chất hoạt động của loại hình doanh nghiệp siêu nhỏ.

Việt Nam đã bắt đầu hội nhập vào AEC nghĩa là những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ của các nước trong khu vực cũng đối mặt với những khó khăn về vốn tương tự như Việt Nam. Nhưng một số nước láng giềng lại hơn chúng ta trong cách đầu tư cho chất lượng nguồn nhân lực và cách đối xử với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, giúp doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ của họ có thể giữ vững được trận tuyến nội địa ở nước họ để chống chọi với tập đoàn lớn của ta, và doanh nghiệp lớn của họ dễ dàng thâm nhập và đánh bại doanh nghiệp nhỏ của chúng ta.

Nếu xem quá trình hội nhập này là một bàn cờ, thì trước khi chúng ta cho con xe qua sông, phòng tuyến của con sĩ, tượng ở nhà phải được giữ vững. Nếu không, sự thu hẹp quy mô và đóng cửa của nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ ở Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian, đồng thời những doanh nghiệp Việt quy mô vừa và lớn có thể sẽ bỏ ngỏ thị trường nội địa mà đi đánh thị trường ngoại vì làm ăn ở nước ngoài có khi còn dễ hơn làm ăn ở Việt Nam.

Khi đó, thị trường rộng lớn trong nước sẽ chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp lớn nước ngoài và một số ít tập đoàn lớn của người Việt có quan hệ, có vốn. Lợi ích của tăng trưởng kinh tế khả quan 6-7% mà chúng ta dự báo cho giai đoạn sắp tới có lẽ sẽ không được người dân bình thường cảm nhận được, vì nó chỉ làm giàu cho một số ít ông chủ người Việt và nước ngoài. Ngược lại, người ta cảm thấy những hộ kinh doanh cá thể xung quanh mình đang ngày một khó khăn hơn.

Khi cảm thấy làm ăn khó khăn mà chỉ một ít người giàu lên kéo theo giá bất động sản, giá cổ phiếu tăng, thì không lạ gì khi người dân không muốn mở công ty sản xuất, làm ăn nữa, mà sẽ tìm cách kiếm tiền nóng qua nhà đất và cổ phiếu. Khi đó đừng trách tại sao người trẻ Việt Nam muốn kiếm tiền nóng, tham gia showbiz, thay vì nghĩ đến mở công ty, vì họ thấy có ít những ví dụ thành công bằng cách chăm chỉ làm ăn một cách vững chắc xung quanh họ.

Nếu 99,9% doanh nghiệp của Việt Nam là doanh nghiệp siêu nhỏ thì thiết nghĩ chính sách hỗ trợ của Chính phủ phải quan tâm tới họ nhiều hơn, về cả chủ trương và sự thực thi. Nhưng chính vì quy mô siêu nhỏ của mình, những doanh nghiệp này đang bị “ngó lơ”. Điều này giống như một loại “định mệnh” của những doanh nghiệp siêu nhỏ. Chính vì quy mô họ nhỏ quá nên tiếng nói của họ ít được nghe thấy trên các phương tiện truyền thông và do đó ít thu hút sự quan tâm của công chúng và cơ quan chính phủ.

Tại sao chúng ta không mấy quan tâm việc một hộ kinh doanh cá thể bán nước mía của Việt Nam có thể cạnh tranh được với các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh nước ngoài hay không, mà quan tâm một doanh nghiệp hàng tiêu dùng lớn của Việt Nam nhận đầu tư cả tỉ đô la Mỹ từ một doanh nghiệp bia ngoại? Cơ quan chính phủ chắc cũng ít quan tâm đến lời than phiền về thủ tục thuế của một doanh nghiệp siêu nhỏ nhưng phải để ý đến than phiền trên mặt báo của một tập đoàn lớn về chuyện thuế của họ. Nói cho cùng, sự biến mất của một quán mì nhỏ đã tồn tại 20 năm của người Việt cũng không thu hút bằng việc một doanh nghiệp lớn của Việt Nam phải bán thương hiệu phở cho nước ngoài. Những thứ như vậy đang dần diễn ra như những điều bình thường trong xã hội. Sự dửng dưng, chấp nhận những điều đó như là chuyện bình thường thật là đáng lo.

Hồ Quốc Tuấn – Giảng viên Đại học Bristol, Anh.

“Chúng ta đang thụt lùi về phẩm cấp”

Tư Giang (TBKTSG) – Tỷ trọng của khu vực tư nhân trong nền kinh tế vẫn “y chang” trong 10 năm nay, và họ đang còn phải đối mặt với hàng loạt rủi ro khi hội nhập. Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trao đổi với TBKTSG.


Ông Vũ Tiến Lộc.

TBKTSG: Thưa ông, nói ngắn gọn về khu vực kinh tế tư nhân mà ông vẫn luôn trăn trở, ông có thể nói gì?

– Ông Vũ Tiến Lộc: Tỷ trọng của khu vực tư nhân trong nền kinh tế vẫn y chang trong 10 năm nay. Trong khi khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) lùi xuống, thì khoảng lùi đó được chiếm lĩnh, lấp đầy bởi khu vực FDI, chứ không phải khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước. Khu vực FDI đã tận dụng cơ hội tốt để phát triển, còn doanh nghiệp tư nhân lại chưa.

Thực ra, trong suốt thập kỷ qua, doanh nghiệp tư nhân chững lại so với sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, chứ không phải so với chính nó. Đến nay, khu vực FDI đã chiếm tới 70% xuất khẩu, và đóng góp tới 20% GDP. Như nhiều chuyên gia nhận xét, trong bốn động lực của tăng trưởng là hộ gia đình và nông nghiệp, doanh nghiệp tư nhân, DNNN và doanh nghiệp FDI, thì chỉ có khu vực FDI hoạt động tốt. Đặc biệt, gần đây khi chúng ta ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) thì dòng FDI sôi sục lên, nhiều đoàn vào liên tục. Trong khi đó, chúng ta vẫn lặng như tờ và làm kiểu “du kích” chứ chưa tập hợp làm theo ngành hàng, theo chuỗi liên kết.

TBKTSG: Vì sao ông lại cho rằng doanh nghiệp tư nhân trong nước “cô đơn”?

– Chính phủ ngập ngừng trong cơ chế, doanh nghiệp ngập ngừng trong làm ăn. Khi doanh nghiệp cô đơn trong nền kinh tế thì sẽ không trở thành động lực được.

Nhà nước cần tạo chính sách phát triển tốt nhất cho danh nghiệp Việt Nam, chứ không phân biệt doanh nghiệp tư nhân, hay DNNN, hay FDI nữa. Phải đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử. Đối với nhà làm chính sách chỉ có một tư duy duy nhất, đó là doanh nghiệp Việt Nam.

Thừa nhận kinh tế tư nhân là động lực sẽ là thông điệp thúc đẩy toàn dân làm kinh tế. Làm kinh tế phải là sự nghiệp của toàn dân.

TBKTSG: Thưa ông, ở những ngành nghề như dệt may, giày dép hay nông sản, nơi các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đang có thế mạnh, ông có băn khoăn gì không, nhất là khi hội nhập đã đến rồi?

– Tôi nghĩ, với công nghiệp dệt may, giày dép thì không đáng lo. Nếu thiếu hụt nguyên liệu, các doanh nghiệp FDI, và cả doanh nghiệp Việt Nam sẽ đầu tư để đảm bảo nguyên tắc xuất xứ từ sợi trở đi, và chắc chắn sản phẩm các ngành này tiếp tục thâm nhập mạnh vào EU và Mỹ. Các doanh nghiệp trong nước cũng đã xây dựng được chuỗi sản xuất, hiện đại hóa quy trình. Thách thức hiện nay của dệt may, da giày là phát triển lên nấc trên của chuỗi giá trị.

Nhưng tôi đặc biệt lo lắng cho nông nghiệp, ngành mà chúng ta cứ tưởng là điểm mạnh nhất.

TBKTSG: Vì sao?

– Nông nghiệp là đại vấn đề. Nông sản được sản xuất bởi các hộ gia đình thì không thể nào sản xuất với giá thành thấp để cạnh tranh được, không cách nào triển khai công nghệ hiện đại được. Nông sản chúng ta không có thương hiệu, và điều đáng lo ngại nhất là vệ sinh an toàn thực phẩm.

Chúng ta coi gạo là niềm tự hào của Việt Nam, nhưng hơn 20 năm xuất khẩu gạo mà chúng ta không có thương hiệu, không chiếm lĩnh được phân khúc cao của thị trường. Giá và chất lượng vẫn luôn ở phân khúc giá rẻ. Chúng ta có nhà buôn gạo chứ chưa có doanh nghiệp sản xuất gạo.

Về cá ba sa và tôm, trước đây chúng ta tự hào khi chiếm lĩnh được thị trường khó tính như EU và Mỹ. Nhưng hiện giờ cá ba sa và tôm đang mất uy tín trên hai thị trường này vì không kiểm soát được chất lượng. Giờ cá, tôm Việt Nam đang phải đưa sang các thị trường khác như Trung Quốc, châu Phi, là những thị trường dễ tính và có giá trị thấp hơn. Tức là chúng ta đang thụt lùi cả về phẩm cấp, chất lượng, và uy tín.

TBKTSG: Ông có nhiều chuyện để kể chứ?

– Ông Hạnh Nguyễn muốn đưa hàng thủy sản Made in Vietnam sang các nước. Lô đầu ổn, bán được nhiều và ông ấy rất vui. Nhưng ngay sau đó, những lô hàng tiếp theo không đảm bảo chất lượng.

Singapore có quan hệ tốt với Việt Nam, và không có thuế nhập khẩu, nhưng hoa quả Việt Nam chưa bao giờ vào được đây. Với Hồng Kông cũng vậy. Hoa quả chúng ta không vượt qua được hàng rào kỹ thuật. Khi vượt qua được yêu cầu về chất lượng thì lại không thể cạnh tranh được về giá.

Trong khi đó người Thái làm được. Campuchia cũng âm thầm lặng lẽ làm từ giống, phân phối, đến bán lẻ nhiều năm nay, và bắt đầu thành công. Vấn đề là do tổ chức sản xuất thôi.

Chính phủ đang tạo đột phá về thể chế, doanh nghiệp cũng phải nâng cấp mình lên để trở thành các đối tác tin cậy trên thế giới. Các FTA chỉ giúp dỡ bỏ thuế, còn hàng rào kỹ thuật vẫn còn nguyên, thậm chí còn cao hơn. Doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng, và rất khó khăn với hàng rào này. Thoát khỏi tư duy làm ăn tiểu nông thì chúng ta mới có thể biến nông sản trở thành lợi thế được.

TBKTSG: Điểm nghẽn nhất này cần được tháo gỡ ra sao, thưa ông?

– Chúng ta phải sửa Luật Đất đai để doanh nghiệp làm ăn trong ngành nông nghiệp phát triển được. Người nông dân không thể hội nhập theo cách sản xuất nhỏ lẻ được, mà phải là doanh nghiệp.

Đất đai là tài nguyên lớn nhất, vậy mà hiện nay đất đai đều được phân phối theo cơ chế xin – cho. Những nơi cần thì không sao có được đất để tích lũy sản xuất. Đất đai phải thị trường hóa chứ.

Chúng ta đang có hơn 11 triệu hộ nông dân, 5 triệu hộ kinh doanh nên không thể tổ chức sản xuất nông nghiệp lớn được, không phát triển thành chuỗi được. Một khi còn sản xuất manh mún thì mới có tình trạng nông dân làm một luống rau cho nhà ăn, các luống khác để bán.

Những cách đó đang tự giết mình với tư cách một dân tộc, một nền kinh tế.

TBKTSG: Nhưng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư bài bản, thì đó là câu chuyện lớn?

– Tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh là một việc, nhưng đảm bảo an toàn là một việc khác quan trọng không kém, ý tôi là phải bảo vệ được quyền sở hữu. Vấn đề an toàn đang nổi lên là vấn đề quan trọng nhất, không chỉ là an toàn về sở hữu, mà còn an toàn trong quan hệ với Nhà nước. Nền tư pháp phải mạnh lên, khi có tranh chấp thì tư pháp phải đảm bảo xét xử công bằng. Chúng ta vẫn chứng kiến sự yếu kém trong các thiết chế tư pháp.

Trong bối cảnh thị trường còn bấp bênh và khó khăn, và chúng ta đang nỗ lực thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, thì các rủi ro khác phải giảm thiểu bởi các thiết chế của Nhà nước. Không có thiết chế tốt bảo vệ, họ rất khó làm ăn, nhất là làm ăn lớn.

Cải cách không đủ mạnh,
doanh nghiệp tư nhân… ra rìa

Thanh Thanh (PLO) – Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương (CIEM), TS Nguyễn Đình Cung, nếu không cải cách đủ mạnh thì Việt Nam tiếp tục có tăng trưởng nhưng các cơ hội chủ yếu rơi vào tay doanh nghiệp nước ngoài, trong khi doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam bị ra rìa…


Ảnh minh họa

Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Vẫn chưa chạm được vấn đề cốt lõi

Một trong những hạn chế khi đánh giá quá trình tái cơ cấu kinh tế Việt Nam (2011- 2014) do CIEM vừa công bố chỉ ra rằng: “Tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn còn chậm, những ưu đãi cho DNNN vẫn đang là yếu tố làm méo mó thị trường, những vấn đề cốt lõi của tái cơ cấu DNNN chưa được chạm đến”.

Theo ông Nguyễn Tú Anh, Trưởng ban Chính sách kinh tế vĩ mô, CIEM, những vấn đề cốt lõi của tái cơ cấu DNNN chưa được chạm đến, đó là: Tình trạng phân tán quyền lực tại các cơ quan nhà nước, thiếu sự phối hợp và thiếu người chịu trách nhiệm; tư duy ưu đãi DNNN vẫn là chủ đạo; chưa tách chức năng chủ sở hữu ra khỏi chức năng quản lý nhà nước; thiếu cơ chế giám sát, kiểm tra giữa các cơ quan nhà nước cùng cấp và khác cấp; phân bổ nguồn lực đầu tư công vẫn chủ yếu do Nhà nước phân bổ, chưa sử dụng được cơ chế thị trường trong phân bổ đầu tư công…

Theo Chuyên gia Nguyễn Xuân Thành (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright và Trưởng QLNN Harvard Kennedy) mặc dù không đạt được mục tiêu đề ra nhưng chương trình cổ phần hóa DNNN đã thực sự được đẩy mạnh với quyết tâm chính trị cao (90% trong tổng số 514 DNNN đã được cổ phần hóa trong giai đoạn 2011 – 2015).

Tuy nhiên, trong số các DN mà Nhà nước nắm quyền kiểm soát, kết quả thoái vốn ngoài ngành để tập trung vào lĩnh vực kinh doanh nòng cốt vẫn còn khiêm tốn (4.460 tỷ đồng được thoái vốn khỏi lĩnh vực tài chính, bất động sản trong số 16.193 tỷ đồng chính thức đầu tư vào chứng khoán, quỹ đầu tư, bảo hiểm, ngân hàng và bất động sản tính đến tháng 10/2014). Cùng với đó, nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vẫn là gánh nặng lớn đối với nền kinh tế (tổng nợ phải trả của 781 DNNN tính đến cuối năm 2014 là 1,87 triệu tỷ đồng).

“Rõ ràng, đầu tư tư nhân tiếp tục bị chèn ép, DN dân doanh gặp khó khăn khi cạnh tranh với DN có sức mạnh độc quyền. Cấu trúc quản trị nội bộ DN và cơ chế giám sát của Nhà nước đối với DNNN vẫn chưa được đổi mới” – ông Thành nhận xét.

Kinh doanh tư nhân như đi trên cầu khỉ

Tiến trình cải cách chậm, chưa thống nhất khái niệm về tái cơ cấu, cơ chế theo dõi và giám sát còn hạn chế và chưa chú trọng vào xây dựng thể chế kinh tế là những tồn tại lớn của quá trình tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam được ông Raymond Mallon, Cố vấn Cao cấp Dự án RCV chỉ ra. Theo vị chuyên gia này, việc quan trọng nhất lúc này là Việt Nam cần xây dựng thể chế kinh tế để thúc đẩy cạnh tranh và công bằng…

Phân tích nguyên nhân sâu sa của tình trạng này, theo Viện trưởng CIEM, TS Nguyễn Đình Cung, vấn đề chính hiện nay nằm ở chỗ Việt Nam chưa chuyển đổi được mô hình sở hữu hiện nay sang sở hữu kinh tế thị trường. Việc chuyển từ sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân chưa được hoàn thành, nhiều loại tài sản chưa được ghi nhận là tài sản nên chưa có sở hữu. Sở hữu toàn dân còn chiếm tỷ trọng lớn, và nhiều loại tài sản không có chủ sở hữu rõ ràng.

“Phần lớn tài sản không thương mại được hoặc khó thương mại, không thể chuyển thành vốn đầu tư kinh doanh. Chính vì vậy mà nhiều nguồn lực không sử dụng được hoặc sử dụng kém hiệu quả” – ông Cung phân tích.

Ông ví dụ: “Chúng ta không có thị trường sơ cấp về đất đai, quan hệ giữa người dân, DN với cơ quan nhà nước là quan hệ phân phối, xin – cho theo phương thức hành chính, không phải giao dịch thị trường. DN tư nhân trong nước, sau khi mua và tích tụ được đất thì DN đó chưa phải là chủ sở hữu, mà là người đi thuê mảnh đất mà chính họ bỏ tiền ra mua để kinh doanh…”.

Cùng với vấn đề sở hữu, gia nhập thị trường có bước tiến lớn nhưng vẫn chưa có một môi trường cạnh tranh trật tự và công bằng với một loạt vấn đề tồn tại như: Số lượng kinh doanh có điều kiện còn quá lớn, rào cản gia nhập các loại thị trường còn quá cao; hạn chế, thậm chí ngăn cản cạnh tranh; giao dịch kinh doanh (với Nhà nước và đối tác) còn rủi ro về thể chế, tốn kém thời gian và chi phí cao; méo mó và không công bằng; quyền lợi chính đáng và hợp pháp của các bên chưa được bảo vệ đầy đủ và tin cậy; chưa có thiết chế và công cụ đảm bảo thiết lập và duy trì cạnh tranh trật tự và công bằng…

“Chúng ta không thể tiếp tục để tình trạng làm kinh doanh tư nhân ở Việt Nam chênh vênh như đi trên cầu khỉ thế này…” – Viện trưởng CIEM sốt ruột. Ông Cung cho rằng, tới đây, với các FTAs mà Việt Nam tham gia, thách thức chính là cơ hội để “lột xác” và thay đổi. “Nếu không cải cách đủ mạnh thì Việt Nam tiếp tục có tăng trưởng nhưng các cơ hội chủ yếu rơi vào tay DN nước ngoài trong khi DN tư nhân của Việt Nam bị ra rìa…” – Viện trưởng CIEM lo ngại…

“Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa… Giai đoạn mới có những đòi hỏi gay gắt hơn nhiều. 5 năm tới nếu chúng ta không tiếp tục đổi mới thể chế, cải cách kinh tế thì cơ hội của Việt Nam là rất mong manh…”- Chuyên gia kinh tế, bà Phạm Chi Lan cũng tỏ ra sốt ruột.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s