Dệt may VN có được hưởng hơn tỉ đô tiền thuế nhờ TPP?

Posted: January 25, 2016 in Uncategorized
Tags:

T.Thu (TBKTSG) – Doanh nghiệp dệt may Việt Nam không trực tiếp hưởng lợi từ khoảng hơn 1 tỉ đô la tiền thuế bán hàng vào Mỹ nhờ TPP như các quan chức tuyên bố…

� Xem thêm: Thương hiệu may mặc Việt dần lụi tàn!


Hiện thuế suất trung bình mà hàng dệt may Việt Nam đang
phải chịu khi xuất khẩu vào Mỹ là trên 17%. Ảnh: MINH KHUÊ

Số tiền thuế doanh nghiệp xuất khẩu dệt may, da giày Việt Nam đang phải đóng tại Mỹ lớn hơn tất cả thành viên Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) phải đóng cộng lại. TPP giúp doanh nghiệp Việt Nam tiết kiệm hơn 1 tỉ đô la Mỹ tiền thuế đóng cho hàng dệt may vào thị trường Mỹ. Đây là một số thông tin về lợi ích từ TPP được không ít quan chức Việt Nam tuyên bố tại các hội thảo, hội nghị và được báo chí trích lại.

Những ý kiến này có thể bắt nguồn từ việc, hiện thuế suất trung bình mà hàng dệt may Việt Nam đang phải chịu khi xuất khẩu vào Mỹ là trên 17%. Theo đó, với việc kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ đạt hơn 10 tỉ đô la Mỹ (trong năm 2014), hàng dệt may của Việt Nam vào Mỹ phải chịu trên 1,7 tỉ đô la tiền thuế. Với TPP, hàng dệt may của Việt Nam sẽ được xóa bỏ ngay một số dòng thuế và giảm dần đối với các dòng thuế còn lại, tức hàng dệt may của Việt Nam nhìn chung sẽ không phải chịu hơn 1 tỉ đô la Mỹ tiền thuế này.

Tuy nhiên, lợi ích thực sự mà TPP đem lại cho ngành dệt may Việt Nam trên thực tế không phải như vậy, vì tiền thuế này không phải do doanh nghiệp xuất khẩu may mặc tại Việt Nam đóng, mà là các nhà nhập khẩu của Mỹ, nên họ mới chính là những người hưởng lợi khi không phải đóng số tiền thuế này.

Vậy doanh nghiệp Việt Nam có được đối tác tại Mỹ tăng giá mua vào, tức chia sẻ một phần lợi ích là phần cắt giảm thuế mà TPP đem lại không? Theo ông Lê Quang Hùng, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Sản xuất Thương mại May Saigon (Garmex Saigon), so với một số thị trường chính khác, trước mắt, trong năm 2016 những khách hàng truyền thống tại Mỹ có chiều hướng chưa giảm giá đặt doanh nghiệp Việt Nam sản xuất, như những đối tác châu Âu. Nguyên nhân có thể là tình hình kinh tế của Mỹ hiện tốt hơn thị trường châu Âu.

Còn việc doanh nghiệp Mỹ có tăng giá đặt hàng cho doanh nghiệp may mặc Việt Nam không, thì câu trả lời có thể là không. Ông Hùng cho rằng, khách hàng Mỹ sẽ cố gắng thu lợi tối đa từ việc giảm thuế nhờ TPP. Tuy nhiên, nhờ giảm thuế này, lợi nhuận của doanh nghiệp Mỹ sẽ tăng, và khi ấy, nhu cầu đặt may tại Việt Nam sẽ tăng lên, trong khi khả năng cung ứng tại Việt Nam lại có hạn. Do đó, vì cạnh tranh lẫn nhau, có thể doanh nghiệp Mỹ sẽ tăng giá, tùy thuộc vào tình hình và thời điểm (mùa cao điểm – PV).

Ngoài ra, ông Hùng dẫn thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) cho biết trong kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam, có đến 70% thuộc về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), 30% của doanh nghiệp Việt Nam. Kim ngạch ngành may năm 2015 dự kiến đạt 23 tỉ đô la Mỹ, theo đó chỉ có 7 tỉ đô la Mỹ đến từ xuất khẩu của doanh nghiệp may mặc Việt Nam. (Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, từ đầu năm đến ngày 15-12-2015, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt, may của Việt Nam đạt 21,57 tỉ đô la Mỹ, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước đó.)

Điều đáng nói hơn là, hiện 85% doanh nghiệp may mặc Việt Nam vẫn thực hiện theo phương thức gia công (tức trong 7 tỉ đô la Mỹ trên, hết 5,95 tỉ đô la Mỹ kim ngạch đến từ doanh nghiệp gia công – PV). Như vậy, kim ngạch thực nhận chưa đến 1,5 tỉ đô la Mỹ vì giá gia công chỉ chiếm khoảng 25% giá thành sản phẩm. Hay nói khác đi, phần lớn giá trị còn lại “vào túi” các công ty nước ngoài giao cho doanh nghiệp Việt Nam gia công.

Trong khi đó, với chi phí đầu vào hiện nay, các doanh nghiệp gia công lãi bình quân chỉ 2%/doanh thu. Nếu doanh nghiệp Việt Nam thực hiện phương thức FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm), mức lợi nhuận lên đến 5%/doanh thu, theo đó lợi nhuận ngành cũng sẽ cao hơn và mức đóng thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách cũng cao hơn nhiều so với hình thức gia công.

Ông Hùng cũng đặt ra một vấn đề khác là, với xu thế như hiện nay có vẻ như miếng bánh dành cho doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhỏ. Cụ thể, ông Hùng cho biết đa phần các công ty FDI vào Việt Nam trong ngành dệt may là những công ty toàn cầu có xu hướng đầu tư khép kín từ kéo sợi đến thành phẩm may mặc, còn các công đoạn thiết kế, phân phối do công ty mẹ đảm nhận.

Kể cả những công ty FDI đã đầu tư tại Việt Nam hiện cũng chuyển dịch theo xu thế này, như Formosa, Bamboo… Xu thế này sẽ tạo lợi thế cạnh tranh cho các công ty FDI vì giúp họ có giá thành thấp, thời gian thực hiện đơn hàng ngắn, và cạnh tranh tốt trong thu hút lao động nhờ sản xuất ổn định. Ông Hùng cho rằng điều này cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam nói chung sẽ gặp bất lợi, ngoại trừ một số doanh nghiệp có tiềm lực mạnh.

Cũng với xu hướng đầu tư khép kín này của FDI, nguồn cung nguyên liệu trong nước có khả năng chưa đáp ứng đủ nhu cầu tăng trưởng của các doanh nghiệp và sẽ tạo cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực cung ứng nguyên liệu theo yêu cầu xuất xứ (của các hiệp định như Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp châu Âu, TPP).

[:-/] Việt Nam có thể trở thành ‘bá chủ’ thế giới về may mặc? (VTC News) 05/11/2015 – Theo đánh giá của chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang, Việt Nam hoàn toàn có cơ hội trở thành “bá chủ” thế giới về may mặc nếu biết kết hợp các thế mạnh.

Dệt may Việt Nam đóng góp vai trò lớn trong ngành may mặc thế giới khi được nhiều nhãn hàng nổi tiếng của Mỹ, Anh,… chọn làm nơi gia công. Một số hàng hiệu như Ralph Lauren, Victoria’s Secrect, La Blanca, Trina Turk,… đều có nhiều sản phẩm “made in Vietnam”.

Tuy nhiên, trong chuỗi giá trị, dù là người sản xuất sản phẩm nhưng người Việt lại thu về lợi nhuận thấp nhất. Vì vậy, nhiều hãng thời trang trong nước đã lên kế hoạch xây dựng cho mình thương hiệu mang tầm cỡ quốc tế.

Thương hiệu may mặc Việt dần lụi tàn!

Thanh Nhân (NLĐ) – Bị hàng ngoại áp đảo, thời trang Việt teo tóp, doanh nghiệp trong nước không phát triển nổi

Không ít thương hiệu thời trang một thời ăn nên làm ra như Foci, Sea, Sifa, Ninomaxx, N&M, Việt Thy, Đan Châu, Sanding… nay đã lụi tàn dần, thậm chí biến mất. Một số doanh nghiệp (DN) may mặc sau phong trào “quay lại sân nhà” cách đây mấy năm cũng đang loay hoay để tồn tại. “Miếng bánh” thị trường 90 triệu dân không dễ “xơi” và dự báo sẽ khó khăn hơn.

Chỉ 20% DN mặn mà với thị trường trong nước

Ở phân khúc hàng giá rẻ – trung bình, các cơ sở sản xuất trong nước đang bị nguồn hàng trôi nổi từ Thái Lan, Trung Quốc… lấn át. DN trong nước ở phân khúc này ngày càng khó sống. Ở phân khúc hàng dành cho giới trung lưu, vài thương hiệu như Nhà Bè, Việt Tiến, An Phước… đã tạo dựng được uy tín nhưng giá bán lại khá cao. Với chiến lược “đánh” thị trường xuất khẩu để tìm lợi nhuận cao, nhiều DN lớn đã nhường thị trường nội địa cho DN nhỏ trong nước.


Người tiêu dùng không còn quan tâm nhiều
đến sản phẩm may mặc thương hiệu Việt Ảnh: TẤN THẠNH

Ông Phạm Xuân Hồng, Tổng Giám đốc Công ty May Sài Gòn 3, cho biết đã mở vài cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở TP HCM nhưng phải bù lỗ mới duy trì được. Thị trường nội địa rất khó khai thác, một số DN lớn đã nỗ lực nhưng hiện vẫn ì ạch. Sắp tới, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực, thuế nhập khẩu hàng may mặc nguyên chiếc từ 20% giảm còn 0%, giá sẽ rẻ hơn, DN trong nước sẽ khốn đốn hơn. Bây giờ, những DN lớn làm hàng xuất khẩu quay về thị trường nội địa cũng không dễ chen chân với sản phẩm ngoại nhập.

Theo Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), chỉ 20% DN trong ngành mặn mà với thị trường nội địa. Những DN quan tâm đến thị trường trong nước cũng chỉ dành 20%-25% năng lực để làm hàng nội địa, còn lại vẫn tập trung cho xuất khẩu.

Chủ trương phát triển ngành dệt may đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 vẫn xác định xuất khẩu là thị trường trọng yếu, thị trường trong nước là quan trọng và không thể bỏ quên. Vinatex hiện có hơn 70 công ty song chỉ một số phát triển được ở thị trường nội địa, có thương hiệu mạnh và có lãi. Đến giờ, phần lớn DN vẫn không có ý định mở rộng ở thị trường trong nước.

Ông Lê Quang Hùng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Garmex Sài Gòn, cho biết đầu tư cho kênh nội địa rất tốn kém. Giá thuê mặt bằng ở các phố thời trang như Nguyễn Đình Chiểu, Hai Bà Trưng (TP HCM) lên đến 400.000-500.000 USD/năm/cửa hàng. Ngoài ra, còn nhiều chi phí khác như quản lý, lương nhân viên, điện nước, tồn kho…

“Chi phí mở hệ thống phân phối nội địa rất tốn kém, Garmex Sài Gòn không đủ nhân lực và tài lực để đầu tư. Do vậy, ngoài tập trung làm hàng xuất khẩu, Garmex Sài Gòn gia công cho Blue Exchange để tạo công ăn việc làm mùa thấp điểm xuất khẩu” – ông Hùng giải thích.

Cần có trung tâm công nghiệp thời trang

Theo nhận định của nhiều DN, trước thời điểm Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức thành lập, hàng Thái Lan nhập sang Việt Nam đã tăng 30%, sản phẩm may mặc Thái tại các cửa hàng thời trang ở Hà Nội tăng gần 70%.

Khi AEC ra đời, cộng với việc các tỉ phú Thái Lan mua lại nhiều hệ thống bán lẻ tại Việt Nam, hàng Thái có thêm cơ hội thâm nhập thị trường Việt Nam. Bên cạnh đó, hàng Trung Quốc, Malaysia… cũng sẽ chiếm lĩnh các kênh phân phối trong nước. Ở các đô thị lớn như TP HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, hàng hiệu cao cấp của Mỹ, châu Âu… đã tràn ngập những cửa hàng thời trang từ khá lâu.

Theo ông Lê Quang Hùng, ngành may mặc trong nước đang đứng trước cơ hội và thách thức lớn. Khi các hiệp định thương mại tự do có hiệu lực, nguồn vải phong phú giá rẻ của Trung Quốc và nhiều nước qua đường chính ngạch vào Việt Nam với thuế suất 0% sẽ là cơ hội cho ngành may mặc nếu có thiết kế phù hợp xu hướng tiêu dùng. Vấn đề quan trọng là công nghiệp thời trang có phát triển kịp thời để DN tận dụng cơ hội này hay không.

“Đã đến lúc cần xây dựng TP HCM thành trung tâm công nghiệp thời trang của cả nước, tạo lợi thế trong cạnh tranh cho các DN dệt may trước sự thâm nhập mạnh mẽ của các nước ASEAN hay Trung Quốc” – ông Hùng đề xuất.

Thua cả hàng không thương hiệu

Theo ông Lê Quang Hùng, những DN có tiềm năng sản xuất vải, có bộ phận thiết kế thời trang cùng hệ thống phân phối mới có thể chiếm lĩnh lại thị trường nội địa, như: Việt Tiến, Việt Thắng, Nhà Bè, An Phước… Những DN không đủ khả năng đầu tư phân phối nên thu gọn hoặc chuyển qua cung ứng sản phẩm cho các hệ thống phân phối khác.

Chị Huỳnh Thùy Linh – chủ một cửa hàng thời trang ở quận 3, TP HCM – cho rằng không thể trách người tiêu dùng sính hàng ngoại. Hàng Thái Lan, Trung Quốc mẫu mã đa dạng, mới liên tục, giá lại tốt. Bên cạnh đó, còn có hàng xuất khẩu tồn do DN trong nước sản xuất, không thương hiệu cũng được người tiêu dùng chọn mua do chất lượng tốt, mẫu mã đơn giản nhưng không lỗi thời, giá phải chăng. Trong khi đó, hàng giá rẻ thương hiệu Việt mẫu mã kém, giá lại cao hơn hàng xuất khẩu.

Chưa kể gần đây, nhiều hàng Trung Quốc núp bóng hàng Việt Nam xuất khẩu tràn ngập trên thị trường.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s