Không đút lót thì… bị thả trôi sông

Posted: January 27, 2016 in Uncategorized
Tags:

Đinh Đức Hoàng (VNTB) Theo Tuần Việt Nam – Một lao động ngụ cư sống trong một túp lều nát bên cạnh bờ sông Hồng hay một ông chủ doanh nghiệp cỡ bự có thể có một giao điểm số phận: họ phải đi đút lót để được làm tiếp công việc của mình.

� Xem thêm: Đừng lừa dân! + “Phụ hồ” có thu nhập trên 100 triệu/năm phải nộp thuế.


Xóm ngụ cư ven sông này tồn tại nhờ một sự “thỏa thuận”, theo lời kể của người dân. Ảnh: Đức Hoàng

Những số muôn năm cũ…

Cách đây đúng một năm, Ngân hàng Thế giới đưa ra một con số đáng sợ: mỗi năm, có từ 20 đến 40 tỷ USD bốc hơi vì đút lót, hối lộ.

Một năm qua đi, câu hỏi đặt ra là con số ấy trong năm qua có giảm đi không hay tăng lên? Câu trả lời có thể đến rất nhanh: không trả lời được.

Hãy lướt qua một báo cáo cũ khác của Ngân hàng Thế giới về minh bạch tại Việt Nam, được đưa ra năm 2013, đánh giá về các thông tin ngân sách được công khai.

Trong báo cáo này, ta có thể nhìn thấy nguyên nhân tiền bốc hơi ở số lượng lớn như vậy. Khi được hỏi về khả năng tiếp cận thông tin ngân sách cấp tỉnh, thì suốt một thập kỷ qua, năm nào hỏi khối tư nhân, cũng có tối thiểu 60% trả lời là “không thể tiếp cận được”. Hoặc khi được hỏi về chất lượng thông tin trên báo chí, có đến 88%… các nhà báo được hỏi cho rằng thông tin về doanh nghiệp nhà nước cần được cải thiện, v..v..

Thông tin về ngân sách, về hoạt động của doạnh nghiệp nhà nước (thành phần kinh tế chủ đạo) không thể được tiếp cận bởi đại chúng. Trong khi đó, với mỗi đồng làm ra “phải mất 0,72 đến 1 đồng” để đút lót (TS.Lê Đăng Doanh). Trong khi đó, theo một khảo sát của Phòng thương mại & công nghiệp Việt Nam năm ngoái, thì có đến 65% doanh nghiệp được hỏi khẳng định họ phải đút lót để tồn tại.

Nếu cứ điểm lại những con số cũ và nhìn vào những thay đổi ở tầm chính sách đã được tạo ra trong năm qua, thì không có nhiều hy vọng về thay đổi.

“Ai không hối lộ sẽ bị thả trôi sông”

Hãy tạm rời xa những con số vĩ mô “muôn năm cũ” để đến với một câu chuyện cụ thể, một xóm ngụ cư bên bờ sông Hồng nằm ngay gần trung tâm của một thành phố phía Bắc.

Những người này sinh ra ở một xã vùng trũng ở bên bờ sông Hồng – những cánh đồng mỗi năm có 6 tháng bị nhấn chìm trong nước sông trắng xóa mênh mông. Những năm xa xưa, một vụ lúa mỗi năm có thể nuôi sống được con người. Nay, cả làng đi tha phương.

Từ mười mấy hai mươi năm trước, những người làng bắt đầu leo lên những con thuyền, xuôi theo dòng sông Hồng đi bán gốm rong.


Xóm ngụ cư ven sông này tồn tại nhờ một sự “thỏa thuận”, theo lời kể của người dân. Ảnh: Đức Hoàng

Ban đầu, những con thuyền lênh đênh, dừng ở bến sông nào cũng là nhà, đem gốm lên các làng ven sông đổi lấy gạo, lấy củi hoặc may mắn thì bán được tiền. Nhưng giờ thì không ai buôn bán kiểu đó được nữa. Họ phải dừng lại, những con thuyền neo ở một góc khuất của thành phố, bên bờ sông. Họ lập thành một xóm ngụ cư. Hàng ngày, từ xóm này, những chiếc xe thồ gốm bắt đầu tản đi khắp thành phố, bán hàng rong hoặc đến các chợ.

Xóm ấy đã lập nhiều năm, một số vẫn sống trên thuyền, một số đã lên bờ, thuê đất nông nghiệp của người dân ngay đó dựng lên những túp lều. Họ sống tha hương như thế đã đến thế hệ thứ 3, đi vào xóm bây giờ đã nghe thấy tiếng khóc trẻ con.

Tất nhiên, những gia đình này, những con thuyền này, ở lại bên bờ sông ấy không tuân thủ một quy định pháp lý nào. Nói chính xác là cư trú bất hợp pháp.

Chính quyền địa phương giải quyết vấn đề này như thế nào? Người trong xóm kể, mỗi năm, mỗi gia đình đóng một khoản tiền gọi là “tiền đi du lịch” (!) cho các cán bộ chịu trách nhiệm quản lý cư trú trên địa bàn phường. Một khoản tiền chấp nhận được, và họ được lờ đi để sống tiếp ở đó.

Hãy giả thiết rằng lời kể của người dân là thật. Hãy tạm coi những người bán gốm rong này là đại diện cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hãy phân tích mâu thuẫn giữa họ và chính quyền.

Bản thân những người này cũng sai. Nhưng trong một môi trường rộng, bao gồm cả điều kiện kinh tế xã hội của cả đất nước, của nơi họ đã ra đi, của cơ hội việc làm,… họ đã chọn con đường này và không còn cách nào ngoài đi tiếp nó. Tuy nhiên, điều này không thể phủ nhận được việc họ quần tụ ở bờ sông ấy thành một “tổ dân phố” không giấy tờ, không thừa nhận là điều vi phạm luật.

Cái sự vi phạm kiểu này quen thuộc ở khắp nơi trên cả nước, ở mọi ngõ chợ, vỉa hè, những hộ kinh doanh cá thể hay như một ẩn dụ, đúng cả với hầu hết doạnh nghiệp.

Ông cán bộ phường có thể nhăn nhó đau khổ, rằng cả một hệ thống văn bản pháp luật về cư trú, tôi làm sao mà thay đổi được? Tôi cũng có cấp trên, những người có thể kỷ luật tôi bất kỳ lúc nào. Tôi cũng có công việc, có vợ con. Tôi cầm tiền để lờ đi thế này đã là giúp người ta rồi.

Ông này nói cũng chẳng sai. Đó là một câu chuyện mà bên nào cũng có quyền vò đầu bứt tai “tôi cũng có cái khó”.

Rốt cục thì chuyện đút lót này được thừa nhận một cách hiển nhiên. Không còn cách nào khác. Không đút lót thì… bị thả trôi sông, theo nghĩa đen.

Ai giải quyết cái khó ấy? Không phải những người lao động ban ngày đi bán gốm rong, ban đêm vẫn dầm mình dưới nước sông Hồng thả tấm lưới mong kiếm thêm mấy con cá con. Không phải là ông cán bộ phường.

Những câu chuyện ấy chỉ có thể được thay đổi bằng những thay đổi toàn bộ môi trường, thay đổi các chính sách, giải quyết những vấn đề của các “nhà kinh doanh” gốm rong kia bằng những giải pháp vĩ mô. Thay đổi luật cư trú? Chính sách việc làm cho họ? Hay là cho họ một sinh kế gì đó ở ngôi làng nơi họ đã buộc phải ra đi? Người viết không thể trả lời. Chỉ biết chắc, nó phải là một vận động ở tầm xã hội.

Nếu môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư, môi trường sống, sinh kế không được cải thiện liên tục, thì con người sẽ lại tiếp tục phạm luật. Họ sẽ lại bày thúng mẹt ra vỉa hè, lập các doanh nghiệp làm những điều luật pháp “khuất mắt trông coi”. Họ chen vào mọi ngách mình nhìn thấy. Cái cần, là pháp quy hóa những cái ngách ấy, không ai làm. Hối lộ, đút lót hiển nhiên tồn tại.

Người đàn ông đầm mình dưới nước sông Hồng ở cái xóm ngụ cư kia, khi đóng tiền để được ở lại đó, hẳn sẽ không ngờ rằng mình có chung số phận với một ông chủ ngân hàng nào đó.

Đừng lừa dân!

Phạm Hồ (NLĐ) – Những ngày qua, trên các mạng xã hội xôn xao bởi thông tin có người ngồi xe lăn bán vé số được 3.000 tờ/ngày. Thông tin này được chính lãnh đạo sở tài chính của một tỉnh ở miền Tây đưa ra.

Bán một tờ vé số kiếm được 1.100 đồng. Tính ra mỗi tháng, người bán vé số này – nếu có thật – kiếm được cả trăm triệu đồng. Khiếp thật!

Thông tin trên nhằm chứng minh ngành vé số đóng góp rất lớn cho ngân sách của tỉnh; ngành vé số tạo công ăn việc làm cho người nghèo. Thế nhưng, ai cũng hiểu bản chất của nó chính là để che đậy cho thu nhập “khủng” của lãnh đạo ngành này (có viên chức quản lý thu nhập gần cả tỉ đồng/năm). Thậm chí nhiều nơi, công ty vé số còn thoải mái tài trợ cho các đoàn cán bộ về hưu và sắp về hưu đi nước ngoài “học tập kinh nghiệm” với kinh phí hàng tỉ đồng.

Xin đừng mang người nghèo, người khuyết tật ra để tung hỏa mù cho những khuất tất trong công việc của mình, đó là tội lỗi. Hàng ngàn người khuyết tật rong ruổi nắng mưa cả chục năm trời còn chưa kiếm đủ miếng ăn, có khi không sắm nổi chiếc xe lăn vài trăm ngàn đồng, thì sao nỡ loan tin rằng họ giàu có bằng tiền bán vé số !?

Cũng như nhiều tỉnh tuy xin gạo cứu đói nhưng lãnh đạo địa phương vẫn chủ trương, cổ xúy cho việc tổ chức bắn pháo hoa rất tốn kém rồi xuề xòa cho rằng đây là nhu cầu cần được thụ hưởng của người dân dù biết rất rõ rằng địa phương mình đang khó khăn cỡ nào. Nuốt sao vô nổi “món ăn tinh thần” này trong khi “món ăn vật chất” hằng ngày còn thiếu lên thiếu xuống!

Chuyện này làm chúng ta nhớ đến truyện ngắn “Tinh thần thể dục” của nhà văn Nguyễn Công Hoan đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy vào năm 1939. Nội dung đại ý là quan trên tổ chức buổi đá bóng, lệnh cho các xã phải bắt đủ 100 người đến xem. Than ôi, mọi người quá đói khổ, phải lo làm lụng kiếm cái ăn, tinh thần nào mà xem bóng đá! Nay cũng vậy, đói vàng mắt thì xem pháo hoa nỗi gì!

Cách đây không lâu, cơ quan chức năng tỉnh Hà Giang phát hiện giám đốc trung tâm cứu trợ trẻ em tàn tật cùng 2 cộng sự ăn chặn hơn 180 triệu đồng tiền hỗ trợ trẻ khuyết tật. Đích thân giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Giang đã có đơn đề nghị không khởi tố vụ án vì “ngại các tổ chức, cá nhân biết tin không ủng hộ trung tâm nữa”. Lý do “khó” như vậy mà cũng nghĩ ra được, quả là đỉnh cao của sự lừa dối.

Bản chất của những trường hợp nêu trên chính là sự bất chấp của cán bộ thừa chức quyền nhưng thiếu sòng phẳng. Họ sẵn sàng mang người dân ra để che đậy sự yếu kém và bất minh của bản thân, dù khó qua mặt được người khác nhưng dường như cũng đủ để họ tự bịt mắt mình, lừa dối chính mình.

Dân cư ngày càng đông, dân trí ngày càng cao. Chín mươi triệu đôi tai nghe ngóng, chín mươi triệu cặp mắt soi sáng, thật không điều gì có thể bị che đậy trước tai mắt người dân, đừng ai lấy vải thưa mà che mắt thánh! Cán bộ phải nhìn vào hiện thực của đời sống, phải tôn trọng sự thật để mà hành xử thì dân mới tin, mới trọng…

“Phụ hồ” có thu nhập trên 100 triệu/năm phải nộp thuế

C.Sơn (Soha) theo Báo giao thông – Cá nhân làm nghề “phụ hồ” phải nộp thuế nếu có tổng doanh thu trong năm dương lịch trên 100 triệu đồng.

Thuc hu phu ho kiem tren 100 trieu/nam phai nop thue
Cá nhân làm nghề xây dựng nếu có thu nhập trên 100 triệu đồng/năm
thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Ảnh: Báo giao thông

Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế về chính sách thuế đối với cá nhân kinh doanh, trong đó có cá nhân làm nghề xây dựng, sở dĩ cá nhân làm nghề xây dựng có thể phải khai và nộp thuế giá trị gia tăng và thu nhập cá nhân vì theo Thông tư 92/2015/TT-BTC, cá nhân kinh doanh phải nộp thuế theo từng lần phát sinh nếu có tổng doanh thu trong năm dương lịch trên 100 triệu đồng.

Đối tượng phải nộp bao gồm cả cá nhân cư trú có phát sinh doanh thu khi kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam, kể cả trường hợp cá nhân kinh doanh không thường xuyên và không có địa điểm kinh doanh cố định, cá nhân hợp tác kinh doanh với tổ chức theo hình thức xác định được doanh thu kinh doanh của cá nhân.

Trước đó, theo văn bản của một số cục thuế gửi Tổng cục Thuế, các “phụ hồ” thường không có địa chỉ cư trú cố định, mà luôn di chuyển theo các công trình xây dựng, do đó rất khó quản lý thuế với đối tượng này.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s