Bao giờ nông dân có mùa Xuân đổi mới?

Posted: February 6, 2016 in Uncategorized
Tags:

Nam Nguyên (RFA) – Tại Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 12 vừa qua, Chủ tich Hội Nông dân Việt Nam Nguyễn Quốc Cường nói rằng, người nông dân Việt Nam hy sinh nhiều nhất, đóng góp nhiều nhất, nghèo nhất, được hưởng lợi ít nhất và bức xúc nhiều nhất. Những nông dân “5 nhất” của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang trông đợi một mùa Xuân đổi mới.

� Xem thêm: Đằng sau những việc như đi nhập nông sản từ Trung Quốc.

Nông dân phơi lúa trên một cánh đồng ở huyện Phú Nhuận, tỉnh Tiền Giang, ảnh chụp trước đây. AFP photo

Tại sao nông dân làm không đủ ăn?

Nông dân Sáu Học ở đồng bằng sông Cửu Long không nằm trong trường hợp được nhà nước chia ruộng đất sau năm 1975. Ông có 10 công ruộng là thừa hưởng của cha mẹ và tự mình sang nhượng thêm 10 công ruộng khác vị chi là 20 công tầm lớn tương đương 2,5 ha. Ông từng thành công trong trồng lúa và nuôi cá tra, nhưng về lâu về dài ảnh hưởng sản xuất tự phát ồ ạt và thị trường nông sản không bền vững, sổ đỏ của ông nằm ở Ngân hàng với số nợ 500 triệu không trả. Ngoài ra Sáu Học còn cầm cố tất cả ruộng đất của mình cho người khác với số tiền khoảng 300 triệu đồng. Hiện nay ông Sáu Học thuê đất đào ao nuôi cá tra để mưu sinh, con trai ông không còn làm nông mà mở quán bán hàng.

Nói chuyện với chúng tôi Sáu Học cho biết đã hết rồi thuở thanh bình xưa cũ, khi xuân về xóm giềng cùng nhau hạ thịt và chia phần, cùng nhau canh nồi bánh tét. Những ngày xưa đầm ấm như thế có lẽ đã cách nay mười mấy, hai chục năm.

   Nếu không cải cách được thì nền nông nghiệp VN đứng trước những khó khăn vô cùng to lớn, cũng sẽ không hình dung nổi là sẽ đi đến đâu và nhất là số phận của người nông dân, một bộ phận rất đông đảo trong xã hội VN sẽ đi tới đâu nữa.
– Bà Phạm Chi Lan   

“Tết thì hàng năm ăn nhỏ ăn lớn gì cũng phải ăn, người có tiền ăn theo có tiền, người không có tiền ăn theo không có tiền, nhưng ít gì cũng phải mua vài cặp bông chưng cho có vẻ Tết. Ra chợ mua mớ cam quýt, bánh kẹo về cúng ông bà, khách khứa tới. Người Việt Nam ai cũng vậy thôi, ít gì cũng phải có vài triệu để mà ăn Tết. Hỏi nợ, hỏi nần, hỏi vay gì thì cũng phải kiếm tiền mà ăn Tết… hồi đó trong xóm Tết thì có năm, ba người mần heo mình chia thịt để cúng, Hồi đó Tết cỡ 27-28 là bắt đầu mần heo rồi. Bây giờ người ta không làm vậy nữa mà ra chợ mua.”

Trong nhiều năm qua, nông nghiệp luôn là bệ đỡ cho nền kinh tế. Xuất khẩu gạo luôn ở trong tốp ba hàng đầu thế giới, xuất khẩu cà phê hạng nhất hạng nhì. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2015 đạt hơn 30 tỷ đô la. Thế tại sao nông dân lại rất nghèo, làm không đủ ăn, những trường hợp như Sáu Trọng còn là khá, vì ông từng có hơn 2 ha ruộng, trong khi số đông chỉ có vài công đất. Ngược lại cũng có một thiểu số nông dân giàu có, sắm ô tô để thăm đồng, họ được mô tả là những “cán bộ nông dân” giàu có tích tụ được nhiều đất đai. Nhưng đây chỉ là những chuyện rất hiếm hoi, những câu chuyện thần tiên.

Những năm gần đây, Nông nghiệp Việt Nam bắt đầu xuất hiện những đại công ty có khả năng lớn về tài chính, làm nông nghiệp theo hướng sản xuất tập trung áp dụng khoa học công nghệ hiện đại. Các dự án này bao gồm từ trồng trọt cho tới chăn nuôi, đạt kết quả phấn khởi hạ giá thành sản xuất một cách rất cạnh tranh, sản phẩm đạt chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy vậy những mô hình sản xuất tập trung tiên tiến này vẫn chỉ là đếm trên đầu ngón tay, so với con số hơn chục triệu hộ gia đình nông dân trên cả nước.

Đối với thực trạng sản xuất nông nghiệp, hiếm khi người nông dân được nghe ông Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam nói thật. Trong tư cách Ủy viên Trung ương Đảng khóa 11 vào thời điểm hoàng hôn nhiệm kỳ, ông Nguyễn Quốc Cường mới mạnh dạn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, kêu gọi Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa không thể bỏ mặc nông dân trong cảnh nghèo khổ triền miên.

Ông Nguyễn Quốc Cường đưa ra những thông tin làm nhiều người giật mình. Đây là những sự thật khó che dấu nhưng chính phủ tránh không đề cập tới. Trong số 5 nguy cơ của nông dân, đáng chú ý và cụ thể nhất  là khoảng cách giàu nghèo giữa cư dân nông thôn và thành thị. Trước Đại hội Đảng, hôm 23/1/2016 vừa qua, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Nguyễn Quốc Cường, được xem là giới chức cao cấp đầu tiên của Đảng nói thẳng vào sự thất bại của chế độ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nông dân. Thành phần này lại chiếm tới 60-65% dân số Việt Nam. Chúng tôi xin trích nguyên văn lời ông Nguyễn Quốc Cường: “Nông dân đang bị  phân hóa giàu nghèo và xu thế ngày càng tăng. Trước đổi mới khoảng cách là 3,5 lần; đầu đổi mới 5,6 lần và hiện tại khoảng cách này là 10,2 lần.”

Nông nghiệp đứng trước những khó khăn

Khoảng cách giàu nghèo giữa cư dân nông thôn và thành thị được cảnh báo là còn tăng hơn nữa, trước áp lực hội nhập nhanh và sâu rộng hiện nay như AEC Cộng đồng Kinh tế ASEAN, TPP Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU cũng như một loạt các Hiệp định thương mại tự do khác mà Việt Nam đã ký kết.

Trước ngày Cộng đồng Kinh tế ASEAN hiệu lực 31/12/2015, TS Lê Đăng Doanh nguyên Viện trưởng Việt Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương từng bày tỏ quan ngại về việc các công ty lớn của nước ngoài đang dần dần chiếm lĩnh hệ thống bán lẻ ở Việt Nam.

“Nếu như siêu thị của họ phục vụ tốt hàng hóa lại bán rẻ có chất lượng tốt thì lúc bấy giờ hàng hóa của Việt Nam sẽ không có đất sống và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không thể tồn tại được. Điều đó sẽ đe dọa với cả nền nông nghiệp Việt Nam, thí dụ trái cây Thái Lan rẻ và ngon, trái mít cũng ngon hơn trái mít của chúng ta, quả nhãn quả xoài cũng ngon hơn. Chưa thuế suất bằng 0 nhưng tôi về đồng bằng Cửu Long đã thấy trái cây Thái Lan khá nhiều, không muồn dùng chữ tràn ngập nhưng đã là khá nhiều rồi… thế thì tôi thấy những điều ấy rất là lo lắng.”

Tại Đại Hội Đảng lần thứ 12 vừa qua, trước khi nói tới nguy cơ thứ 5 là phân hóa giàu nghèo, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Nguyễn Quốc Cường đã chỉ ra 4 nguy cơ khác. Đó là tình trạng giảm nhanh tỷ lệ đầu tư xã hội cho phát triển nông nghiệp nông thôn từ 32,4% những năm 1989-1990 đến mức chỉ còn 6,06% trong những năm 2012-2014. Do vậy thu nhập của nông dân giảm và tạo ra tâm lý nông dân không muốn làm nông nghiệp. Ngoài ra quá trình đô thị hóa, rồi ảnh hưởng chính sách ruộng đất phân tán, phát triển nông nghiệp không thể áp dụng công nghệ hiện đại và hàng loạt bất cập khác tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn xã hội nông thôn.

Đề cập tới sức ép cạnh tranh toàn diện trên nhiều sản phẩm nông nghiệp trong giai đoạn Việt Nam hội nhập nhanh với thế giới. Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế ở Hà Nội, kêu gọi nhà nước phải nhanh chóng cải cách.

“Nếu không cải cách được thì nền nông nghiệp Việt Nam đứng trước những khó khăn vô cùng to lớn, cũng sẽ không hình dung nổi là sẽ đi đến đâu và nhất là số phận của người nông dân, một bộ phận rất đông đảo trong xã hội Việt Nam sẽ đi tới đâu nữa. Tôi cho rằng sức ép về nhiều mặt cũng như đòi hỏi cuộc sống người nông dân, nó đòi hỏi Việt Nam thực sự thực hiện cải cách rất mạnh mẽ đối với nông nghiệp như là một cuộc cách mạng xanh mà một số nước đã làm. Ở đây là cả việc tổ chức lại sản xuất, cả việc xem lại chế độ sở hữu đối với đất đai, cũng như là về các khía cạnh kỹ thuật đối với sản xuất nông nghiệp.”

Những người nông dân như ông Sáu Học ở đồng bằng sông Cửu Long  đã quen với việc làm nông đầu tắt mặt tối mà chỉ đủ ăn. Họ tỏ ra thờ ơ  với việc đổi đời một lần nữa, họ chưa thấy một mùa xuân đổi mới dù Bộ trưởng NN-PTNT Cao Đức Phát được giao trọng trách thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững từ giữa năm 2013. Ba năm vừa qua nông nghiệp nông dân nông thôn chưa thấy tiến bộ. Qua Đại hội 12 ông Cao Đức Phát vẫn được tái cử vào Trung ương Đảng, liệu ông có thể đổi mới được gì cho nông nghiệp nông dân nông thôn, để người nông dân có được một mùa xuân đổi mới thực sự.

Đằng sau những việc như đi nhập nông sản từ Trung Quốc

Nhàn Đàm (MTG) – Trong nông nghiệp, trong khi chúng ta xuất khẩu rau quả sang thị trường Trung Quốc lên tới hàng tỷ USD mỗi năm thì thị trường rau quả trong nước lại đang tràn ngập hàng đến từ chính Trung Quốc.

Những ngày đầu năm 2016 rộ lên câu chuyện về những yêu cầu cải tổ tận gốc rễ ngành nông nghiệp, khi ngành này từ vị thế từ một trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế chiếm tới hơn 20% GDP đang dần trở thành một gánh nặng thực sự.

Không dừng lại ở đó, những trường hợp có chung những vấn đề như ngành nông nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay không phải là ít, và hầu hết đều là những lĩnh vực chủ đạo như dệt may hay sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, điều đáng chú ý nhất ở đây không chỉ là những vấn đề nội tại của từng ngành, mà còn là nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn chưa xây dựng được mối liên kết giữa các ngành và lĩnh vực chủ đạo. Nói cách khác, nền kinh tế của chúng ta hiện nay vẫn còn quá rời rạc.

Hệ quả của một nền kinh tế chạy theo xuất khẩu

Câu chuyện về những tình trạng đáng báo động của ngành nông nghiệp trên thực tế đang có ý nghĩa tượng trưng cho toàn bộ những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đó là quá chú trọng vào vấn đề xuất khẩu một cách thô sơ mà quên đi việc xây dựng một cấu trúc kinh tế vững chãi và ổn định. Không chỉ nông nghiệp, mà hầu như mọi ngành và lĩnh vực trong nền kinh tế đều được khuyến khích hướng tới xuất khẩu một cách tràn lan.

Điều này dẫn tới những hệ lụy nghiêm trọng, trước hết là sự lệch lạc trong từng lĩnh vực: ngành nông nghiệp thì cố gắng tăng sản lượng thóc gạo để xuất khẩu theo một cách thức chạy đua về số lượng. Ngành dệt may hay các lĩnh vực sản xuất công nghiệp cũng trong tình trạng tương tự, khi tất cả các lĩnh vực đều được xác định giá trị dựa trên tổng kim ngạch và giá trị xuất khẩu.

Nhưng, hệ lụy nghiêm trọng nhất của việc chạy theo xuất khẩu một cách tràn lan này là: nó khiến cho nền kinh tế đang trở nên rời rạc hơn bao giờ hết, khi các bộ phận chủ đạo của nó không thể kết nối được với nhau. Tình trạng này đang tạo ra những vấn đề đáng báo động, chẳng hạn như trong khi Việt Nam đang là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới thì chúng ta vẫn phải nhập hàng tỷ USD ngũ cốc để phục vụ cho nhu cầu sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước. Hay như việc ngành xuất khẩu thủy sản nhập khẩu hơn 1 tỷ USD các mặt hàng thủy hải sản từ nước ngoài trong một năm để chế biến phục vụ xuất khẩu, trong khi lại làm ngơ với thủy hải sản nuôi trồng trong nước do thiếu sự tương thích về giá cả và chất lượng.

Tình trạng này đang xảy ra gần như trong tất cả những lĩnh vực chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam. Chẳng hạn như trong nông nghiệp, trong khi chúng ta xuất khẩu rau quả sang thị trường Trung Quốc lên tới hàng tỷ USD mỗi năm thì thị trường rau quả trong nước lại đang tràn ngập hàng đến từ chính Trung Quốc. Hay như trong lĩnh vực chăn nuôi, hiện Việt Nam mỗi năm phải nhập khẩu khoảng 2 tỷ USD các loại nguyên liệu để phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước, mà chủ yếu là đậu tương, ngô và khô cá, đều là những chủng loại nông sản Việt Nam có thể tự sản xuất với giá thành rất rẻ.

Nhưng chỉ vì quỹ đất nông nghiệp dành cho các loại nông sản này quá ít do bị hướng đến trồng lúa tràn làn để tăng năng suất hướng đến xuất khẩu mà Việt Nam hiện vẫn phải nhập khẩu tới hơn 1,2 triệu tấn đậu tương và gần 5 triệu tấn ngô mỗi năm, trong khi đó thì thóc gạo dư thừa đầy kho do giá xuất khẩu quá rẻ.

Điều tương tự cũng đang diễn ra trong hai lĩnh vực được xem là mũi nhọn sau khi TPP đi vào hoạt động là xuất khẩu thủy hải sản và dệt may. Theo thống kê của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam (VASEP) thì lượng thủy hải sản mà các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu về để phục vụ chế biến đông lạnh xuất khẩu trong năm 2015 lên tới hơn 1 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm 2014, trong đó nhập khẩu tôm đạt 426 triệu USD chiếm hơn 40% tổng kim ngạch nhập khẩu, cá ngừ đạt 215 triệu USD.

Phần lớn thủy hải sản nhập về là ở dạng tươi sống để phục vụ chế biến xuất khẩu, riêng tôm hiện Việt Nam đang nhập khẩu từ 37 quốc gia, mà Ấn Độ là nước dẫn đầu chiếm tới 74,7% tổng lượng tôm mà Việt Nam nhập khẩu. Lý do được các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy hải sản giải thích cho việc nhập khẩu tôm thay vì sử dụng tôm nuôi trong nước là vì giá thành chênh lệch, hơn nhau tới 1-2 USD/1kg. Ngoài ra chất lượng thủy hải sản trong nước cũng không đảm bảo do nuôi trồng quy mô không lớn và không theo những tiêu chuẩn quốc tế.

Ngành dệt may cũng đang ở trong hoàn cảnh tương tự. Tỷ lệ nguyên liệu và phụ liệu nội địa trong ngành vẫn ở mức hết sức khiêm tốn là 55%, phần lớn nguyên liệu được sử dụng trong ngành dệt vẫn là nhập khẩu từ Trung Quốc. Theo thống kê, trong năm 2014 Việt Nam đã nhập khẩu tổng giá trị 15,8 tỷ USD nguyên phụ liệu ngành dệt như các loại bông, xơ, sợi, vải, vv…vv Khả năng tự đảm bảo nguyên liệu sản xuất cho ngành dệt may ở Việt Nam hiện vẫn còn rất thấp, chủ yếu chúng ta nhập khẩu nguyên liệu về gia công rồi xuất khẩu. Đây được xem là một thách thức lớn khi mà hầu hết các hiệp định thương mại mà Việt Nam vừa ký kết đều quy định về xuất xứ từ vải (hầu hết các FTA), và thậm chí là xuất xứ từ sợi (TPP).

Giải pháp nào cho Việt Nam?

Sự rời rạc hiện nay ở Việt Nam vì thế không chỉ trong nội bộ các ngành kinh tế, mà còn là giữa các ngành kinh tế với nhau. Nó đang cho thấy Việt Nam đang đi ngược lại với xu hướng chúng của thế giới, trong đó các tập đoàn và doanh nghiệp lớn trên thế giới đều cố gắng tạo ra một chu trình khép kín, từ sản xuất nguyên liệu cho đến chế biến và sản xuất sản phẩm. Sự khép kín này giúp họ quản lý tốt và nghiêm ngặt về quy mô sản lượng, chất lượng của sản phẩm theo những tiêu chuẩn rất cao, giúp sản phẩm có chất lượng tốt và giá thành rất cạnh tranh. Điều này diễn ra trong mọi lĩnh vực, từ sản xuất điện tử công nghệ cao như Samsung của Hàn Quốc cho đến sản xuất thức ăn chăn nuôi như CP Group của Thái Lan, tất cả những tập đoàn này đều tạo ra một chu trình khép kín từ cung cấp linh kiện, nguyên phụ liệu cho đến dây chuyền sản xuất và gia công sản phẩm.

Xem xét các trường hợp của các tập đoàn và doanh nghiệp lớn trên thế giới, có thể thấy chìa khóa mấu chốt cho việc tạo ra sự liên kết giữa các ngành trong nền kinh tế lại với nhau một cách chặt chẽ là phụ thuộc ở quy mô của các doanh nghiệp. Rõ ràng là chỉ có những tập đoàn và doanh nghiệp lớn nào đủ tiềm lực mới có thể xây dựng được những chuỗi sản xuất khép kín như vậy, từ sản xuất nguyên phụ liệu cho đến chế biến và sản xuất sản phẩm.

Nếu như doanh nghiệp không đủ quy mô và tiềm lực, thì họ sẽ tìm cách nhập khẩu những gì họ thiếu từ những nơi cung cấp có giá thành rẻ nhất, mà chủ yếu là từ nước ngoài như trường hợp các doanh nghiệp chế biến thủy hải sản nhập tôm từ Ấn Độ vì giá rẻ hơn. Nếu như các doanh nghiệp thủy hải sản này có đủ tiềm lực để tạo ra những khu vực nuôi trồng tôm chất lượng cao cho riêng mình ngay tại trong nước, thì rõ ràng là sẽ rẻ hơn và chất lượng hơn nhiều so với nhập khẩu.

Vai trò của các cơ quan nhà nước, vì thế chỉ nên ở mức hỗ trợ về pháp lý và tài chính cho các doanh nghiệp để đẩy nhanh quá trình này. Sẽ rất khó có thể tạo ra các vòng sản xuất khép kín như vậy nếu như không có sự hỗ trợ từ phía các cơ quan nhà nước, chẳng hạn như vấn đề pháp lý. Điển hình là việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp từ loại cây trồng này sang loại cây trồng khác trên quy mô lớn, sẽ bắt buộc phải có sự hỗ trợ từ phía chính phủ.

Ở một cấp độ rộng lớn hơn, chính phủ có thể tham gia vào việc quy hoạch tổng thể, tạo ra những khu vực kinh tế có cơ cấu thích hợp với từng ngành sản xuất một cách bài bản nhất. Làm được việc đó, cũng đồng nghĩa với việc cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam sẽ thực sự vững chắc và ổn định.

Nhàn Đàm (bài viết có sử dụng một số thông tin từ The Saigon Times, CafeF, Baodautu)

Advertisements
Comments

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s