‘Giật vòng hoa’ tưởng niệm cuộc chiến 1979

Posted: February 17, 2016 in Uncategorized
Tags:

(BBC) – Sáng ngày 17/2, nhiều nhóm tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lễ tưởng niệm 17/2 – 37 năm sau cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979.

� Xem thêm: Tại sao giờ đây người ta lại muốn quên đi ngày đó? + Sao lại làm ngơ cuộc chiến 1979 trong sách giáo khoa?

Tại Hà Nội, các nhóm trí thức và người dân tập trung tại khu vực tượng đài Lý Thái Tổ để thắp hương, dâng hoa, với khẩu hiệu “Nhân dân sẽ không quên”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai đã đọc lời tưởng niệm những người đã hi sinh vì cuộc chiến này.


Những người làm lễ tập trung thắp nhang tưởng niệm


Các nhà hoạt động, nhiều người dân đến tham dự buổi tưởng niệm

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, một số người tập trung tại tượng đài Trần Hưng Đạo để dâng hoa.


Một số nhà hoạt động nói xuất hiện lực lượng “cầm dù” che đi các biểu ngữ


Các nhóm tưởng niệm giương biểu ngữ gần tượng đài Trần Hưng Đạo

Quang cảnh buổi tưởng niệm được nhiều người quay phim lại, với cảnh được mô tả là người đến tưởng niệm bị “giật phá vòng hoa” và nhiều ô dù xuất hiện che đi biểu ngữ.

Những người tham gia nhặt lại hoa bị giật và hô các khẩu hiệu chống Trung Quốc.

Ông Huỳnh Ngọc Chênh từ Thành phố Hồ Chí Minh nói trên Facebook: “Các nhân viên an ninh quyết liệt ngăn cản không cho tôi ra khỏi nhà để đi dự lễ tưởng niệm các liệt sĩ.”

Năm 2014, khi buổi lễ tưởng niệm tương tự diễn ra tại Hà Nội, một nhóm người đã tổ chức nhảy đầm trong khi nhiều người đến đây đặt vòng hoa tại tượng đài Lý Thái Tổ ở Hà Nội.

Tại sao giờ đây người ta lại muốn quên đi ngày đó?

FB Nguyễn Thị Oanh(Ba Sàm) – Mỗi năm, trong suốt 37 năm qua, ký ức về ngày 17/2/1979 cứ mãi âm ỉ cháy trong lòng một người đang sống ở phương Nam, là tôi!


Thị xã Lạng Sơn bị quân Trung Quốc tàn phá (Ảnh: tư liệu). Nguồn: Soha

Thời gian trôi qua, con bé 13 tuổi đen đủi gầy gò, ngày nào lếch thếch cùng mẹ đưa các em theo dòng người chạy Tàu từ Lào Cai về Yên Bái, nay đã trở thành một phụ nữ 50 tuổi. Hồi ức về ngày 17/2/1979, lạ thay, chưa bao giờ nhạt nhoà bớt đi mà lại ngày càng cắt sâu hơn vào tâm khảm của người phụ nữ ấy, theo sự hiểu biết, vỡ oà những nhận thức về số phận của đất nước, của nhân dân.

Ngày ấy, con bé 13 tuổi đang sống rất hạnh phúc với gia đình, với bạn bè ở thị xã Lào Cai xinh đẹp. Nó sinh ra ở đó, lớn lên trong thời chiến. Tuy nhiên, trong suốt cuộc chiến tranh với Mỹ ở miền Bắc VN, dù phải đi sơ tán, ở rừng nhiều phen, nhưng cái thị xã xinh đẹp của nó không hiểu sao chưa bao giờ bị bom Mỹ dội tới. Sau ngày 30/4/1975, nó, như tất cả mọi người dân khác, đã nghĩ rằng chiến tranh sẽ vĩnh viễn chấm dứt, mọi nỗi cơ cực rồi sẽ qua. Và nó chưa bao giờ hình dung có một ngày phải chia tay thị xã chôn rau cắt rốn của mình vì bất cứ lý do gì. Trong mắt nó, đó là thị xã đẹp nhất nước, bởi còn giữ được nguyên vẻ cổ kính, xinh xắn với những khu phố, những tòa nhà có kiến trúc tuyệt vời do người Pháp xây dựng từ khi nó còn chưa sinh ra…

Nhưng rạng sáng ngày 17/2/1979, những loạt đạn pháo đầu tiên từ bên kia biên giới đã trút không thương tiếc vào thị xã xinh đẹp này. Con bé không bao giờ nghĩ rằng cái Tết Kỷ Mùi năm ấy là cái Tết cuối cùng nó được hưởng ở đây. Và cũng như mọi người dân khác trong thị xã, trong tỉnh khi đó, nó cũng thảng thốt không tin rằng Trung Quốc lại “dám” tấn công VN, bởi vì người ta đã luôn luôn nói với dân vùng biên giới rằng: Liên Xô sẽ bảo vệ VN, Liên Xô sẽ không bao giờ để cho Trung Quốc đánh VN!

Vì thế, gia đình nó, cũng như bao nhiêu gia đình khác trong thị xã này vẫn thản nhiên, ung dung sống, mặc cho những khẩu pháo từ ông bạn láng giềng hàng ngày cứ chĩa thẳng sang đất mình. Nó cùng bạn bè vẫn ngày ngày đi học, và còn náo nức với tin đồn rằng Liên Xô đã giúp VN thiết lập hàng rào phòng vệ điện tử dọc bờ sông Hồng và sông Nậm Thi…

Vì thế nên trong đêm 16, rạng ngày 17/2 năm 79, khi những quả pháo đầu tiên từ bên kia biên giới bắn qua, cả thị xã của nó vẫn đang hồn nhiên say ngủ! Nó nhớ đã nghe những tiếng ùng oàng từ rất lâu trước đó, nhưng vẫn cứ tưởng chỉ là tiếng sấm xa báo hiệu một cơn mưa! Đến khi người ta phát loa báo động dân xuống hầm trú ẩn để tránh đạn pháo, khi ấy gia đình nó cùng với cả những người hàng xóm mới bàng hoàng tin rằng đây là sự thật: Sự thật là Trung Quốc đã chính thức “dạy cho VN một bài học” bằng cuộc tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, và không hề có Liên Xô chở che gì lúc này!

Con bé sau đó đã cùng với gia đình và tất cả mọi người dân trong thị xã bắt đầu một cuộc tháo chạy vội vã trong kinh hoàng để về tuyến sau. Lần đầu tiên trong đời, nó không ngờ rằng mình đã đi bộ được tới 40km từ Lào Cai về tới Phố Lu. Tất cả mọi người đều đi bộ, bởi vì hầu hết các xe ô tô vận chuyển và tuyến đường sắt từ Phố Lu lên Lào Cai đều đã bị đạn pháo Trung Quốc phá huỷ ngay từ đầu. Nhưng cả tới khi đó, người ta vẫn tuyên truyền rằng: Dân chỉ phải tạm lánh đi thôi! Liên Xô dứt khoát sẽ giúp VN đánh đuổi Trung Quốc. Vài ngày nữa sẽ được trở về nhà…

Và con bé không ngờ rằng gần 30 năm sau kể từ ngày tháo chạy tức tưởi đó, nó mới được trở lại Lào Cai. Thời cuộc đẩy đưa, Nhà máy điện nơi cha mẹ nó làm việc đã bị phá hủy tan nát cùng với thị xã bé nhỏ. Hàng trăm người lao động của Nhà máy được chia ra đưa về các đơn vị khác trong ngành Điện khắp cả nước. Gia đình nó chuyển vào Sài Gòn năm 1980 để bắt đầu xây dựng một cuộc sống mới ở vùng đất mà hồi nào giờ nó chỉ biết đến qua sách, qua phim. 36 năm trôi qua, bây giờ con bé đã trở thành một phụ nữ ba con với cuộc sống thành đạt cùng gia đình ở quê hương mới. Nó luôn biết ơn mảnh đất hào phóng và nhân hậu đã cưu mang gia đình nó, để cho nó và những người thân yêu có được ngày hôm nay. Nhưng mỗi năm, cứ đến ngày 17/2, nó vẫn thấy ngậm ngùi một nỗi buồn sâu thẳm khi nhớ về nơi chôn rau cắt rốn của mình. Thị xã xưa đã không còn nữa! Ngày trở về thăm lại chốn cũ cách đây 9 năm, có một người phụ nữ ngơ ngác buồn lặng lẽ. Lào Cai giờ đã lên Thành phố. Được xây dựng mới hoàn toàn. Có vẻ to hơn, rộng hơn, nhưng không còn đẹp nữa! Những dấu tích cổ kính của một thị xã thời Pháp thuộc đã hoàn toàn biến mất. Người ta hối hả xây dựng mọi thứ, hối hả làm tất cả cho Lào Cai hoành tráng hơn, tấp nập hơn. Như muốn quên đi câu chuyện cũ. Như muốn mau chóng xoá nhoà vết chém bi phẫn mà ngày 17/2 xưa để lại cho vùng đất biên ải nơi đây…

Nhưng trong dòng chảy ký ức của nhiều người, trong đó có cô bé 13 tuổi ngày nào, vẫn luôn nhức nhối một nỗi đau khi nhớ về ngày 17/2 năm ấy… Người phụ nữ 50 tuổi rồi mà vẫn ngu ngơ tự hỏi: Tại sao giờ đây người ta lại muốn quên đi ngày đó ? Vì sao mà lớp con cháu mình hôm nay không được dạy để biết rằng đó là ngày không bao giờ được quên? Bao giờ thì vong linh của những người VN đã đổ máu xương trong cuộc chiến tranh biên giới ấy có thể ngậm cười khi thấy sự hy sinh của mình được ghi nhận? Nhiều lắm những câu hỏi “Tại sao?” về cuộc chiến này mà không biết bao giờ mới được trả lời!

Nhưng xót xa hơn cả, đó là cảm nhận về một sự thật bẽ bàng: Trong các cuộc chiến vừa qua, đất nước mình chỉ như một quân cờ trong ván cờ của các nước lớn! Đến cả những người gọi là “đồng chí” cũng chỉ lợi dụng chúng ta để phục vụ cho các mục đích của họ! Trước đây chúng ta “đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”. Sau năm 1975, chúng ta lại bị cuốn vào việc của Campuchia, và cuối cùng là đối đầu với Trung Quốc trong cuộc chiến tranh năm 1979. Tất cả cũng bởi vì phải “tả xung hữu đột” trong mối quan hệ giữa “anh Cả” với “anh Hai”. Và khi chúng ta lâm nguy với “anh Hai”, “anh Cả” sẵn sàng làm ngơ ngoảnh mặt, bởi anh ấy chẳng việc gì phải hy sinh mối quan hệ với “anh Hai” vì chúng ta ! Ngày nay, Liên Xô không còn nữa. Chúng ta vẫn tiếp tục ở thế đối đầu chênh vênh với Trung Quốc. Biết rằng cứ tiếp tục đi với “ông bạn vàng” này sẽ còn nhiều nguy hiểm, nhưng muốn “thoát Trung” lúc này cũng không phải dễ vì đã lệ thuộc họ quá nhiều và quá lâu. Muốn “dựa lưng” vào Mỹ thì lại phải trả giá nhiều thứ, và chắc chắn cũng cần đảm bảo được những lợi ích nhất định đối với Mỹ thì họ mới cho đi cùng…

Nên, ngày 17/2, ngẫm mà thấy thương đất nước tôi quá! Chúng ta muốn chống lại Trung Quốc ư? Nhưng lấy gì mà chống khi không có đủ lực cả về quân sự lẫn kinh tế? Xảy ra một cuộc chiến như năm 1979, những người lãnh đủ mọi tổn thất, đau thương vẫn chỉ là dân thường và những người lính không được trang bị đủ cả vũ khí cũng như nguồn lực cần thiết để xung trận (một trong những nguyên nhân khiến ta bị động và để Trung Quốc chủ động tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc vào ngày 17/2/1979 là do lúc đó phải chia bớt quân chủ lực cùng một số lượng vũ khí không nhỏ cho mặt trận Campuchia).

Không có gì vững vàng hơn là phải đứng được trên chính đôi chân của mình! Vì thế, muốn chống lại Trung Quốc, không phải phụ thuộc vào ai và cũng không để mình trở thành quân cờ trong tay ai, chỉ có một con đường duy nhất là phải phát triển thành công bằng chính nguồn lực tự thân của mình. Nguồn lực ấy là sự thay đổi mạnh mẽ, quyết liệt trong bộ máy lãnh đạo chính quyền (nếu không thể thay đổi thể chế); là sự đoàn kết hiệu quả của toàn dân trong việc thực hiện các giải pháp “thoát Trung” (trước mắt là về kinh tế)…

Nhưng trên hết và có tính chất quyết định, vẫn là một câu hỏi mà câu trả lời không thuộc về phía nhân dân: Ta có thực sự muốn “thoát Trung” hay không? Nếu chưa trả lời được câu hỏi này thì nỗi đau ngày 17/2/1979 vẫn mãi còn nhức nhối trong ký ức của những người dân như tôi!

Sao lại làm ngơ cuộc chiến 1979 trong sách giáo khoa?

Tuấn Khanh (Ba Sàm) theo Dân Việt – Đã đến lúc Bộ GDĐT đưa câu chuyện chiến tranh này vào sách giáo khoa chưa? Dù đó chỉ là một chương rất nhỏ và mờ nhạt về cuộc chiến này, để không làm đau tủi hàng chục ngàn người Việt đã ngã xuống.


Những dòng chữ trên bia tưởng niệm những người lính
chống quân xâm lược TQ đã bị đục bỏ. Nguồn ảnh: internet

Trong một chuyến du ký ở Việt Nam để tìm hiểu về dư âm của cuộc chiến 1979, nhà báo Michael Sullivan có tìm đến một nghĩa trang ở Lạng Sơn. Khi chứng kiến một phụ nữ thắp nhang cho người thân của mình, một binh sĩ đã hy sinh để chống lại quân xâm lược Trung Quốc, Micheal Sullivan đã an ủi bà rằng thôi thì chiến tranh đã chấm dứt. Nhưng rất dứt khoát, bà Phạm Thị Kỳ – tên của người phụ nữ – đã nói rằng “Không, sẽ không bao giờ chấm dứt. Với Trung Quốc, làm sao mà chấm dứt được?”.

Khu nghĩa trang nhỏ nơi bà Phạm Thị Kỳ đang viếng người thân, sẽ không bao giờ nói lên đủ nỗi đau của một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng khốc liệt đó. Theo ước tính chủ quan của các sử gia nước ngoài, ước tính có 50.000 người Việt đã thiệt mạng, bao gồm binh sĩ cùng người già và trẻ con bị quân Trung Quốc tàn sát man rợ trên đường rút chạy, để trả thù cho cuộc xâm lăng thất bại, với khoảng gần 100.000 lính bị thương và chết.

Ở Việt Nam ngày nay, người ta không dễ tìm thấy một cách trọn vẹn những dữ liệu mang tính chính thống cho cuộc chiến kỳ quặc và đau thương này. Hiếm có bộ phim nào ra rạp với kịch bản về cuộc chiến biên giới phía Bắc – dù đó là nguồn đề tài sử thi dồi dào. Rất ít sách nghiên cứu về hậu quả của cuộc chiến này, đối với đất nước và con người Việt Nam. Thậm chí, không có dòng nào trong sách giáo khoa lịch sử – so với hàng núi sách về cuộc chiến với người Pháp, người Mỹ và miền Nam Cộng hòa được phổ biến rộng rãi – mà những đứa trẻ như con cháu bà Phạm Thị Kỳ vốn vẫn thắc mắc khi đến viếng mộ người thân của chúng.

Đã đến lúc Bộ GD ĐT đưa câu chuyện chiến tranh này vào sách giáo khoa chưa? Chí ít đó là một chương rất nhỏ và mờ nhạt về cuộc chiến này, để không làm đau tủi hàng chục ngàn người Việt đã ngã xuống, đổ máu trong các cuộc đụng độ biên giới, để chúng ta có thể ngồi yên ở đây, hôm nay?

Không khác mấy ở Việt Nam. Cuộc chiến biên giới 1979 Việt – Trung cũng được nhắc đến rất mờ nhạt ở Trung Quốc. Ngay trong sách giáo khoa của học sinh trung học đại lục, chỉ có vài dòng ít ỏi mô tả để thế hệ sau không lãng quên quá khứ nhưng lại không quên ghi rằng đó là một cuộc chiến tự vệ và đánh trả để chứng minh “sức mạnh và chính nghĩa” của Trung Quốc. Giải thích về chuyện vì sao quân đội Việt Nam không hề tiến qua biên giới, mà chính quân đội chính quy Trung Quốc lại thọc sâu vào đất Việt Nam, các sử gia nhà nước đã ghi rằng bởi PLA (Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa) chấp nhận đáp trả thách thức của nước Nga, lúc đó đang hậu thuẫn cho Việt Nam, khi đưa ra lời cảnh cáo nếu vượt biên giới thì Nga sẽ pháo kích đánh trả.

Dù ít, nhưng người Trung Quốc cũng được dạy rằng họ mang “chính nghĩa” đi khắp thế giới, và Hoàng Sa và Trường Sa là của đất mẹ đại lục hiện vẫn chưa thu hồi được. Cuộc chiến 1979 được Trung Quốc mô tả với hơn một tỷ dân của họ rằng Việt Nam “kiêu ngạo và càn quấy” nên cần được dạy dỗ. Ký ức về cuộc “dạy dỗ” đầy man rợ đó vẫn lưu truyền trong dân chúng, và những nấm mồ người dân Việt vô tội im lặng nằm rải rác, dọc khắp biên giới Bắc là bằng chứng không thể chối cãi.

Vì sao chúng ta cần những sự thật lịch sử? Vì sao phải cần ghi vào sách giáo khoa cho con cháu về sau? Câu hỏi nghe chừng có vẻ ngớ ngẩn – nhưng không phải là không cần đặt ra lúc này. Vì bởi lịch sử làm nên nhân cách và dân tộc tính của mỗi quốc gia. Lịch sử tạo nên những con người có ý thức rằng dân tộc mình đã tồn tại với thất bại và vinh quang như thế nào. Lịch sử dặn dò rằng con người nhỏ nhoi nhất có thể trở nên vĩ đại nhất, nếu vượt qua và sống sót. Tựa lưng vào lịch sử đầy đủ và trung thực, con người có thể tìm thấy cho mình cái nhìn sâu sắc, giá trị giúp cho từng thế hệ đi tới.

Lịch sử không để dùng nuôi giữ hận thù hay phục vụ cho mục đích nào đó, ngoài việc dâng tặng cho tri thức tử tế và sinh tồn. Lịch sử là kho kinh nghiệm vô giá để loài người soi lại chính mình. Cố tình lãng quên sự thật và lịch sử mới chính là cách dùng súng bắn vào quá khứ.

Ở Trung Quốc lúc này, việc đòi hỏi minh bạch cuộc chiến 1979, đưa vào sách vở chính thống cũng đang rộ lên trên các diễn đàn tiếng Hoa. Trên tờ New York Times, khi ký giả Howard. W. French hỏi vài cựu chiến binh Trung Quốc đã tham gia cuộc chiến 1979 rằng họ có biết ý nghĩa của cuộc chiến đó là gì không, họ đã lắc đầu nói “tôi không biết”. Long Chaogang, tên của người cựu binh này, nói rằng khi con cháu hỏi về cuộc chiến này, và vì sao, ông chỉ còn biết gạt phắt đi và nói “không phải việc của tụi mày”.

Xu Ke, tác giả một cuốn sách tự phát hành mang tên “The Last War”, từng là một cựu pháo binh 1979, thì có những lý giải khác. Ông nói với ký giả Howard rằng cuộc chiến đó là phần ký ức buộc phải xóa đi trong trí nhớ của người Trung Quốc, bởi lý do của cuộc chiến đó không rõ ràng. Thậm chí, còn có lý thuyết rằng Đặng Tiểu Bình dấy lên vụ xung đột biên giới để rảnh tay sắp xếp lại quyền lực của mình trong Bộ Chính trị, vốn đang bị ám ảnh khuôn mẫu từ triều đại của Mao và đầy bất lợi với họ Đặng.

Trung Quốc làm ngơ và xóa ký ức của người dân Trung Quốc về cuộc chiến 17 tháng 2 năm 1979 bởi họ không có chính nghĩa. Cả thế giới nhìn thấy đó là cuộc xâm lăng điên cuồng. Nhưng người Việt thì không thể làm ngơ với lịch sử của mình, đặc biệt khi đó là phần lịch sử bảo vệ tổ quốc, kiêu hãnh và lưu danh trong ký ức nhân loại.

Lịch sử phải được ghi lại, được giáo dục trong sách giáo khoa để ghi rõ những quân đoàn Trung Quốc trên đường tháo chạy vẫn được tướng Hứa Thế Hữu (*) truyền lệnh “sát cách vô luận” – tức thấy là giết, không cần lý lẽ. Đàn bà bị hãm hiếp rồi giết, trẻ con bị đập chết, người già bị chôn sống… “chính nghĩa” của đạo quân phương Bắc là vậy. Lịch sử phải được nhìn thấy đủ, để dấy động mọi tâm can, cho những cuộc thắp hương tưởng niệm hàng năm phải được là lễ trọng, không bị ngăn trở và vô vàn những bia, chữ tưởng niệm không bị vô-chủ tâm nhổ bỏ, hoặc làm ngơ với phong sương.


Hàng vạn thanh niên nhập ngũ và lên biên giới vào năm 1979. (ảnh tư liệu)

17.2.1979 không phải là cuộc chiến riêng của vài tỉnh miền Bắc Việt Nam, cuộc chiến đó là cuộc chiến của lòng ái quốc và lòng tự trọng của một dân tộc trước thách thức để sinh tồn và độc lập. 17.2 cũng cần được kính trọng không khác ngày 2.9 trên đất nước này. Vậy thì, khi nào sách giáo khoa Việt Nam sẽ ghi vào đó phần máu thịt và đau thương của người Việt đã bị làm ngơ? Khi nào?

Kết thúc chuyến đi của mình tại Trung Quốc, ký giả Howard hỏi ông Xu Ke rằng ông sẽ làm gì với cuốn sách của mình. Người cựu chiến binh Trung Quốc đó im lặng chốc lát, và trả lời rằng ông muốn nhân dân mình được biết, tường tận về những gì đã xảy ra. “Bọn đạo đức giả và phản bội đã che giấu sự thật”, ông Xu Ke nói.

(*) Tháng 9.2008, Tướng Trung Quốc Hứa Thế Hữu từng được nhiều báo Việt Nam đăng bài ca ngợi là tài năng xuất chúng, mà “quên” rằng ông ta chính là người cầm cánh quân tiến công vào Cao Bằng – Lạng Sơn năm 1979, với chủ trương tàn phá mọi nhân lực và vật chất của Việt Nam.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s