Hai nhiệm kỳ Thủ tướng: Việt Nam tiến hay lùi?

Posted: February 27, 2016 in Uncategorized
Tags:

Nam Nguyên (RFA) Đọc báo trong nước – Ông Nguyễn Tấn Dũng tất nhiên có trách nhiệm của người đứng đầu chính phủ, nhưng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ trương lấy quốc doanh làm chủ đạo không phải là của riêng ông, mà là của Đảng Cộng sản và ông là người đứng ra thực hiện.

► Bài liên quan: Nhiệm kỳ Thủ tướng có ‘hạn chế yếu kém’

� Xem thêm: Nguyễn Sinh Hùng ngày càng bạo miệng + Phát ngôn ấn tượng của Chủ tịch QH và chuyện tháp “khủng”!

Nhóm quyền lợi xâu xé nền kinh tế

Ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ rời cương vị Thủ tướng trong vài tháng nữa, hai nhiệm kỳ kéo dài 10 năm của ông để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tình trạng thâm hụt ngân sách triền miên, một núi nợ công khó trả, những nhóm quyền lợi xâu xé nền kinh tế, bất công và tham nhũng tràn lan. Bên cạnh sự phân hóa giàu nghèo đến mức độ khó tưởng tượng, còn là thực tế Việt Nam đã tụt hậu so với các nước láng giềng trong khu vực vài chục năm. Ông Nguyễn Tấn Dũng tất nhiên có trách nhiệm của người đứng đầu chính phủ, nhưng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ trương lấy quốc doanh làm chủ đạo không phải là của riêng ông, mà là của Đảng Cộng sản và ông là người đứng ra thực hiện.

Trên báo chí Việt Nam, không ít lần Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tự hào là đã đưa Việt Nam vào danh mục các quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Thu nhập đầu người ở Việt Nam khi ông Nguyễn Tấn Dũng khởi sự nhiệm kỳ vào năm 2006 là 715 USD đã leo lên 2.109 USD vào cuối năm 2015. Tuy vậy nợ công của Việt Nam trong 10 năm qua cũng tăng chóng mặt, năm 2006 là 22,7% GDP và đến cuối năm 2016, lúc ông Nguyễn Tấn Dũng chuẩn bị từ giã sự nghiệp chính trị, nợ công được dự báo là 64,9% GDP. Điều này được chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xác định với Quốc hội ngay từ những tháng đầu năm 2015 và được báo Dân Trí đưa lên mạng ngày 12/2/2015.

Trả lời Nam Nguyên tối 25/2/2016,  Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa phó Hiệu trưởng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội nhận định:

   Năng suất lao động của Việt Nam so với các nước lân cận như Thái Lan, Singapore thì Việt Nam rất kém cỏi. Nếu có tăng về xuất khẩu hay bề nổi sự phát triển công nghiệp nói chung, tôi cho rằng phần lớn là nhập khẩu chứ chưa có một cái gì gọi là tự lực cánh sinh cả.
– GS Vũ Văn Hóa   

“Thu nhập tăng lên thì thực ra không đúng thực tế, đấy chỉ là con số báo cáo chứ rất ít người tin rằng chuyện đó là có thật. Nợ công nói rằng sáu mươi mấy phần trăm thì tôi không tin, nó phải hơn số đó rất nhiều. Thống kê còn chênh lệch nhau quá mức, thậm chí nói kinh tế của các tỉnh thành phố tăng lên vượt bực nhưng kinh tế cả nước thì chậm lại. Thực tế mà nói thì cũng chỉ được cái bề mặt, chứ thực sự nền kinh tế vẫn còn đang tụt hậu so với thế giới, tôi cho là không phải vài ba chục năm mà còn nhiều hơn nữa.”

Như vậy nền kinh tế Việt Nam trong 10 năm qua đã có những tiến bộ gì đáng kể. Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa tiếp lời:

“Năng suất lao động của Việt Nam so với các nước lân cận như Thái Lan, Singapore thì Việt Nam rất kém cỏi. Nếu có tăng về xuất khẩu hay bề nổi sự phát triển công nghiệp nói chung, tôi cho rằng phần lớn là nhập khẩu chứ chưa có một cái gì gọi là tự lực cánh sinh cả. Nếu thẳng thắn nhận xét thì nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế chậm phát triển và tụt hậu so với mức phát triển của thế giới.”

Ngày 20/2/2016 Saigon Times online đưa lên mạng bài viết ‘Nhìn lại chủ trương lấy quốc doanh làm chủ đạo’ của TS Vũ Quang Việt nguyên chuyên viên kinh tế của Liên Hiệp Quốc. Bài viết không nêu tên người đứng đầu chính phủ nhưng thực tế đánh giá 10 năm 2006-2015 Việt Nam hai lần thất bại trong chính sách lấy quốc doanh làm chủ đạo để nhắm tốc độ tăng GDP cao.

Trong bài TS Vũ Quang Việt chỉ ra những chính sách đã tạo ra bất ổn trong nền kinh tế từ năm 2006 đến nay. Chúng tôi xin phép trích thuật: Sự bất ổn này có thể kể ra gồm lạm phát cao, nợ cao khó trả, ngân sách thiếu hụt lớn, chênh lệch giàu nghèo. Tất cả là kết quả của chủ trương xây dựng doanh nghiệp lấy quốc doanh làm chủ đạo – không hẳn là theo đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và trước đó. Và đi cùng với chủ trương này là việc cho phép lập hàng loạt công ty con, kể cả ngân hàng chứng khoán, xây dựng và buôn bán địa ốc, nửa công nửa tư ăn theo – chủ yếu là các loại doanh nghiệp dịch vụ đầu cơ, rồi tập trung vốn cho chúng.”

TS Vũ Quang Việt phân tích sự khác biệt về vai trò quan trọng của nhà nước đối với nền kinh tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa kiểu cũ và các nước kinh tế thị trường. Một phía nhà nước nắm toàn bộ nền kinh tế, vai trò tư nhân không đáng kể. Phía kia, nhà nước có vai trò xây dựng và thi hành luật pháp nhằm bảo đảm các thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng và chính quyền chỉ can thiệp vào chính sách vĩ mô nhằm ổn định thị trường. đồng thời thực hiện các đầu tư công mà khu vực tư nhân không muốn hay không có khả năng đáp ứng. Kinh tế  tăng trưởng mạnh hay yếu là tùy thuộc vào sự cạnh tranh vì lợi nhuận của tư nhân.

Vẫn theo TS Vũ Quang Việt và SaigonTimes Online : “Việt Nam cổ võ cho tư duy lấy quốc doanh làm chủ đạo, công hữu hóa đất đai mà thực tế là giao cho chính phủ quyền làm chủ đất đai và phân phối cho ai tùy ý, dùng tiền ngân sách và tín dụng mà mình kiểm soát lập ra các doanh nghiệp quốc doanh, từ đó giới có quyền thế tạo ra các công ty con nửa nhà nước nửa tư nhân, trong một hệ thống gọi là tập đoàn để lợi dụng ưu đãi về tín dụng và thu dụng đất công làm của tư.”

Việt Nam đã tụt hậu hàng chục năm

Chúng tôi xin nhắc lại, các Tập đoàn quốc doanh được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ví von là những quả đấm thép của nền kinh tế đã không mang lại hiệu quả như mong muốn. Sự sụp đổ của Tập đoàn Vinashin làm thất thoát 86.000 tỷ đồng năm 2010, hay các vụ bê bối và thất thoát tiền nhà nước ở Vinalines là những ví dụ điển hình. Ngoài ra chính sách lấy quốc doanh làm chủ đạo mà sau này đổi là khu vực kinh tế Nhà nước chủ đạo nền kinh tế.

Sau hai nhiệm kỳ tổng cộng 10 năm áp dụng chính sách lấy quốc doanh làm chủ đạo, Việt Nam hiện nay vẫn theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự cải cách thể chế không có tiến bộ thực sự. Việt Nam đã tụt hậu hàng chục năm so với láng giềng Malaysia hay Thái Lan chứ không dám nói tới Singapore.

Ngày 23/2 tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Việt Nam công bố lộ trình phát triển tới năm 2035. Theo đó nếu Việt Nam nghiêm túc cải cách thể chế kinh tế và chính trị theo các khuyến cáo, thì cũng phải 20 năm nữa người Việt Nam mới có mức thu nhập tương đương các nước láng giềng như Malaysia thời điểm 2010. Nói cho rõ nếu cải cách thành công thì 20 năm nữa thu nhập đầu người của Việt Nam mới bằng nước bạn Malaysia của 25 năm trước, lúc đó không biết nước bạn thực tế đã tiến xa hơn đến đâu nữa. Câu chuyện vừa nghiêm túc vừa xót xa.

   Chủ tịch Ngân hàng Thế giới đã thắng thắn đề cập là Việt Nam cần phải mạnh mẽ nâng cao năng suất lao động, nâng cao sự sáng tạo hiệu quả và phải phát triển mạnh mẽ năng lực cạnh tranh. Muốn như vậy thì Việt Nam phải cải cách về mặt thể chế.
– TS Lê Đăng Doanh   

Trong cuộc phỏng vấn tối ngày 23/2/2016, TS Lê Đăng Doanh thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển của Liên Hiệp Quốc đã nhận định về thách thức phải cải cách. Ông nói:

“Chủ tịch Ngân hàng Thế giới đã thắng thắn đề cập là Việt Nam cần phải mạnh mẽ nâng cao năng suất lao động, nâng cao sự sáng tạo hiệu quả và phải phát triển mạnh mẽ năng lực cạnh tranh. Muốn như vậy thì Việt Nam phải cải cách về mặt thể chế và nếu như những điều đó được giới lãnh đạo Đại hội 12 đã bầu ra thực hiện, thì Việt Nam với tiềm năng của mình hoàn toàn có thể đạt được những tiến bộ như đã đề ra. Nếu như công cuộc cải cách không vượt qua được sự cản trở của nhóm lợi ích và không tự mình vượt qua được những ràng buộc mà mình tự buộc mình vào, tự hạn chế mình thì Việt Nam sẽ ngày càng bị tụt hậu xa hơn.”

Ngày 24/2/2016 Báo mạng VnExpress trích lời Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước cảnh báo trước quốc hội về nguy cơ bất ổn xã hội do khoảng cách giàu nghèo. Ông Ksor Phước đã góp ý về báo cáo công tác nhiệm kỳ 2011-2016 của Chính phủ và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trước đó tại Đại hội Đảng 12, ông Nguyễn Quốc Cường Chủ tịch hội Nông dân Việt Nam báo động là khoảng cách giàu nghèo đang cách biệt hơn 10 lần.

Trao đổi với chúng tôi, Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa cho rằng hiện rất khó để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam. Ông nói:

“Bây giờ đất đai tập trung vào những người có quyền thế, những người có tài chính. Những chỗ đất đai đẹp nhất ở các thành phố hay ở vùng nông thôn thì lại rơi vào tay những người có tiền, còn người ta có tiền từ nguồn gốc nào thì mình cũng không biết được. Rõ ràng là họ có những tài sản rất lớn, tôi lấy ví dụ ở Hà Nội những nơi đẹp nhất thuộc về những người có nguồn tài chính rất lớn, những cái đó tạo ra thu nhập rất lớn cho họ, bên cạnh họ lại có một bộ máy giúp việc rất đắc lực và như vậy những người khác trở thành những người làm thuê thôi. Xã hội nào cũng có việc đó. Nhưng ở Việt Nam tôi cho rằng mấy năm gần đây sự cách biệt rất nhanh và rất lớn. Cần có nghiên cứu và trả lời cho dân chúng, chứ cứ nói cách biệt giàu nghèo thể hiện rõ ràng, nhưng chưa ai dám phát biểu công khai là nguyên nhân tại đâu mà ra, chưa có cái đó.”

Nguyên nhân cách biệt giàu nghèo ở Việt Nam có lẽ chỉ có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chính phủ của ông mới có lời giải đáp, vì ông đã lãnh đạo Chính phủ 10 năm liên tiếp. Tiếc rằng trong 7 điểm hạn chế và yếu kém trong nhiệm kỳ Thủ tướng, được Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trình bày trước Quốc hội chiều 24/2/2016, đã không có nội dung nào liên quan tới vấn đề này.

Viet-studies

Thủ tướng: “Làm ăn tốt tướng đi cũng khác, nợ nần tướng đi co ro lắm!” (DT 26-2-16) — “Như tôi và ông Vũ Huy Hoàng đàm phán kinh tế Á – Âu, Thủ tướng Armenia tặng 2 chai rượu ngon và nói Việt Nam cần mở cửa thị trường. Tôi có lấy về, mở mời anh Vũ Huy Hoàng uống. Kinh tế là chính trị“.  Tại sao ông Nguyễn Tấn Dũng nói chuyện uống rượu với ông Vũ Huy Hoàng rồi lại kết luận “Kinh tế là chính trị’?  Tôi không hiểu.

Chuyện bây giờ mới kể: 7 hạn chế, yếu kém trong nhiệm kỳ Thủ tướng (VnE 24-2-16) — Chỉ có 7 thôi à? Báo QĐND thì rất nhẹ tay: Báo cáo được chuẩn bị công phu, đầy đủ công tác của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ (QĐND 24-2-16) — Nói về “8 kết quả đạt được”! Chưa đạt mục tiêu ngăn chặn tham nhũng (NLĐ 24-2-16)
“Tham nhũng phát hiện ra kiểm toán”?! “Ở nước khác thì kiểm toán phát hiện ra tham nhũng, còn ở ta thì ngược lại” (LĐ 24-2-16)
Ngành dầu khí: Hụt vốn vì các ‘đại gia’ bỏ cuộc (ĐĐK 26-2-16) Lọc dầu Dung Quất lỗ hơn một tỷ USD nếu không được ưu đãi (VnEx 26-2-16)
Chủ tịch đường sắt Việt Nam: ‘Tôi không làm gì sai’ (Zing 26-2-16)
Ụ nổi trăm tỷ bán rẻ như… sắt vụn (CAND 26-2-16) — Dạo này báo CA có vẻ được bật đèn xanh săm soi các scandal kinh tế!
Cán bộ phường ở Hà Nội cũng có bằng tiến sĩ nên… khó tinh giản (DT 25-2-16) — Tiền sĩ “phường học”?
Chuyện ông đảng viên chưa tốt nghiệp THCS đã có bằng cử nhân (MTG 25-2-16) — Ông này quá khiêm nhường, đáng lẽ phải có bằng tiến sĩ!

Nguyễn Sinh Hùng ngày càng bạo miệng

Tư Ngộ (Người Việt) – Quốc Hội CSVN được giới báo chí ngoại quốc gọi tên là con dấu cao su (rubber stamp) tức chỉ làm theo lệnh dập xuống giấy. Tất cả các đạo luật được các cơ quan của nhà nước (tay phải) đưa ra Quốc Hội (tay trái) càm ràm chiếu lệ rồi thế nào cũng thông qua với tỉ số rất cao, nếu không phải tuyệt đối. Nếu không, chẳng lẽ tay trái chém cụt tay phải?

Tuy nhiên, để ý theo dõi thời sự chính trị Việt Nam thì sẽ thấy ông Nguyễn Sinh Hùng, thường được cư dân mạng gọi là “Hùng hói,” chủ tịch Quốc Hội CSVN ngày càng bạo miệng. Với những người đang bị liệt vào thành phần “phản động” ở trong nước, nếu mà phát ngôn hung hăng như thế, không tù mọt gông thì cũng bị lũ “côn đồ được bảo kê” đập cho tới nơi tới chốn.

Cái chức “chủ tịch Quốc Hội” và ngay cả cái chức “đại biểu Quốc Hội” của ông không phải do dân bầu mà có. Nó được bộ sậu chóp bu đảng trong Bộ Chính Trị CSVN cài đặt ông ngồi lên đó làm bung xung cho có màu mè dân chủ để tuyên truyền với thiên hạ, giản dị như vậy. Ông không phải tranh với ai và nó không phải cái chức hái ra tiền (dưới gầm bàn) nhiều nhất của chế độ.

Sau cuộc đấu đá tại đại hội đảng 12 kết thúc giữa tháng trước, ông Hùng và ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, bị ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng gạt ra ngoài hệ thống quyền lực chóp bu.

Hai ông Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng chỉ thấy mấy lời phát biểu đại khái, chờ đến tháng 6 tới đây thì trả ghế, về vườn. Riêng ông Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng thì có vẻ ngày càng đưa ra những “phát ngôn ấn tượng” khiến dư luận ngạc nhiên không ít.

Hôm Thứ Ba, 23 tháng 2, 2016, khi thảo luận về thủ tục hành chánh, vấn đề cấp giấy phép hành nghề vừa khó khăn vừa phức tạp, ông Nguyễn Sinh Hùng kêu rằng, “Thủ tục hành chính của mình cay độc lắm, quá nhiều thủ tục gây phiền hà cho người dân. Nhiều thủ tục để làm gì, để có tiền thì mới xong chứ sao nữa!”

Nếu không thấy báo chí chính thống của chế độ thuật lời ông, người ta không thể tin đó lại phát ra từ miệng ông chủ tịch Quốc Hội “con dấu cao su.” Suốt bao năm qua, không biết bao nhiêu lời kêu ca về thủ tục hành chính “hành dân là chính” để vòi tiền hối lộ, đã và vẫn còn đang làm khổ người dân mỗi khi phải chạy tới cửa công quyền.

Có rất nhiều đợt cải cách hành chính được tuyên truyền, loan báo thi hành nhưng rồi chẳng giảm thiểu sự cồng kềnh rối rắm là bao nhiêu. Cũng ở trong đầu tuần này, giới đầu tư Nhật Bản đầu tư sản xuất tại Việt Nam đưa ra bản tường trình ngầm cáo buộc thủ tục hành chính của Việt Nam là cơ hội để moi tiền hối lộ “dưới gầm bàn.” Vì vậy họ nói môi trường đầu tư tại Việt Nam ngày càng xấu đi.

Một tuần trước đó, ngày 17 tháng 2, 2016, cũng tại cuộc họp của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, khi thấy chính phủ của chế độ lại xin hoãn trình luật biểu tình dù đã được lên lịch thảo luận và xin hoãn rất nhiều lần, ít ra là từ ba năm qua.

Ông Hùng kêu: “Tại sao cứ lùi đi lùi lại mãi, do làm không được hay không chịu làm? Chương trình là Quốc Hội quyết định, Bộ Chính Trị cũng đã quyết định đưa vào chương trình rồi, nhưng chính phủ cứ xin lùi mãi.”

Ông còn lên giọng: “Thường vụ Quốc Hội không đồng ý với việc lùi. Chính phủ chưa trình dự luật này ra Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, chúng tôi đã biết nội dung như thế nào đâu mà bảo là cho lùi? Tôi cho rằng đây là việc làm thiếu nghiêm túc.”

Dù vậy, cái “luật biểu tình” nếu được một chế độ độc tài đảng trị như chế độ CSVN nặn ra thì cũng sẽ không ai được tự do biểu tình, nhất là bày tỏ chính kiến. Một cái luật mà do Bộ Công An soạn thảo với sự tiếp tay của Bộ Quốc Phòng “gài độ” thì đừng có hòng tử tế, để gọi là “của dân, do dân và vì dân.”

Những năm gần đây, hàng chục người dân khi vừa mới bị bắt vào đồn công an một vài giờ tới một vài ngày thì gia đình của họ nhận được tin chết. Hầu hết đều bị vu cho là tự tử, “nhồi máu cơ tim” hay “chạy lung tung đầu đập vào tường” trong khi khám nghiệm tử thi đều thấy dập nội tạng, gãy xương sườn, gãy xương chân tay, vỡ sọ, máu chảy ra từ mũi, mắt, tai, v.v… các dấu hiệu của tra tấn nhục hình.

Liệu sẽ có bao nhiêu người sẽ bị lôi vào đồn công an rồi chết ở đó sau khi có “luật biểu tình”? Chắc gì công an sẽ tử tế hơn khi có “luật biểu tình” hay là còn độc ác hơn?

Trong cuộc họp của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội CSVN ngày 10 tháng 8, 2015, khi góp ý kiến trong phiên thảo luận về “Luật Phí và Lệ Phí” khiến dân chúng điêu đứng, ông Hùng kêu rằng, “Một quả trứng đếm ra đếm vào 14 lần để thu phí. Trời đất ơi, như thế người dân sống sao được.”

Ðầu năm 2015, báo Giáo Dục Việt Nam liệt kê ra “7 phát ngôn ấn tượng” của ông Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng trong năm 2014. Trong đó, ông từng kêu về thủ tục hành chính bắt dân chạy 15 tới 20 loại giấy cho một vụ việc là “thế này thì chỉ chết dân thôi” và kêu ca về “Luật Căn Cước” và “Luật Hộ Tịch” là “hành dân đủ kiểu thì ai chịu được.”

Thậm chí, ông còn đả kích cái dự luật “Luật Dân Sự” (sửa đổi) là “nghe thì có vẻ đúng, nhưng mà sai rồi, thiếu tôn trọng Hiến Pháp.”

Bất chấp những lời kêu ca của ông “Hùng hói,” tất cả các đạo luật mà chế độ đưa ra đều được thông qua. Một quốc hội “con dấu cao su” không bao giờ được phép vượt qua thẩm quyền của nó khi cái thủ tục “đảng cử dân bầu” vẫn còn nguyên đó để nhào nặn ra cái thứ quốc hội bù nhìn đó.

Ông Hùng chỉ nói cho sướng cái miệng khi ông biết ông không còn gì để mất. Người ta từng thấy một số kẻ tiền nhiệm của ông cũng có những phát ngôn tương tự như ông khi sắp bị cưa ghế, hoặc đã về vườn.

Ích lợi gì cho dân cho nước khi các lời nói “bạo phổi” của các ông chẳng đem lại sự thay đổi nào. Vẫn có cái đảng Cộng Sản ngồi chồm hổm trên đầu nhà nước thì dân vẫn chịu đựng một cổ hai tròng. Quốc Hội nào phải “của dân, do dân và vì dân” như chế độ tuyên truyền bịp bợm.

Phát ngôn ấn tượng của Chủ tịch QH và chuyện tháp “khủng”!

Kỳ Duyên (TuanVietNam)Nghèo mà công bằng, yên bình đã tốt. Nhưng giàu mà công bằng, yên bình chắc chắn còn tốt hơn nhiều!

Những ngày đầu xuân, tháng giêng- đến hẹn lại lên, trên các trang báo giấy, báo mạng lại đậm đặc thông tin về các lễ hội với các hoạt động “cướp có văn hóa”, theo cách biện hộ của một cựu quan chức văn hóa HN. Từ hội phết ở Hiền Quang (Phú Thọ), đến lễ hội phát ấn Đền Trần (Nam Định)…, khiến bạn đọc cũng đến hẹn lại… hỉ nộ ái ố.

Có tiền mới xong chứ sao nữa?

Nhưng sự chú ý cũng không kém là giành cho phát ngôn ấn tượng của Chủ tịch QH, tại cuộc họp của UB Thường vụ QH về dự án Luật Dược (sửa đổi). Khi ông cho rằng: Thủ tục hành chính ở Việt Nam quá ‘cay độc, độc ác’ gây phiền hà cho người dân khi đăng ký hành nghềdược. Ông tự hỏi và rồi tự trả lời: Nhiều thủ tục để làm gì? Để có tiền thì mới xong chứ sao nữa. Pháp luật nói tự do kinh doanh mà sao nghề chữa bệnh cứu người lại gây cản trở.

Chắc chắn, ông không lạ gì cái sự hành là chính này của các thủ tục. Còn các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ càng… rất quen. Và cái sự hành là chính nó cũng rất lên bổng xuống trầm.

Bởi đầu tháng 07/2015, các DN vừa và nhỏ hẳn mừng vui, vì được biết, 3.299 giấy phép “cha”, giấy phép “con”, giấy phép “cháu” (các điều kiện kinh doanh) của các bộ, ngành sẽ bị bãi bỏ và hết hiệu lực thi hành khi Luật Đầu tư 2014 chính thức có hiệu lực. Từ nay chỉ có QH, Ủy ban Thường vụ QH và CP mới có quyền ban hành các quy định về điều kiện kinh doanh. Doanh nghiệp coi như được cởi trói, điều kiện kinh doanh thông thoáng hơn (Lao động, ngày 01/7/2015).

Thế nhưng, gần nửa năm sau, cuối tháng 12/2015, kết quả rà soát bước đầu của Bộ KH &ĐT cho thấy, trong số hơn 5800 điều kiện kinh doanh ở 267 ngành nghề, vẫn còn tới gần 3000 điều kiện kinh doanh (trái luật) ngang nhiên áp dụng cho các DN. Như vậy cái sự cởi trói cho các DN của Luật Đầu tư chỉ mới có ý nghĩa… nới lỏng dây. Trả lời phỏng vấn một tờ báo, Bộ trưởng KH & ĐT Bùi Quang Vinh khẳng định, chỉ có nghị định của CP trở lên mới có quyền hạn chế quyền kinh doanh của người dân và DN. Tuy nhiên, các bộ ngành vẫn ra thông tư đặt ra điều kiện kinh doanh.

Đúng là phận các DN vừa và nhỏ quan thì xa, bản nha thì gần, thật khổ sở. Tại hội thảo “Tham vấn ý kiến về phát triển DN vừa và nhỏ 2016 – 2020”, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Thành, GV Chương trình đào tạo kinh tế Fulbright, cho rằng khối DN này vẫn bị “hành” nhiều nhất từ cơ quan nhà nước, mặc dù các DN này hiện đóng góp 45% vào GDP, 30% thu ngân sách nhà nước, tạo 55% tổng số việc làm (Thanh niên, ngày 07/01)

Cái sự hành là chính của các bộ, ngành Nhà nước, khiến các DN vừa và nhỏ long đong, lận đận liệu có liên quan gì tới hiện trạng viễn cảnh kinh tế đất nước vừa được Trí thức trẻ thông tin, ngày 23/02 mới đây, khiến dư luận XH cứ tưởng là mừng, thật ra là khó có thể vui.

Tiếp sau thông tin 20 năm nữa, GDP bình quân đầu người VN mới đuổi kịp Malaysia hiện tại (Trí thức trẻ, ngày 25/11/2015), mới đây cũng tờ báo này cho biết,  20 năm nữa, VN sẽ có cơ hội bằng Hàn Quốc, nhưng là ở năm… 2000 của quốc gia này. Tờ báo cho biết, nếu duy trì mức tăng trưởng kinh tế tối thiểu 7%/năm trong 20 năm, người Việt có thể đạt mức thu nhập bình quân đầu người 7000 USD/ năm. Con số này nếu quy ra sức mua tương đương, sẽ ngang bằng với Hàn Quốc năm 2000. Ngược lại, không đạt mục tiêu trên, VN sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Hiểu đơn giản là “mãi không tăng trưởng nổi”.

Một bài toán mà đáp số đã có vẻ rất gần. Bởi trong hành trình 20 năm sắp tới đó, ai có thể bảo đảm mức tăng trưởng nước Việt luôn phải 7%/ năm? Nếu vẫn với thể chế kinh tế nhiều bất cập như hiện nay. Và sự cải cách thì luôn gặp phải lợi ích nhóm?

Nhóm mà to hơn cả… quốc gia?

Còn thân phận các DN vừa và nhỏ thì chả có quyền hỉ nộ ái ố gì trong cái môi trường kinh doanh bất bình đẳng.

Giàu mà công bằng, bình yên còn… tốt hơn nhiều!

Một phát ngôn khác cũng gây ấn tượng không kém, và được dư luận XH trên báo chí, các trang mạng bàn luận sôi nổi, đa chiều. Đó là phát ngôn của Bí thư Thành ủy HN Hoàng Trung Hải ngày 23/2 khi ông về làm việc với huyện Ba Vì. Nhìn nhận về những phát triển kinh tế, thu hút du khách du lịch của Ba Vì…, đều rất quan trọng nhưng “tội phạm nhiều, người dân không dám ra đường thì cũng vứt đi”, ông cho rằng:

Kinh tế chưa phải là số 01. Số 01 là xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng cho DN, tạo môi trường sinh sống an lành cho nhân dân. Thà sống nghèo mà công bằng, yên bình còn hơn giàu mà không công bằng, không yên bình. Đây là nhiệm vụ mà nòng cốt phải làm cho tốt” (VietNamNet, ngày 23/2)

Nói cho cùng, điều ông mong mỏi sự công bằng, yên bình đến mức thà sống nghèo còn hơn giàu mà không công bằng, yên bình, phản chiếu tâm lý và tư duy nền nếp của người Việt một thời, từng là đạo lý sống rất đẹp của người Việt. Thậm chí đã thành triết lý nhân sinh quan. Như giấy rách phải giữ lấy lề; đói cho sạch, rách cho thơm. Triết lý ấy, nhân sinh quan ấy hẳn đã khiến cho không biết bao gia đình nghèo vẫn dạy con nên người. Và tạo nên hình ảnh đẹp của người Việt một thời.

Nhưng mỗi thời cuộc có một thước đo lịch sử khác nhau. Lịch sử nước Việt nói chung, Thủ đô HN và huyện Ba Vì nói riêng muốn hay không đã giở sang trang mới- thời của hội nhập hiện đại và văn minh, văn hóa. Thì cái thước đo cho gia đình Việt xưa kia, rất khó có thể là thước đo chung cho 7-8 triệu gia đình HN, khi mà đây vẫn là một trong hai đô thị có mức sống cao của cả nước và trình độ dân trí giàu nghèo khác nhau. Làm giàu không chỉ là khát vọng chính đáng, còn là tham vọng của không ít gia đình.

Mặt khác, sự nghèo khó xưa nay bao giờ cũng có phần là nguồn gốc của nhiều sự bất ổn trong XH. Nghèo khó dễ sinh ra đạo tặc, trộm cướp, dễ song hành cùng dốt nát. Nhất là nước Việt đang còn phải “kéo cày” để có thể trả nợ công, để có thể phấn đấu mức độ tăng trưởng 7% với hy vọng 20 năm sau mức sống bằng năm 2000 của Hàn Quốc. Kinh tế và văn hóa phải song hành và nên coi là số 01. Mà cái gốc là giáo dục

Nhưng người viết bài cũng tâm đắc và chia sẻ với quan niệm của ông- khi ông nhận ra rằng- một trong những nguyên nhân làm chậm quá trình phát triển là cải cách hành chính. Đây là hạn chế của cả bộ máy thành phố.

Đây cũng không phải là yếu kém của riêng ai. Chủ tịch QH trong cuộc làm việc với UBTVQH đã “chạm’ đến một trong những “nút” khó gỡ nhất của sự phát triển của nước Việt- CCHC. Thông qua việc bàn về những hành xử “cay độc, độc ác” của thủ tục hành là chính.

Nhưng cũng không chỉ CCHC, muốn nước Việt nói chung, Thủ đô HN nói riêng tăng tốc trong sự phát triển, còn cần có một chiếc chìa khóa… vàng khác. Đó là năng suất lao động phải tăng. Bởi nước Việt vốn là quốc gia nông nghiệp, văn hóa tiểu nông thấm đậm trong tư duy kinh tế, lại bị ảnh hưởng ở một số mô hình kinh tế lỗi thời, dây chuyền công nghệ cũ kỹ lạc hậu, và chất lượng nguồn đào tạo nhân lực còn thấp. Điều đó, kéo theo năng suất lao động, giá trị lao động và hiệu quả lao động … tương đồng.

Dư luận XH hẳn chưa quên tháng 5/2014, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đánh giá năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp nhất ở Châu Á- Thái Bình Dương. Nhưng đặc biệt, chỉ bằng 1/15 của Singapore.

Không phải vô lý khi ông Paul Krugman, GS ĐH Princenton (Mỹ) giải thưởng Nobel Kinh tế học năm 2008 từng tổng kết: “Năng suất không phải là tất cả, nhưng về lâu dài thì nó gần như là tất cả” (Trí thức trẻ, ngày 23/2)

Cái gần như là tất cả” đó đang cần gì? Nếu không phải là tái cơ cấu kinh tế, đổi mới dây chuyền công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Chả lẽ nước Việt lại chỉ có thể cam chịu chờ đợi, như trong câu chuyện cổ tích xưa: Năng suất ơi…. mở cửa!

Nghèo mà công bằng, yên bình đã tốt. Nhưng giàu mà công bằng, yên bình chắc chắn còn tốt hơn nhiều!

“VTV có cần xây tháp truyền hình”?

Cần phải dùng câu hỏi của Chủ tịch UBND t/p Hà Nội Nguyễn Đức Chung là tiêu đề chung của vấn đề này- Dự án xây Tháp truyền hình cao nhất thế giới 636 mét của VTV, đang làm nổi sóng dư luận.

Không nổi sóng sao được, giữa lúc HN vừa công bố 42 chung cư cũ nguy hiểm sắp đổ, nhưng vì sự nhùng nhằng lợi ích giữa các DN, dân cư mà đến giờ vẫn chưa có giải pháp rõ ràng. Thì việc Dự án xây Tháp truyền hình cao nhất thế giới 636 m, cao hơn cả hai tháp TH được coi là cao nhất hiện nay, tháp Sky Tree (Tokyo – Nhật Bản) cao 634m, hoàn thành năm 2012, và tháp truyền hình Quảng Châu (Trung Quốc) cao 600m, hoàn thành năm 2009, được đưa ra.

Người Việt mình thì bé nhỏ, chậm phát triển, nhưng cái gì cũng muốn “nhất thế giới”, cả tinh thần và vật chất. Lúc thì hạnh phúc, lạc quan nhất thế giới. Lúc thì bánh chưng, bánh dầy, tô phở lớn nhất thế giới… Nay đến lượt tháp truyền hình cũng phải cao nhất thế giới.

Nhưng tháp truyền hình cao nhất thế giới đó, để dân có lợi gì, thì chưa ai trả lời được.

“Nhà đài” mới chỉ có thể trả lời về những con số khủng của dự án có… lợi cho nhà đài.

Đó là không chỉ xây tháp và khối đế tháp với tổng diện tích khoảng 14,1 ha, mà VTV còn xây dựng khối phụ trợ bao gồm các chung cư, văn phòng, khách sạn, khu dịch vụ, vui chơi giải trí và tổ chức sự kiện. Riêng mật độ xây dựng chung cư cao cấp từ 30% đến 50% diện tích (khoảng 300.000 – 600.000 m2). Đồng thời, VTV còn xin hàng loạt ưu đãi vốn chỉ áp dụng cho các dự án đầu tư vào những vùng “đặc biệt khó khăn”. Ví như miễn các loại thuế DN, thuế nhập khẩu các vật tư, máy móc. Và kinh phí đầu tư của dự án cũng rất “khủng”, từ 1,3 đến 1,5 tỷ USD, trong đó riêng phần khối tháp là 900 triệu USD. Và như ông Nguyễn Thành Lương, PGĐ Đài truyền hình VN thản nhiên: Ai cũng vậy thôi, ai cũng muốn có lợi nhất cho mình (Đất Việt, ngày 26/2).

Dĩ nhiên, sóng dư luận cũng lập tức nổi lên.

Trước hết là ý kiến các nhà chuyên môn. Tỷ như Phó GS, TS Phạm Ngọc Đăng, Chủ tịch Hội môi trường Xây dựng VN rất phản đối, khi ông cho rằng, thời đại công nghệ hiện nay không nước nào say mê với tháp truyền hình cao nữa. Đó là tư duy cũ rồi. Khi Nhật Bản xây dựng tháp Tokyo là đang ở đỉnh cao của sự phát triển về kinh tế và xã hội. Nhật xây tháp còn vì mục đích chính là để đáp ứng yêu cầu của ngành truyền hình lúc bấy giờ, chứ không phải xây tháp truyền hình vì mục đích kinh doanh dịch vụ hay kinh doanh BĐS.

Và ông cũng lưu ý một điều rằng, không một nhà đầu tư nào sẵn sàng đổ tiền đầu tư vào một dự án mà họ không nhìn thấy lợi nhuận. Nhưng tại sao VTV vẫn làm? Họ làm vì ai?  Chắc chắn, mục đích của họ là hướng tới những chính sách ưu đãi của nhà nước, khi mà dự án có hàng trăm căn hộ cao cấp cùng với khách sạn, nhà hàng, khu trung tâm thương mại mọc lên (Đất Việt, ngày 23/2).

Đó có lẽ mới là mục đích chính của dự án này, đâu phải đáp ứng nhu cầu truyền hình của người dân. Còn như ai đó đã huỵch toẹt: Thực chất là chuyện BĐS, kinh doanh du lịch, là như dân gian đã nói nhìn rau gắp thịt.

Nhưng quan trọng hơn, là những điều mà theo KTS Ngô Doãn Đức, có rất nhiều vấn đề của dự án đã không được đồng ý. Đáng chú ý nhất, độ cao của dự án có khả năng đe dọa nghiêm trọng tới an ninh quốc phòng. Trước đây, VTV đã từng trình phương án xây dựng này nhưng Bộ Quốc phòng cho biết, nếu thực hiện dự án sẽ có nguy cơ đe dọa an ninh quốc phòng, vi phạm vùng bay. Trong các dịp đại lễ, duyệt binh, nếu máy bay bay từ sông Hồng vào Quảng trường Ba Đình, tháp này sẽ gây cản trở. Thêm nữa, theo đuổi một dự án mà công nghệ đã lạc hậu từ hàng chục năm rồi, có nên không? Đến năm 2020, Việt Nam sẽ hoàn thành Đề án số hóa truyền hình, khi đó toàn bộ mạng truyền dẫn phát sóng truyền hình mặt đất sẽ chuyển sang công nghệ số DVB-T2. Lúc đó tháp cao là không hữu ích (Đất Việt, ngày 26/2).

Ở góc độ ĐBQH, thành viên của cơ quan giám sát, bà Bùi Thị An cũng đặt ra một loạt những câu hỏi. Rằng, tác động thực tiễn của công trình tới sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và cả nước như thế nào? Dù xây dựng bằng nguồn vốn nào cũng là nguồn lực của toàn xã hội, là tiền của của dân, vì vậy VTV phải trả lời được câu hỏi: Đầu tư rồi, khi nào sẽ thu hồi được vốn?

Nhưng khó nhất có lẽ là câu hỏi của ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND t/p: VTV có cần xây tháp truyền hình? Khi mà kỹ thuật công nghệ truyền hình nay chỉ cần vệ tinh? Khi mà diện tích trước đó theo dự án là 14,5 ha, nay mở rộng tới 49 ha, sẽ phải giải phóng mặt bằng của hàng nghìn hộ dân, rất khó khả thi. Và trong khi nhất loạt những phản biện của các nhà chuyên môn, ĐBQH đều trả lời và khẳng định- không cần thiết!

Hàng loạt những vấn đề “cay độc, độc ác”, “nghèo mà bình yên”, hay “ai hưởng lợi” nảy sinh, chỉ xoay quanh mỗi chữ- Kim Tiền.

Nghe nhắc đến tên mình, nét mặt Kim Tiền bỗng vênh vang, tự đắc. Ngài lim dim mắt, nhìn xa xôi mà bảo: – Chứ sao? Thời của ta, không cần thiết cũng thành … cần thiết. Hiểu chưa?

-Dạ!

Comments
  1. vivi099 says:

    Bài viết phân tích rõ.
    Nhưng “Đừng nghe, đừng nhìn, đừng tin những gì Việt Cộng nói và làm” !
    Duy nhất chế độ này sụp đổ thì Đất Nước Việt tồn tại và Dân Tộc Việt văn minh.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s