Hoang tưởng: Tăng trưởng 9% trong 20 năm 2016-2035

Posted: March 4, 2016 in Uncategorized
Tags:

Blog Tôi Thích Đọc – Đám lãnh đạo cộng sản chỉ thích sống bằng mồ hôi và máu của người khác; làm cách mạng để bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình; trí tuệ, kiến thức bằng quả nho nhưng lòng tham thì vô cùng tận; thích làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu…

� Xem thêm: Bịp bợm: VN thay TQ thành Trung tâm công nghiệp thế giới + Hơn 18.000 doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động.

Chuyên gia đã dự báo dù có cải cách tốt nhất thì tốc độ tăng trưởng tối đa của VN trong 20 năm tới không quá 8%/năm, nhưng bác Đam vẫn yêu cầu cao hơn, phải 9%. Bác không nhớ hồi Thủ tướng Dũng lúc mới lên nắm quyền đã đặt ra mục tiêu cơ bản hoàn thành xong kế hoạch 5 năm 2006-2010 ngay trong năm 2008 để từ 2009 bắt tay vào kế hoạch 5 năm mới với mục tiêu tăng trưởng 12-13%/năm. Một kế hoạch và mục tiêu điên rồ, tương tự như một cỗ máy chỉ được phép chạy tối đa 100km/h nhưng người vận hành nhất quyết bắt nó chạy 150-200km/h. Hậu quả nhãn tiền là khủng hoảng ngay trong năm 2007 và tiếp đó đất nước liên tiếp rơi vào 3 cuộc khủng hoảng lớn (2008, 2010 và 2012), buộc Bộ Chính trị phải đưa ra 2 kết luận kinh tế (2008 và 2011) chưa từng có trong lịch sử và đề nghị Trung ương kỷ luật đồng chí X (2012).

Sau 10 năm phát triển rồ dại vừa qua, đất nước còn tiềm lực gì để phát triển tương lai ?

Đất đai tài nguyên cơ bản hết, nợ nước ngoài như chúa chổm, thế hệ lao động vàng đi tong, cơ sở hạ tầng chẳng có gì đáng kể, nhà cửa công trình manh mún, chất lượng thảm hại trước sau cũng sẽ phải phá đi xây lại, văn hóa, y tế, xã hội xuống cấp trầm trọng, các nền tảng đạo đức, văn minh cơ bản của con người bị tàn phá tam hoang.

Trong bối cảnh như thế, tăng trưởng liên tục 7-8% đã quá là kỳ tích, lại còn hoang tưởng nghĩ tới 9%. Nghe anh em kể về quá trình làm báo cáo VN 2035 và danh sách các quan chức đến dự buổi lễ ra mắt báo cáo mà buồn (toàn các bác đã về hưu, sắp về hưu hoặc chẳng có thực quyền; Thủ tướng Dũng cũng không đến dự). Đến nay báo cáo chính thức vẫn chưa làm xong, vừa rồi mới tạm công bố vì Chủ tịch Ngân hàng thế giới đến Việt Nam.

Báo cáo Việt Nam 2035
và bài toán của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam

(MTG) 28-02-2016 – Một sự kiện đáng chú ý và có tầm quan trọng lớn đối với tương lai nền kinh tế Việt Nam đã diễn ra vào những ngày cuối cùng của tháng 2.2016, khi bản báo cáo Việt Nam 2035 đã được Giám đốc Ngân hàng thế giới (WB) công bố trong buổi họp báo tuần qua qua.

Bản báo cáo này có thể được xem như kim chỉ nam cho hoạt động phát triển kinh tế mà Việt Nam sẽ đi theo trong vòng 20 năm tới, cũng như những mục tiêu rõ ràng mà Việt Nam sẽ hướng tới. Theo đó, mục tiêu mà Việt Nam đặt ra trong vòng hai thập niên sắp tới sẽ là phải đạt được mức thu nhập GDP bình quân đầu người hằng năm là 7.000 USD/người (tương đương 18.000 USD tính theo sức mua). Và để đạt được mục tiêu đó, Việt Nam sẽ phải tăng trưởng cao và ổn định liên tục trong vòng 20 năm với mức tăng trưởng trung bình là 8% GDP/năm. Rõ ràng, đó là một kế hoạch dài hơi và đầy chông gai.

Một câu chuyện đáng chú ý được chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan chia sẻ sau họp báo công bố bản báo cáo Việt Nam 2035, là trong quá trình thực hiện bản báo cáo, nhóm chuyên gia thực hiện đã nhận được câu hỏi của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, rằng liệu Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng trung bình 9%/năm trong vòng 20 năm tới để đất nước hóa rồng hay không. Bài toán mà Phó thủ tướng đặt ra cho nhóm chuyên gia thực hiện báo cáo Việt Nam 2035 là một vấn đề đáng suy nghĩ, khi mà mục tiêu bản báo cáo đặt ra cho Việt Nam chỉ là mức tăng trưởng trung bình 8%/năm trong vòng 20 năm tới. Nói cách khác, vấn đề được đặt ra là liệu nền kinh tế Việt Nam có thể vươn xa nhất tới mức nào, và mức tăng trưởng nào là phù hợp nhất trong tương lai.

Trên thực tế, mục tiêu mà bản báo cáo Việt Nam 2035 của WB vừa công bố cũng không hẳn là quá lớn lao, nếu chúng ta xét đến sự tương quan với các nước trong khu vực. Nếu Việt Nam đạt được mục tiêu mà bản báo cáo đề ra, tức là đạt mức tăng trưởng bình quân 8% trong vòng 20 năm tới, thì kết quả đạt được cũng tương đối hữu hạn mà thôi. Cụ thể là, nếu đạt được mục tiêu đó, thì mức thu nhập GDP bình quân đầu người của người Việt Nam tới năm 2035 là khoảng 7.000 USD/người, so với mức gần 2.200 USD/người hiện nay là gấp hơn 3 lần. Tuy nhiên, nếu so với các nước trong khu vực, thì đây vẫn là một con số không phải lớn, chẳng hạn như con số này chỉ ngang bằng Hàn Quốc ở thời điểm năm 2000, hay bằng với Malaysia năm 2010.

Điều này có nghĩa, kể cả Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng rất cao (trung bình GDP tăng 8% trong vòng 20 năm liên tiếp, là dạng tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới), thì khoảng cách về thu nhập của chúng ta với các nước trong khu vực và trên thế giới cũng vẫn còn rất xa. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ dừng lại ở đó.

Để tìm ra câu trả lời cho bài toán của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan chia sẻ rằng cả các chuyên gia WB lẫn nhóm chuyên gia trong nước sau khi chạy đủ các mô hình tính toán kinh tế, thì câu trả lời là: không thể. Nghĩa là về lý thuyết, cơ hội để Việt Nam có thể đạt được mức tăng trưởng trung bình 9%/năm liên tiếp trong 20 năm tới theo bài toán của Phó thủ tướng (cao hơn 1% so với mức tăng trưởng mà báo cáo 2035 đề ra) gần như rất nhỏ.

Câu trả lời mà nhóm chuyên gia WB và chuyên gia trong nước cho câu hỏi của Phó thủ tướng vì thế cũng xác định rõ ràng một vấn đề: tốc độ tăng trưởng cao nhất mà Việt Nam có thể đạt được trung bình trong 20 năm tới chỉ là 8%/năm mà thôi. Nó có nghĩa, kể cả khi Việt Nam tiến hành cải cách mạnh mẽ và thúc đẩy tất cả các lợi thế đang sở hữu thì mốc cao nhất có thể với tới vẫn chỉ là mức mà bản báo cáo 2035 đã đặt ra. Còn nếu kịch bản diễn ra một cách tồi tệ hơn, chẳng hạn trong trường hợp Việt Nam không tiến hành cải cách kinh tế, thì mức tối đa mà chúng ta có thể đạt được cho tới năm 2035 chỉ là mức thu nhập GDP bình quân đầu người khoảng 4.500 USD/người, cao hơn gấp đôi con số 2.200 USD/người hiện nay, và đẩy Việt Nam xuống vị trí vẫn là một nước có thu nhập trung bình thấp của thế giới.

Đó là chưa kể, việc đặt ra mục tiêu tăng trưởng bình quân 8%/năm trong vòng 20 năm tiếp theo của Việt Nam không phải là kết quả tất yếu sẽ đạt được. Đó là mức cao nhất mà Việt Nam có thể, và giữa mục tiêu đề ra và kết quả thu được thì thường bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định. Trên thực tế, có rất ít các quốc gia trên thế giới có thể đạt được mức tăng trưởng bình quân trên 8%/năm liên tiếp trong vòng 20 năm. Các quốc gia được xem là hình mẫu thành công trong khu vực và trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore hay Malaysia cũng chưa từng làm được điều này kể cả trong giai đoạn các quốc gia này tăng trưởng mạnh mẽ nhất để đạt được những vị trí cao trên bảng xếp hạng các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Trường hợp có thể được xem là ngoại lệ duy nhất là Trung Quốc khi nước này có mức tăng trưởng trung bình khoảng 10%/năm trong thời kỳ từ 1990-2010. Nhưng đây là trường hợp đặc biệt và gần như không thể lặp lại, nhất là đối với Việt Nam. Ngoài việc sở hữu một mô hình tăng trưởng khá hiệu quả, thì yếu tố quan trọng giúp Trung Quốc duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình 10% trong giai đoạn 1990-2010 là một thị trường lớn và có sức tiêu thụ thuộc hàng lớn nhất thế giới. Kể cả khi nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng thì Trung Quốc vẫn có thể tăng trưởng cao do nước này có thể kích thích thị trường nội địa để bù đắp lại.

Việt Nam không dễ làm được điều tương tự, và vì thế khả năng có thể duy trì tốc độ bình quân 8%/năm trong liên tiếp 20 năm là bài toán hóc búa. Bản thân nền kinh tế Việt Nam vừa mới thoát khỏi khoảng thời gian khó khăn do khủng hoảng trong giai đoạn 2007-2011 khi tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn này chỉ đạt 5-6%. Các yếu tố cơ bản của nền kinh tế như nguồn lực và chi phí lao động của Việt Nam cũng không thể đảm bảo một mức tăng trưởng cao và ổn định trong 20 năm. Theo thống kê, giai đoạn dân số vàng trong tuổi lao động của Việt Nam sẽ đạt đỉnh và trôi qua phần lớn trong vòng 15 năm sắp tới, điều này sẽ ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng kinh tế ổn định ở Việt Nam vốn vẫn dựa nhiều vào sức lao động.

Ngoài ra, các yếu tố biến động từ nền kinh tế toàn cầu cũng sẽ có ảnh hưởng lớn tới mục tiêu tăng trưởng tham vọng này của Việt Nam. Ở thời điểm hiện tại, theo thống kê của Công ty tư vấn McKinsey thì Việt Nam xếp hạng 37/139 quốc gia trên thế giới về mức độ kết nối toàn cầu. Điều này có nghĩa là mức ảnh hưởng của kinh tế thế giới tới kinh tế Việt Nam khá cao, khi kinh tế thế giới ổn định thì Việt Nam có khả năng tăng trưởng nhanh, và ngược lại. Theo nhận định của các chuyên gia WB, nền kinh tế Việt Nam có quy mô nhỏ nhưng lại có mức độ kết nối và hội nhập cao, vì thế sẽ chịu nhiều tác động hơn khi nền kinh tế thế giới bị trục trặc và khủng hoảng. Mà rõ ràng trong 20 năm tới không ai dám chắc kinh tế thế giới có hoàn toàn khỏe mạnh hay không.

Tác giả: Nhàn Đàm (bài viết có sử dụng một số thông tin từ The Saigon Times, CafeF, Cafebiz)

Bịp bợm: VN thay TQ
thành Trung tâm công nghiệp thế giới

Blog Tôi Thích Đọc – Mình biết bác Thành đã 25 năm, đã từng làm quân của bác mấy tháng sau khi học TS ở nước ngoài về trong khi đợi chỗ làm việc mới. Hồi đó mỗi khi họp hành, nghe bác Thành phát biểu, mình thường không ngửi được nên nhiều khi buộc phải phát biểu phản bác.

Lạ là trong khi đối với người khác bác không coi ra gì, nhưng mỗi khi bị mình phản bác, bác đều im lặng hoặc cười xuê xoa. Có lần bác và chuyên gia dự án DTZ trình bày báo cáo tại hội trường lớn CIEM, mọi người đề nghị mình phát biểu đầu tiên. Mình tuy không muốn nhưng đành phát biểu vài lời phê phán. Bác Thành chân thành nhận thiếu sót, nhưng đổ lỗi cho chuyên gia Đức không nắm được thực tế Việt Nam. Sau đó không có bất cứ ai phát biểu nên buổi báo cáo kết quả tan sớm… Sau này chứng kiến bác trình bày báo cáo ở các nơi, mình rất thất vọng, chủ yếu vì bác không nghiên cứu, làm việc đến nơi đến chốn, tùy tiện phát biểu vung mạng, lúc đúng lúc sai, mâu thuẫn tùm lum. Lần nghe bác gần đây nhất, mình thấy khi trình bày 2 chương của báo cáo Việt Nam 2035, bác chẳng chuẩn bị gì, phát biểu lung tung; lúc nghỉ giải lao nhiều người nói với mình họ rất không hài lòng về sự chuẩn bị của bác nhưng họ không muốn phát biểu ra. Đáng tiếc là lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cứ để yên cho bác phát biểu; nếu mình ở địa vị ông lãnh đạo này, chắc chắn mình sẽ giải tán ngay cuộc họp, yêu cầu bác về chuẩn bị lại tử tế rồi hẵng ra trình bày.

Với thể chế và cách quản lý hiện này, chưa có dấu hiệu sẽ thay đổi trong tương lai, thì bác hô hào “VN có thể thay TQ trở thành trung tâm công nghiệp thế giới” chỉ là bịp bợm đúng theo ý đồ của tầng lớp thống trị. Tiếc thay một người có tài, thông minh mà sống theo kiểu chụp giật, vội vã nên bác biết cái gì cũng không đến nơi đến chốn; do đó không thể trở thành một nhà khoa học chân chính đáng được xã hội trân trọng. Xem thêm: TẠI SAO THÁI ĐỘ QUAN TRỌNG HƠN THÔNG MINH

Việt Nam có thể thay thế Trung Quốc
để trở thành Trung tâm công nghiệp của thế giới

An Ngọc (CAF) Theo Trí thức trẻ – Đưa ra quan điểm tại Diễn đàn “Hiệp định TPP – Cơ hội và thách thức phát triển ngành công nghiệp Việt Nam” do Bộ Công Thương tổ chức, TS. Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng Việt Nam có nhiều cơ hội để trở thành trung tâm công nghiệp của thế giới.


TS. Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế

Việt Nam có thể trở thành trung tâm công nghiệp và những sản xuất như dệt may, da giày… sẽ là những ngành được hưởng lợi trong chuỗi sản xuất toàn cầu khi TPP có hiệu lực. Theo TS. Thành, các hiệp định tự do thế hệ mới (FTAs) đặc biệt là TPP đã mang lại nhiều cơ hội mới trong đầu tư của nhiều ngành của Việt Nam.

Nhìn vào quá trình phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa, TS. Thành chỉ ra ba thay đổi lớn của Việt Nam: trước hết, từ nền kinh tế hoàn toàn dựa vào nông nghiệp đã chuyển dần sang công nghiệp, dịch vụ; từ kinh tế khép kín sang kinh tế hội nhập và mở cửa với nhiều nước; từ nền kinh tế dựa chủ yếu vào kinh tế Nhà nước sang dựa chủ yếu hơn vào doanh nghiệp tư nhân trong nước và nước ngoài.

Đặt trong bối cảnh các nước trên thế giới đang thiết lập những luật chơi và sân chơi mới, khiến cho vai trò của Nhà nước thu hẹp dần và đặt ra những yêu cầu mới đặt ra trong sản xuất kinh doanh. Theo đó, thế giới sẽ vẫn bị chi phối bởi hàng trăm doanh nghiệp đa quốc gia và các định hướng phát triển của các doanh nghiệp cũng sẽ chịu tác động của luật chơi mới này.

Câu hỏi đặt ra: Việt Nam có thể thay thế Trung Quốc để có thể trở thành trung tâm công nghiệp lớn của thế giới, hình thành nên một cứ điểm trong mạng lưới chuỗi cung ứng toàn cầu từ các tập đoàn đa quốc gia?

Theo TS. Võ Trí Thành, với hiệp định thương mại TPP, quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa sẽ giúp cho các ngành điển hình về mạng sản xuất và giá trị toàn cầu như dệt may, da giày… sẽ được hưởng lợi nhiều nhất.

“Điều này tạo sự dịch chuyển và cơ hội chưa từng có để cải tổ ngành công nghiệp Việt Nam” – TS. Võ Trí Thành nhận định.

Lý giải về điều này, TS. Thành cho rằng cùng với TPP, việc tham gia FTA với EU sẽ tạo ra hai hiệp định cao nhất về chất lượng. Đây là hai hiệp định có ý nghĩa lớn để phát triển mạng lưới, gắn với đó là công nghệ, tiêu chuẩn giúp Việt Nam đạt được mục tiêu phát triển là trung tâm công nghiệp.

Tuy nhiên, TS. Thành lại bày tỏ lo ngại: “Liệu Việt Nam có tận dụng được cơ hội theo nghĩa hiện đại hóa khi mà doanh nghiệp Việt Nam không lớn lên được? Bởi trước khi doanh nghiệp lớn lên được thì đã có xu hướng cá thể hoá, li ti hoá”.

Khi đã giải quyết được bài toán này, thì với việc tham gia các FTA thế hệ mới, gần như tất cả các đối tác thương mại và các nhà đầu tư chủ chốt đều tham gia, đã mở ra nhiều cơ hội. Dẫn chứng là kể từ năm 2013 nhiều tỷ USD đã được đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt trong các ngành điện tử, dệt may… bước đầu hình thành nên mạng lưới sản xuất. Đây là cơ hội lớn cho Việt Nam và doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập mới:

Theo đó, các ngành sẽ có hiều cơ hội mới cho đầu tư được TS. Thành chỉ ra bao gồm:

– Xuất khẩu các ngành có lợi thế so sánh như dệt may, da giày, nội thất, gạo, cà phê, thủy sản…

– Hàng hóa tiêu dùng như phân phối, dược phẩm, du lịch và giải trí

– Cơ sở hạ tầng và phát triển bất động sản

– Logistics

– Đồng thời, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tham gia mạng lưới sản xuất/cụm công nghiệp do các công ty xuyên quốc gia dẫn dắt, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, các dịch vụ kết nối kinh doanh.

– Sự nổi lên công nghiệp xanh, công nghệ thông tin thông minh, thương mại điện tử và công nghiệp sáng tạo.

Theo TS. Thành, Việt Nam đang trong thời điểm quyết định để chuyển đổi mô hình phát triển bằng cách thiết lập nên nền tảng để vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Tuy nhiên, Việt Nam cần phải có một lực đẩy mới cho cải cách và hiện thực hóa các tiềm năng của người dân, cải cách thể chế và thúc đẩy đổi mới….

Hơn 18.000 doanh nghiệp
giải thể, tạm ngừng hoạt động

Minh Long (PLO) – Tổng số doanh nghiệp (DN) giải thể và tạm ngừng hoạt động trong hai tháng đầu năm nay là 18.666 DN, theo Tổng cục Thống kê.

Trong đó số DN hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh là 2.195, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, phần lớn là những đơn vị có quy mô nhỏ. Số DN gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động là 16.471, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước.

Cũng theo Tổng cục Thống kê, hai tháng đầu năm nay cả nước có gần 14.000 DN đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 113.000 tỉ đồng, tăng 1% về số lượng và tăng 45% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Số vốn đăng ký bình quân một DN đạt 8,1 tỉ đồng, tăng 44%.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s