Vì sao nợ lại vượt trần?

Posted: March 9, 2016 in Uncategorized
Tags:

Ngọc Lan (TBKTSG Online) – Tỉ lệ nợ Chính phủ đến nay cao hơn ngưỡng cho phép, bội chi ngân sách trên GDP cao hơn nhiều so với mục tiêu đề ra; số nợ đọng xây dựng cơ bản, nợ vốn ứng trước ngân sách trung ương đến năm 2015 không những không giảm đi mà thực tế còn cao hơn những năm trước… là một phần bức tranh kinh tế-xã hội năm 2015 mới được Chính phủ báo cáo bổ sung.

� Xem thêm: Nguyễn Sinh Hùng cảnh cáo Nguyễn Xuân Phúc, đá giò lái Nguyễn Tấn Dũng “Nợ công 5 năm tới tăng như vừa rồi là chết!” + Nỗi xấu hổ xuất khẩu lao động: Đau xót thành tích làm thuê.


Ủy ban Tài chính-Ngân sách cảnh báo các dự án đầu tư PPP vào giao thông
tiềm ẩn nhiều rủi ro; việc xây các trạm thu phí bất hợp lý khiến dư luận búc xúc. Ảnh:TL

Trong Báo cáo tóm tắt đánh giá bổ sung kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2015 và triển khai kế hoạch năm 2016 được Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội hôm nay 7-3, Chính phủ đưa ra con số tỉ lệ bội chi ngân sách năm 2015 bằng 6,1% GDP, cao hơn mức đã báo cáo Quốc hội, do quy mô GDP năm 2015 thực tế giảm.

Dư nợ công đến cuối năm 2015 bằng 62,2% GDP; nợ Chính phủ là 50,3%; nợ nước ngoài của quốc gia là 43,1%.

Trong ba số liệu về nợ nêu trên, tỉ lệ nợ Chính phủ đã vượt trần so với mức cho phép chỉ là 50%. Ngoài lý do quy mô GDP năm 2015 thực tế giảm so với con số báo cáo trước đó, cân đối ngân sách gặp nhiều khó khăn dẫn đến tỉ lệ bội chi/GDP cao hơn nghị quyết Quốc hội đề ra.

Nghị quyết trước đây của Quốc hội chỉ cho phép bội chi ngân sách vào năm 2015 đạt dưới 4,5%, tính luôn cả trái phiếu Chính phủ. Nhưng thực tế những năm gần đây chỉ có năm 2011 đạt 4,4%; những năm sau đó bội chi ngân sách đều tăng cao “vượt trần” (năm 2012 là 5,36% GDP, năm 2013 là 6,6% GDP, năm 2014 là 5,69% GDP và năm 2015 lại tăng lên 6,1% GDP).

Có thể tìm được lý do vì sao nợ Chính phủ tăng cao, bội chi ngân sách không những không giảm mà mỗi ngày một tăng trong một báo cáo của Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội thẩm tra về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 (Báo cáo về kế hoạch đầu tư công trung hạn của Chính phủ lần đầu tiên cũng được trình ra hôm nay 7-3 nhưng không được Thường vụ Quốc hội thông qua do chưa giải trình cụ thể nhiều vấn đề – PV).

Theo báo cáo này, một nguyên nhân lớn dẫn đến vốn ngân sách, nợ Chính phủ, bội chi cao là do trật tự ưu tiên bố trí vốn chưa đảm bảo, dàn trải; chưa ưu tiên bố trí vốn xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB), hoàn trả vốn ứng trước. Khi khảo sát địa phương, Ủy ban Tài chính – Ngân sách nhận thấy tình trạng nợ đọng vốn XDCB, nợ ứng trước ngân sách còn cao và số liệu nợ còn thiếu chính xác. Thất thoát lãng phí trong đầu tư còn rất lớn.

Ủy ban này dẫn ra ví dụ: Chính phủ ra chỉ thị từ năm 2012 về tăng cường đầu tư và quản lý nợ đọng XDCB, đưa ra yêu cầu ngay từ năm 2013 ưu tiên bố trí vốn để xử lý nợ đọng XDCB, đảm bảo đến hết năm 2015 phải hoàn thành việc xử lý nợ đọng XDCB. Tuy nhiên theo báo cáo, đến hết năm 2014, nợ đọng XDCB và vốn ứng trước nguồn NSNN và TPCP vẫn ở mức cao, khoảng gần 87.000 tỉ đồng, không những không giảm mà còn tăng nhanh vì trước đó, theo báo cáo tháng 11-2013 của Chính phủ trình Quốc hội thì số nợ đọng XDCB từ nguồn ngân sách và trái phiếu đến hết tháng 6-2013 mới là 43.358 tỉ đồng.

Các dự án PPP tiềm ẩn nhiều rủi ro

Ủy ban Tài chính-Ngân sách đánh giá việc thu hút vốn ngoài ngân sách cho các dự án đầu tư và thực hiện cơ chế hợp tác công-tư (PPP) là hướng đi đúng song cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trong tương lai như quy mô một số dự án BT (xây dựng-chuyển giao) quá lớn, vượt quá khả năng bố trí vốn, kiểm soát chi phí và chất lượng công trình còn thiếu chặt chẽ. Một số dự án BOT (xây dựng-vận hành-chuyển giao) thực hiện thiếu quy hoạch, năng lực tài chính của chủ đầu tư thấp.

Đối với các dự án giao thông, việc thu phí và đặt các trạm thu phí chưa hợp lý, gây búc xức trong dư luận xã hội.

“Nợ công 5 năm tới tăng như vừa rồi là chết!”

Nguyên Vũ (VnEconomy) – “Nợ công 5 năm tới tăng như vừa rồi là chết!”, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói khi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thảo luận về kế hoạch tài chính 2016 – 2020, chiều 7/3.


Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu
tại phiên họp thứ 46 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Sẽ vượt ngưỡng cho phép

Trước đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đã trình bày định hướng kế hoạch vay và trả nợ công giai đoạn 2016 – 2020 là tiếp tục kiểm soát các chỉ tiêu nợ trong giới hạn cho phép, tỷ lệ bội chi bình quân giai đoạn khoảng 4% GDP, giảm mức cấp bảo lãnh Chính phủ còn khoảng 50% so với hiện hành.

Theo đó, tổng nhu cầu vay cho ngân sách Nhà nước (chưa bao gồm vay về cho vay lại) giai đoạn 2016 – 2020 khoảng 2.265 nghìn tỷ đồng, bình quân 450 nghìn tỷ đồng/năm, năm 2020 khoảng 540 nghìn tỷ đồng là rất khó thực hiện.

Theo Bộ trưởng Dũng, các chỉ tiêu nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP nằm trong giới hạn cho phép, nợ công cao nhất ở mức 64,5% GDP vào năm 2016, nợ Chính phủ cao nhất ở mức 52,2% GDP vào năm 2016 và nợ nước ngoài của quốc gia cao nhất ở mức 47,7% GDP vào năm 2020.

Tuy nhiên, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách (bao gồm cả trả nợ gốc và lãi) sẽ vượt ngưỡng cho phép (25%) trong các năm 2019 (25,9%) và 2020 (25,8%).

Nếu tính cả vay đảo nợ, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách Nhà nước vượt ngưỡng cho phép trog các năm 2018- 2020, trong đó cao nhất vào năm 2019 (29,4%).

Ngoài ra, trường hợp bội chi ngân sách Nhà nước tăng so với mức báo cáo trên, hoặc trường hợp tăng trưởng GDP không đạt mục tiêu đề ra và không điều chỉnh giảm bội chi tương ứng thì nợ công sẽ vượt trần, đặc biệt trong trường hợp phát sinh rủi ro về giá dầu, tỷ giá…, Chính phủ dự báo.

“Tính thế này đã chắc chưa?”

Những năm gần đây, nợ công luôn nóng bỏng tại nghị trường.

Tại kỳ họp thứ 10 của Quốc hội vào cuối năm 2015, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính – Ngân sách Trần Văn đã lên tiếng cảnh báo về tình trạng nợ công của Việt Nam tăng rất nhanh, bình quân 5 năm khoảng 20% mỗi năm, từ khoảng 1,3 triệu tỷ năm 2011 lên dự kiến 2,7 triệu tỷ năm 2015.

Tuy nhiên, Chính phủ vẫn luôn khẳng định nợ công vẫn trong mức an toàn và kế hoạch tài chính 2016 – 2020 có lẽ là văn bản hiếm hoi của Chính phủ mà hai chữ vượt trần được gắn với nợ công.

Nhưng nỗi lo không chỉ ở chặng đường phía trước.

Như VnEconomy đã thông tin, ngay sau báo cáo của Bộ trưởng Dũng sáng 7/3, Uỷ ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội đã cảnh báo việc dư nợ Chính phủ đã vượt trần, lên đến 50,3% GDP (giới hạn cho phép là 50% GDP).

Và Chính phủ dự định sẽ trình Quốc hội quyết định nâng trần dư nợ Chính phủ lên 55% GDP.

Con số này khiến Chủ tịch Quốc hội rất băn khoăn, bởi theo ông, 5% GDP là rất lớn chứ không phải nhỏ.

“Nợ nần 5 năm tới xu hướng phải tốt đẹp lên, chứ năm 2015, Quốc hội thảo luận về nợ công đã rất căng thẳng, giờ tính thế này đã chắc chưa?”, Chủ tịch Quốc hội lo ngại.

Dù sau đó, cả Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng và Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính – Ngân sách Phùng Quốc Hiển đều giải trình thêm, song Chủ tịch Quốc hội cũng chưa yên tâm về nhiều vấn đề trong kế hoạch tài chính và kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 – 2020.

Ông đã đề nghị đưa hai báo cáo này ra khỏi chương trình kỳ họp thứ 11 của Quốc hội khoá 13, dành quyền quyết định cho Quốc hội khoá 14, để có thời gian chuẩn bị kỹ hơn.

Nỗi xấu hổ xuất khẩu lao động:
Đau xót thành tích làm thuê

Lam Lam (BĐV) – Nếu xuất khẩu lao động vẫn được coi là giải pháp cứu cánh thì chắc chắn kịch bản “mua rẻ, bán rẻ” của lúa gạo sẽ lặp lại với lao động Việt.


Ảnh minh họa

“Xuất khẩu lao động là nỗi nhục của một dân tộc”
– Bộ trưởng Bộ KHĐT Bùi Quang Vinh.

Phát biểu trên không chỉ khiến bộ trưởng phải đau xót, mà còn là nỗi niềm đau xót của rất nhiều chuyên gia, nhà kinh tế học trong nước (trên con đường xây dựng thiên đường Cộng sản ở Việt Nam, hướng tới đào mồ chôn bọn “giãy chết” để dẫn năm châu đến Đại Đồng).

“Nếu không xuất khẩu, lao động sẽ phải làm gì?”
– TS Nguyễn Trí Hiếu

TS Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, đúng là không có gì đáng để tự hào và cũng không thể mãi bằng lòng mà coi xuất khẩu lao động là một chỉ số thành tích so sánh. Tuy nhiên, thay vì chỉ biết ngồi xấu hổ với nỗi nhục đó thì câu hỏi lớn hơn cần được trả lời là: “Nếu không xuất khẩu, lao động sẽ phải làm gì?”.

Vì sao là niềm đau?

Ông Hiếu cho biết, rất nhiều các quốc gia xung quanh Việt Nam vẫn đang xuất khẩu lao động. Ngay cả lao động tại các nước châu Âu như Thổ Nhĩ Kì, Hy Lạp vẫn đang làm việc tại nhiều nước khác. Việc lao động của nước này sang nước khác làm và ngược lại là xu thế hội nhập toàn cầu đã và đang diễn ra từ hàng nửa thế kỷ nay. Việt Nam là nước có nền kinh tế còn kém phát triển, rất nhiều người lao động không tìm được việc làm. Vì vậy, lao động trong nước phải chạy sang nước ngoài làm việc là xu thế tất yếu.

Nhìn nhận ở chiều hướng tích cực, ông Hiếu cho rằng, xuất khẩu lao động chính là giải pháp cứu cánh cho nền kinh tế khó khăn, không thể hấp thụ được lao động như của Việt Nam hiện nay. Ngoài việc làm giàu cho đất nước thông qua hình thức chuyển kiều hối về nước cho người thân, xuất khẩu lao động còn giúp tạo công ăn việc làm, giảm áp lực xã hội.

Trong khi các nguồn tiền từ ODA không phải cho không, biếu không mà là cho vay dài hạn, còn FDI là đầu tư nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời và cuối cùng sẽ chuyển trả về nước ngoài, thậm chí để thu hút được nguồn vốn FDI, Việt Nam phải trả bằng quá nhiều ưu đãi, thì kiều hối là nguồn tiền không phải hoàn lại và đang đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà trong năm 2015, Ngân hàng Thế giới (WB) đã thống kê cho biết, Việt Nam là nước đứng thứ 11 trong tổng số các nước đón lượng kiều hối nhiều nhất thế giới (khoảng 12,25 tỷ USD). Nhìn từ khía cạnh này, rõ ràng cách nói của Bộ trưởng Vinh chưa thể nhận được sự đồng thuận hoàn toàn.

“Vấn đề hằn sâu là những hệ lụy xấu từ việc xuất khẩu lao động trái phép, nạn buôn bán người, xuất khẩu phụ nữ… Rõ ràng đó là mặt trái của xuất khẩu lao động, vấn đề này phải được tách bạch rõ ràng và không hề liên quan với nhau”.

Theo ông Hiếu, còn một vấn đề nữa là tình trạng xuất khẩu lao động thông thường chỉ xảy ra với các nước đang phát triển và chậm phát triển. Những nước phát triển không có nhu cầu đưa lao động của mình sang nước khác làm việc. Việc này tạo ra tâm lý thua kém, nghèo nàn, lạc hậu, làm xấu đi hình ảnh của một dân tộc.

Tiếp đến là việc xuất khẩu lao động cũng đồng nghĩa với tình trạng chảy máu chất xám. Do nền kinh tế yếu kém, không hấp thụ được lao động cộng với môi trường, chính sách đãi ngộ lao động không tốt dẫn tới hệ quả người giỏi thì bỏ đi. Lao động yếu kém bị cạnh tranh, phải đi làm thuê cho nước khác.

Vị chuyên gia cho rằng, nếu đội ngũ lao động có tay nghề, trình độ có thể ở lại trong nước để cống hiến cho nền kinh tế đó là điều rất tốt. Kể cả trường hợp họ ra nước ngoài làm việc nhưng để học tập, tiếp thu những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm mới, hiện đại và áp dụng trong nước như vậy cũng tốt.

Đáng tiếc, hầu hết người có trình độ bỏ đi thì không muốn quay lại do không thể thích ứng được với môi trường làm việc tại Việt Nam. Thậm chí, có người học xong rồi vẫn không có cơ hội được thực hành. Đó là mối lo lớn cần phải tính toán.

Về phương diện xã hội, ông Hiếu cho biết với dân số khoảng hơn 90 triệu dân, khoảng 70% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam lại đang trong thời điểm dân số vàng, rất nhiều lao động trẻ, không có việc làm. Nếu không xuất khẩu chắc chắn nền kinh tế Việt Nam và xã hội Việt Nam sẽ phải mang một gánh nặng lớn bởi áp lực giải quyết công ăn việc làm, tệ nạn xã hội.

Kinh tế Việt Nam chưa thể kỳ vọng có bước đột phá trong ngày một ngày hai để mong hấp thụ hết lượng lao động dôi dư hiện nay. Trong khi, Việt Nam dù đã ký kết nhiều hiệp định kinh tế, hiệp định thương mại, đã tham gia vào TTP thì cũng cần có một khoảng thời gian nhất định để chuẩn bị và hội nhập.

Điều ông Hiếu lo ngại là sự phát triển lệch pha của nền kinh tế trong nước. Việt Nam muốn hội nhập chắc chắn phải chuyển đổi theo cơ chế thị trường, trong đó, vai trò của doanh nghiệp tư nhân là rất quan trọng. Với tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay, doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng teo tóp, khu vực công và tập đoàn nhà nước đang tinh giản biên chế, nếu không xuất khẩu lao động, áp lực việc làm sẽ gay gắt hơn.

Cùng với đó là vấn đề ý thức, vệ sinh an toàn thực phẩm bẩn, độc, đạo đức xã hội ngày càng xuống cấp… tất cả đang cho thấy xã hội Việt Nam còn rất lạc hậu, chậm phát triển chưa thật sự sẵn sàng cho thời kỳ hội nhập mới.

Kịch bản “mua rẻ, bán rẻ” có lặp lại?

Bàn về chất lượng lao động Việt Nam hiện nay, TS Nguyễn Trí Hiếu cho rằng “lao động Việt Nam còn ở tầng thấp”. Chủ yếu là lao động chân tay, không có ngoại ngữ, thiếu trình độ, thiếu chuyên môn, kỹ năng, kỷ luật kém… rất nhiều vấn đề đáng lo ngại.

“Một khi, chất lượng lao động không được nâng lên, thị trường lao động trong nước lại đang bị cạnh tranh khốc liệt. Nếu xuất khẩu lao động vẫn được coi là giải pháp cứu cánh thì chắc chắn kịch bản “mua rẻ, bán rẻ” của lúa gạo sẽ lặp lại với lao động Việt.

Đã có nhiều trường hợp được ghi lại cảnh bị chủ ép lương rồi hành hung, ép giờ và tương lai sẽ còn tiếp tục ghi nhận nhiều hình ảnh như vậy nữa”, ông Hiếu lo lắng.

Vì thế, vị chuyên gia cho rằng đề giải quyết vấn đề trước mắt Việt Nam cần phải đặt vấn đề đào tạo và nâng cao tay nghề của đội ngũ lao động trong nước một cách bài bản, quy mô, gắn liền với thực tế. Không thể tiếp tục coi xuất khẩu lao động là cứu cánh của cả nền kinh tế.

Bên cạnh đó, phải có một chiến lược tầm vĩ mô nhằm hỗ trợ, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển lên. Nghiên cứu đã cho thấy, khu vực tư nhân chính là khu vực tạo ra nhiều giá trị gia tăng cũng như tạo ra công ăn việc làm chính cho người lao động. Vì thế, khi khu vực này phát triển, nền kinh tế sẽ phát triển, người lao động sẽ có việc làm.

Ông Hiếu cũng đặt vấn đề cần phải tinh giản biên chế, thu gọn lại bộ máy. Vì theo ông, chi ngân sách quá nhiều để nuôi bộ máy hành chính cũng gây lãng phí, phân tán nguồn lực, thiếu nguồn lực đầu tư cho phát triển, sản xuất.

“Rõ ràng, vấn đề lao động đang là nỗi bức xúc rất lớn. Các cơ quan chức năng chưa thể kiến tạo cho đủ việc làm ở trong nước nhưng khi xuất khẩu lại không thể đáp ứng được. Trong khi đó, ngân sách thâm hụt, bội chi qua lớn, chi phí thường xuyên tăng cao… tất cả lại đang để nuôi bộ máy hành chính quá cồng kềnh, lãng phí. Đó cũng là nguyên nhân”, ông Hiếu nói.

Xem thêm: Nguy cơ người Việt thất nghiệp, doanh nghiệp thuê lao động ngoại

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s