Việt Nam đang mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình

Posted: March 19, 2016 in Uncategorized
Tags:

Minh Thái (BĐV) – Theo chuyên gia, muốn thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình phải thay đổi thể chế chính sách, thay đổi ít là thất bại, thay đổi vừa thì bớt thất bại.

� Xem thêm: Việt Nam khó thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình + Coi chừng bẫy năng suất thấp trong ngành dệt may.


Theo các chuyên gia, Việt Nam rất thoát ra khỏi bẫy thu nhập trung bình
nếu không có những cải cách rất quyết liệt về thể chế. Ảnh: VnExpress

Ngày 18/3, Trường ĐHKHXH&NV TP.HCM phối hợp với Viện FES (Đức), Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức hội thảo “Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn dẫn nghiên cứu của TS. Phạm Thị Minh Uyên và TS. Phan Thế Công từ Trường Đại học Thương mại dựa trên lý thuyết về bẫy thu nhập trung bình (middle income trap) của nhà kinh tế người Nhật Bản Kenichi Ohno cho thấy Việt Nam đang mắc bẫy thu nhập trung bình.

Theo phân chia của World Bank áp dụng từ năm 2012 đến nay, nước thu nhập thấp là có thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người dưới 1.025 đô la Mỹ/người/năm, thu nhập trung bình thấp có GNI giữa khoảng 1.025 đến 4.035 đô la Mỹ, thu nhập trung bình có GNI giữa khoảng 4.035 đến 12.475 đô la Mỹ, và thu nhập cao là có GNI trên 12.475 đô la Mỹ. Năm 2008, Việt Nam mới gia nhập nhóm thứ 2: thu nhập trung bình thấp. Theo số liệu World Bank, GNI của Việt Nam năm 2014 là 1.890 USD.

Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, thâm dụng lao động, phụ thuộc quá nhiều vào vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), năng suất lao động thấp, hiệu quả đầu tư không cao nghĩa là chất lượng tăng trưởng thấp… là những điều dễ nhận thấy của nền kinh tế Việt Nam.

Ông Erwin Schweisshelm, Trưởng đại diện của FES, cũng nhận định Việt Nam có nhiều thay đổi trong hơn 26 năm qua và trong những năm tới sẽ có nhiều thay đổi khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam có con đường phát triển hoàn hảo và có thể tránh được bẫy thu nhập trung bình.

“Việt Nam đang có nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình và khó thoát ra khỏi tình trạng này nếu không có các giải pháp cải cách mạnh mẽ, quyết liệt”, Pháp luật TP.HCM dẫn lời ông nhấn mạnh.

Các chuyên gia chỉ ra thực trạng môi trường pháp lý hiện tại đang chèn ép các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn là động lực cho sự tăng trưởng. Nếu bộ Luật Doanh nghiệp 1990 và đặc biệt là bộ Luật Doanh nghiệp 1999 đã giúp kinh tế tăng trưởng, thay đổi tích cực mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp tham gia chính sách thì Luật Doanh nghiệp 2005 không mang lại sự cải cách, tạo ra các mối quan hệ trung ương – địa phương, nhà nước – doanh nghiệp phức tạp, doanh nghiệp thậm chí còn dẫn dắt nhà nước trong việc xây dựng chính sách, đẩy nền kinh tế đi theo hơi hướng chủ nghĩa tư bản thân hữu. Luật Doanh nghiệp 2014 tốt hơn cho doanh nghiệp, giảm quyền lực một số bộ ngành, nhưng tư duy quản trị không thay đổi.

Một thực trạng khác là ý chí thực thi chính sách yếu, thiếu sự đồng thuận, khủng hoảng về mặt lãnh đạo. Các nhà nghiên cứu kinh tế đặc biệt phê phán các chính sách áp dụng cho các doanh nghiệp FDI, ưu đãi họ quá nhiều trong khi họ kết nối với các doanh nghiệp trong nước rất kém, không chuyển giao công nghệ, chỉ đến tận dụng nhân công rẻ và môi trường rẻ.

Để khắc phục tình trạng này, ông Erwin Schweisshelm khuyến nghị: “Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia như Indonesia, Bangladesh, hay từ Đức để tìm các chính sách phát triển bền vững khi tham gia WTO và TPP. Bản chất của một quốc gia là xây dựng một kế hoạch phát triển phù hợp chứ không thể lấy mô hình Trung Quốc, Singapore hay Nhật Bản… áp dụng cho mình. Cần xây dựng nội lực và sức mạnh cạnh tranh lành mạnh giữa các nền kinh tế sẽ giúp cho Việt Nam phát triển bền vững”.

TS Nguyễn Đức Thành từ Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) thuộc Trường Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng nhận định: “Qua rồi thời kỳ cứ cho rằng cứ hội nhập là tốt, ngày trước hội nhập thì mình được, bây giờ hội nhập được mất như nhau, nếu không thay đổi thể chế chính sách thì mất nhiều hơn được. Muốn thoát khỏi bẫy phải thay đổi thể chế chính sách, thay đổi ít là thất bại, thay đổi vừa thì bớt thất bại, chỉ có quyết tâm thay đổi cao nhất cộng với may mắn và nhiều ngoại lực thuận lợi khác mới thoát bẫy thành công”.

Việt Nam khó thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình

Chính Phong (TBKTSG Online) – Việt Nam đang mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình, và rất thoát ra khỏi tình trạng này nếu không có những cải cách rất quyết liệt về thể chế, theo nhận định của nhiều chuyên gia tại một cuộc hội thảo quốc tế đang diễn ra trong hai ngày 17 và 18-3 tại TP.HCM.


Trong không khí học thuật cởi mở của buổi hội thảo, các nhà khoa học rất thẳng
thắn chỉ ra Việt Nam khó thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Ảnh: Chính Phong

Tại Hội thảo “Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” do Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn TP.HCM phối hợp với Viện FES (Đức) và Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức nêu ra các tiêu chí nhận dạng mắc bẫy như thu nhập bình quân đầu người, mô hình tăng trưởng, thiếu vắng một chính sách công nghiệp có chất lượng…

Nghiên cứu của TS. Phạm Thị Minh Uyên và TS. Phan Thế Công từ Trường Đại học Thương mại dựa trên lý thuyết về bẫy thu nhập trung bình (middle income trap) của nhà kinh tế người Nhật Bản Kenichi Ohno cho thấy Việt Nam đang mắc bẫy này.

Theo phân chia của World Bank áp dụng từ năm 2012 đến nay, nước thu nhập thấp là có thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người dưới 1.025 đô la Mỹ/người/năm, thu nhập trung bình thấp có GNI giữa khoảng 1.025 đến 4.035 đô la Mỹ, thu nhập trung bình có GNI giữa khoảng 4.035 đến 12.475 đô la Mỹ, và thu nhập cao là có GNI trên 12.475 đô la Mỹ. Năm 2008, Việt Nam mới gia nhập nhóm thứ 2: thu nhập trung bình thấp. Theo số liệu World Bank, GNI của Việt Nam năm 2014 là 1.890 USD.

Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, thâm dụng lao động, phụ thuộc quá nhiều vào vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), năng suất lao động thấp, hiệu quả đầu tư không cao nghĩa là chất lượng tăng trưởng thấp… là những điều dễ nhận thấy của nền kinh tế Việt Nam. Tại hội thảo, các học giả nghiên cứu về các nền kinh tế có tình trạng tương tự Việt Nam như Indonesia, Bangladesh cũng có kết luận là các nước này khó thoát khỏi bẫy.

PGS TS Võ Trí Hảo từ Đại học Kinh tế TP.HCM nhấn mạnh quyền tư hữu là nút thắt của nền kinh tế hiện nay, nó tạo ra sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với tư nhân, giữa tư nhân với tư nhân. Ông Hảo cũng cho rằng môi trường pháp lý hiện tại đang chèn ép các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) vốn là động lực cho sự tăng trưởng.

“Các cơ quan xây dựng và thực thi luật không dám chạm đến DNNN, chạm vào các doanh nghiệp FDI khó vì các doanh nghiệp này có đội ngũ tư vấn luật rất giỏi, vì thế đối tượng của họ là các SME”, ông Hảo nói.


Các giai đoạn của quá trình công nghiệp hóa, lý thuyết của nhà kinh tế
Kenichi Ohno cho rằng bẫy thu nhập trung bình được xác định ở giữa giai đoạn 2 và 3.

Trình bày về mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp và tác động của mối quan hệ này tới sản xuất công nghiệp trong ba thập kỷ qua, TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, đánh giá cao bộ Luật Doanh nghiệp 1990 và đặc biệt là bộ Luật Doanh nghiệp 1999 đã giúp kinh tế tăng trưởng, thay đổi tích cực mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp tham gia chính sách.

Nhưng ông Vũ Thành Tự Anh đánh giá thấp hai bộ luật gần đây ra năm 2005 và 2014. Luật Doanh nghiệp 2005 không mang lại sự cải cách, tạo ra các mối quan hệ trung ương – địa phương, nhà nước – doanh nghiệp phức tạp, doanh nghiệp thậm chí còn dẫn dắt nhà nước trong việc xây dựng chính sách, đẩy nền kinh tế đi theo hơi hướng chủ nghĩa tư bản thân hữu. Luật Doanh nghiệp 2014 tốt hơn cho doanh nghiệp, giảm quyền lực một số bộ ngành, nhưng tư duy quản trị không thay đổi.

“Nếu xem bộ luật năm 1990 là phiên bản 1.0, bộ luật 1999 là 2.0 thì bộ luật 2005 là 2.1, bộ luật 2014 là 2.5”, ông Tự Anh nhận xét. Nghĩa là hiệu quả của việc hoạch định chính sách thụt lùi.

Ông Tự Anh cũng nêu ra một thực trạng khác là ý chí thực thi chính sách yếu, thiếu sự đồng thuận, khủng hoảng về mặt lãnh đạo.

“Các bộ không đối thoại được với nhau. Cùng trong một nội các thủ tướng mà các bộ phải ký kết thỏa thuận hợp tác với nhau. Mỗi bộ như một ốc đảo quyền lực, cơ quan nào có thể ra chính sách thì đều lạm dụng tối đa việc đó để làm lợi cho mình, quyền phân phối lợi ích tăng thì quyền lực lại càng lớn”.

Các nhà nghiên cứu kinh tế đặc biệt phê phán các chính sách áp dụng cho các doanh nghiệp FDI, ưu đãi họ quá nhiều trong khi họ kết nối với các doanh nghiệp trong nước rất kém, không chuyển giao công nghệ, chỉ đến tận dụng nhân công rẻ và môi trường rẻ. “Một trong những lợi nhuận đáng kể của họ đến từ việc không phải chịu các quy định chặt chẽ về môi trường; mù quáng với FDI, con cháu ta sẽ phải trả giá”, ông Võ Trí Hảo nói.

Trong không khí học thuật cởi mở, các nhà khoa học rất thẳng thắn, như giáo sư Hansjorg Herr từ Trường kinh tế Berlin (Đức): “Nghe các bạn nói về khó khăn hiện tại, tôi thấy một loạt Hiệp định thương mại mới ký kết rất nguy hiểm với Việt Nam. Doanh nghiệp tư nhân chưa phát triển đủ mức, doanh nghiệp nhà nước bị chi phối bởi chính trị còn nền kinh tế bị doanh nghiệp FDI lũng đoạn như vậy thì các bạn vẫn chỉ gia công xuất khẩu, tạo lợi nhuận cho nước khác, luẩn quẩn trong bẫy thu nhập trung bình”.

TS Nguyễn Đức Thành từ Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) thuộc Trường Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng nhận định: “Qua rồi thời kỳ cứ cho rằng cứ hội nhập là tốt, ngày trước hội nhập thì mình được, bây giờ hội nhập được mất như nhau, nếu không thay đổi thể chế chính sách thì mất nhiều hơn được. Muốn thoát khỏi bẫy phải thay đổi thể chế chính sách, thay đổi ít là thất bại, thay đổi vừa thì bớt thất bại, chỉ có quyết tâm thay đổi cao nhất cộng với may mắn và nhiều ngoại lực thuận lợi khác mới thoát bẫy thành công”.

Coi chừng bẫy năng suất thấp trong ngành dệt may

Đức Tâm (TBKTSG Online) – Trong ngành dệt may, các quốc gia đang phát triển dễ rơi vào cái bẫy năng suất lao động thấp và kẹt ở đó nếu quốc gia đó không có những chiến lược, chính sách đúng đắn.


Cuộc hội thảo sáng 18-3. Ảnh: Trần Quỳnh

Indonesia là một quốc gia như vậy, theo chia sẻ của ông Gatot Arya Putra, chuyên gia Phân tích chiến lược và Nghiên cứu Indonesia, tại hội thảo “Công nghiệp dệt may Việt Nam trong thời điểm bước ngoặt quan trọng” diễn ra sáng nay, 18-3, tại TPHCM

Phát biểu tại hội thảo, được tổ chức bởi Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) phối hợp với trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM cùng Viện Friedrich-Ebert-Stiftung (FES), ông Putra nói: “Với Indonesia, dệt may là một ngành quan trọng nhưng chúng tôi đã không có chiến lược đúng đắn và bị rơi vào bẫy năng suất lao động thấp”.

Cái bẫy ở đây được ông Putra lý giải do các nước đang phát triển cứ mãi cạnh tranh nhau vì những giá trị rất thấp trong chuỗi giá trị ngành dệt may. Theo đó, giá trị thấp thì trả lương cho nhân viên thấp; mà lương thấp thì chỉ đủ cho chi phí sinh hoạt chứ còn đâu mà đầu tư cho phát triển nghề nghiệp. Thêm nữa, công nghệ ngành dệt may Indonesia đã rất lạc hậu dẫn đến năng suất thấp nhưng chính phủ lại không có chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp nâng cấp công nghệ sản xuất.

Để thoát khỏi cái bẫy này, theo ông Putra, rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước về mặt chính sách công nghiệp và hỗ trợ về tài chính để giúp doanh nghiệp nâng cao được năng suất lao động trong ngành này.

Hàn Quốc và Đài Loan cũng từng đi con đường dệt may và đối mặt với bẫy năng suất lao động thấp, nhưng họ đã vượt qua nhờ những chính sách hỗ trợ hợp lý của Nhà nước để chuyển sang những ngành công nghiệp khác có giá trị cao hơn, ông Putra nói và bổ sung thêm rằng nếu Việt Nam muốn đi theo con đường của Hàn Quốc thì rất cần Chính phủ phải biết làm gì ngay từ hôm nay.

Vậy làm sao để các nước đang phát triển trong ngành dệt may tránh cuộc đua về giá để cùng kéo nhau xuống đáy?

Giáo sư Mustafiz Rahman thuộc Trung tâm đối thoại Chính sách Bangladesh đề xuất giải pháp các quốc gia trong ngành dệt may cần liên kết lại với nhau để thống nhất một mức giá sàn nhằm chia sẻ lợi ích thích đáng trong chuỗi giá trị ngành dệt may.

Về ý kiến này, bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao, cho rằng sẽ thật lý tưởng nếu các chuyên gia kinh tế thuyết phục được Chính phủ các quốc gia cùng ngồi lại để đạt được thỏa thuận về giá sàn. Tuy nhiên, bà Hạnh e là điều này khó xảy ra, vì lấy ví dụ ngay như nội bộ các doanh nghiệp trong ngành tại Việt Nam đã không có sự thống nhất thì nếu mở rộng sang tầm quốc gia, mọi thứ còn phức tạp hơn.

Vấn đề lớn của ngành dệt may Việt Nam

Nếu ngành dệt may Indonesia vẫn còn loay hoay với những máy móc lạc hậu, năng suất thấp thì dệt may Việt Nam, như chia sẻ của ông Lê Tiến Trường, Tổng Giám đốc Tập đoàn dệt may Việt Nam, Việt Nam có năng suất lao động kỹ thuật đứng tốp 3 trên toàn thế giới. Bài toán của Việt Nam, theo ông Trường, nằm ở chi phí quản trị công và vấn đề hợp tác giữa các doanh nghiệp dệt may trong nước.

Cụ thể, về vấn đề đầu tiên, ông Trường phân tích, chi phí chung để làm ra sản phẩn gồm có chi phí sản xuất và chi phí quản trị công. Doanh nghiệp cố gắng đầu tư công nghệ, dù tiên tiến nhất, thì nâng cao được năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nhưng nếu chi phí quản trị công ngày càng tăng thì tổng chi phí của doanh nghiệp khó có thể giảm được.

Để dễ hiểu, ông Trường dùng hình ảnh ví von doanh nghiệp như một chiếc xe và thể chế pháp luật như con đường để chiếc xe chạy. Dù có là siêu xe thì cũng cất trong nhà nếu không có đường, không thể chạy nhanh nếu đường xấu, không thể chạy liền mạch và hiệu quả nếu dọc đường có vô số trạm có thể yêu cầu xe dừng bất cứ lúc nào thì cũng không ổn.

Đối với vấn đề thứ hai, ông Trường nhận xét thẳng thắn rằng doanh nghiệp Việt Nam chẳng bao giờ liên kết với nhau được và đây là một điều rất đáng lo lắng. Một ví dụ nhỏ để minh chứng được ông đưa ra cho thấy như Hiệp hội dệt may, có 700 hội viên nhưng chỉ có 200 hội viên đóng hội phí.

Về làn sóng đầu tư của nước ngoài vào ngành dệt Việt Nam để đón cơ hội TPP, điều cần quan tâm, theo ông Trường, đó là tìm hiểu công nghệ họ đầu tư là gì, có ảnh hưởng xấu đến môi trường hay không, chứ không nên ngại họ giành mất cơ hội của các doanh nghiệp Việt Nam.

Nếu các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có sự liên kết tốt, chúng ta hoàn toàn có thể thương lượng để đạt được giá nguyên liệu đầu vào hợp lý, ông Trường nói.

Lưu ý về chính sách vĩ mô

Phát biểu tại hội thảo, ông Erwin Schweisshelm, Giám đốc đại diện Viện FES tại Việt Nam, chia sẻ dệt may là một ngành công nghiệp nhẹ di chuyển với tốc độ rất nhanh về nơi có lao động giá rẻ.

Cụ thể, theo ông Erwin Schweisshelm, ngành công nghiệp dệt may bắt đầu xuất hiện ở Tây Âu, rồi lan sang Đông Âu, rồi lại chuyển sang Trung Quốc.

Đó là góc nhìn tổng quan. Về chi tiết, ông Schweisshelm kể rằng ông có người bạn hoạt động trong ngành dệt may, bắt đầu đầu tư từ Ukraina, sau đó chuyển sang Trung Quốc, hiện đang ở Việt Nam và trong 7 năm tới, sẽ dự định chuyển sang Ethiopia ở châu Phi.

Từ câu chuyện này, ông Schweisshelm lưu ý yếu tố này trong việc xây dựng chính sách khi thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s