Nợ công: Tính đến 18.3.2016 mỗi người dân Việt Nam gánh nợ gần 23 triệu đồng

Posted: March 20, 2016 in Uncategorized
Tags:

Trí Lâm (MTG) – Theo bảng cập nhật của Đồng hồ nợ công thế giới, tính đến ngày 18.3.2016, nợ công của Việt Nam là 94,8 tỉ USD. Theo đó, mỗi người dân Việt Nam hiện nay đang gánh số nợ 1.039 USD (tương đương gần 22,8 triệu đồng).

� Xem thêm: Lo ngân sách Việt Nam: Thu không đủ chi và trả nợ + Ngưỡng nợ công Việt Nam và ngưỡng trách nhiệm.


Biểu đồ nợ công Việt Nam

Số liệu này cho thấy nợ công của Việt Nam hiện đang gia tăng khá nhanh. Sau 2 năm con số nợ công của Việt Nam đã tăng 16,1 tỉ USD. Nếu tính mốc từ năm 2010, sau 6 năm, con số nợ công của Việt Nam đã tăng thêm 49,4 tỉ USD từ 45,39 tỉ USD (năm 2010).

Theo đồng hồ nợ công thế giới, tốc độ gia tăng nợ công thời điểm 18.3.2016 đạt 9,3%, thấp hơn tốc độ gia tăng của năm 2015 và các năm về trước.

Trước đó, tại Báo cáo đánh giá bổ sung tình hình thực hiện Ngân sách Nhà nước năm 2015 tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ Tài chính cho biết, tính đến ngày 31.12.2015, số nợ công của Việt Nam đã ở mức 62,2%.

Trong đó, nợ Chính phủ ở mức 50,3% (vượt giới hạn cho phép là 0,3% GDP), nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 43,1% GDP, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ ở mức 16,0% tổng thu ngân sách nhà nước.

Vào tháng 7 năm ngoái, Ngân hàng Thế giới (WB) lại đưa ra con số nợ công của Việt Nam năm 2014 đã là 110 tỉ USD (tương đương khoảng 2,35 triệu tỉ đồng). Tức mỗi người dân Việt Nam gánh khoảng 1.200 USD/người.

Trong đó, nợ của Chính phủ dành cho các mục đích đầu tư từ các tổ chức quốc tế, các chính phủ là 79,6%; nợ của các doanh nghiệp, tập đoàn Nhà nước (do Chính phủ bảo lãnh) khoảng 19% và nợ của chính quyền địa phương là 1,4%.

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, cách tính nợ công giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đang có độ chênh lệch không nhỏ.

Trao đổi với phóng viên báo điện tử Một Thế Giới về vấn đề này, chuyên gia kinh tế Bùi Trinh cho rằng, cách tính nợ công của Việt Nam còn chưa tính nợ trái phiếu Chính phủ. Đáng ra phải tính theo thông lệ quốc tế, đưa tất cả khoản thu chi vào cân đối chung, việc thu chi ngoài cân đối ngân sách là không nên. Không thể khi dự toán chỉ trong cân đối, khi quyết toán lại tính tất cả thu chi, dẫn đến vượt dự toán đến 25-30%.

Theo ông Bùi Trinh, khi nợ cao thế này, chi tiêu ngân sách vẫn tràn lan thì phải tận thu, tận thu thì phải quay ra bóp doanh nghiệp. Rồi tới đây lương tăng lên 14%, BHXH được tính theo quy định mới, thuế còn tăng nữa thì không doanh nghiệp nào chịu được.

“Mấu chốt vấn đề nằm ở chi ngân sách, đầu tư công tràn lan và không hiệu quả. Cần phải giảm chi ngân sách, dừng xây dựng công sở hoành tráng. Dân còn đang thuê nhà, công sở từ thuế của dân mà cứ đua nhau xây lớn. Các lãnh đạo cũng phải hạn chế xe công, chứ không để xe công tràn lan. Kỳ lạ là tất cả những dự án, công trình này đều thông qua Quốc hội, Quốc hội đều bấm nút cả…”, ông Trinh nhấn mạnh.

Lo ngân sách Việt Nam:
Thu không đủ chi và trả nợ

Minh Thái (BĐV) – Năm 2015 được đánh giá là một năm thành công nhưng thu ngân sách vẫn không đủ chi thường xuyên và trả nợ.


Với bối cảnh giai đoạn 2016 – 2020, một trong những lưu ý từ cơ quan thẩm tra với Chính phủ
là an ninh tài chính quốc gia bị đe dọa khi nợ công đã sắp đến mức trần cho phép. Ảnh minh họa

Những nhận định nói trên được nêu trong báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2015 và triển khai kế hoạch 2016, vừa được Chính phủ gửi đến các vị đại biểu Quốc hội.

Báo cáo do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh ký nêu rõ, cân đối ngân sách trung ương khó khăn do giá dầu thô xuống thấp. Cơ cấu chi ngân sách nhà nước chưa hợp lý.

Cụ thể, chi đầu tư phát triển giảm mạnh từ 30,6% tổng chi ngân sách trong giai đoạn 2001-2005 xuống còn 28,2% trong giai đoạn 2006-2010 và còn khoảng 23,6% trong giai đoạn 2011-2015.

Đáng chú ý, theo VnEconomy, bản báo cáo này nói rõ, “tổng thu ngân sách nhà nước không đủ bảo đảm nguồn chi thường xuyên và trả nợ. Toàn bộ chi đầu tư đều phải dựa vào nguồn vay nợ của Chính phủ. Nợ công tăng, áp lực trả nợ lớn”.

Vẫn nằm trong phần hạn chế, báo cáo nêu: hoạt động của doanh nghiệp trong nước vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn thấp.

Kết quả ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất kinh doanh còn hạn chế. Năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp. Đời sống của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.

Kết quả giảm nghèo chưa bền vững; tỷ lệ hộ nghèo và tái nghèo ở những nơi đặc biệt khó khăn và trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao. Tệ nạn xã hội, tội phạm, ô nhiễm môi trường còn diễn biến phức tạp.

Đánh giá chung, phần kết quả, Chính phủ cho biết công tác phòng chống tham nhũng được tăng cường, đưa ra xét xử nhiều vụ án tham nhũng lớn. Tuy nhiên, trong phần hạn chế, không có chữ tham nhũng nào được nhắc đến.

Trước đó, hồi đầu tháng 3/2016,

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh khi ấy cũng cho biết, do cân đối ngân sách nhà nước còn khó khăn, nhu cầu chi thường xuyên lớn nên khả năng cân đối nguồn vốn ngân sách nhà nước còn hạn chế. Tổng mức ngân sách trung ương trung hạn 5 năm 2016-2020 (vốn trong nước) chỉ đáp ứng được khoản 30% nhu cầu đầu tư của cả nước. Số vốn ứng trước chưa bố trí được nguồn thanh toán còn khá lớn so với khả năng cân đối vốn ngân sách nhà nước trong 5 năm tới.

Ngoài ra đối với các dự án của một số Bộ, ngành trung ương, địa phương có số nợ đọng xây dựng cơ bản, số vốn ứng trước nguồn ngân sách trung ương lớn, nếu trong kế hoạch trung hạn bố trí để thanh toán hết số nợ và số ứng trước thì sẽ không còn nguồn để đối ứng các chương trình, dự án ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, bố trí vốn cho các dự án chuyển tiếp và thực hiện các mục tiêu khác; thậm chí sẽ không còn nguồn để khởi công mới như Bộ GTVT, các tỉnh Ninh Bình, Hà Tĩnh, Bình Thuận…

Nhiều dự án cấp bách đã có ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đưa vào kế hoạch đầu tư trung hạn nhưng do tổng mức đầu tư quá lớn, các Bộ, ngành trung ương và địa phương chưa cân đối được số vốn được phân bổ. Đồng thời vẫn chưa bố trí được đủ vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA trọng điểm.

Cũng vào thời điểm trên, theo Ủy ban Tài chính-Ngân sách, tính đến cuối năm 2015 nợ Chính phủ là 50,3%GDP, đã vượt mức trần cho phép, nếu tính cả các khoản nợ khác của ngân sách nhà nước thì còn có thể cao hơn.

Nếu xét về cơ cấu, nợ vay trong nước tăng nhanh so với giai đoạn trước, bình quân tăng 29%/năm, tỷ trọng vốn vay kỳ hạn ngắn cao nên ngân sách nhà nước mới bố trí đủ chi trả nợ lãi, chi trả nợ gốc ở mức thấp, khiến phải vay đảo nợ, gây lúng túng, bị động trong điều hành ngân sách.

Đối với nợ nước ngoài, Ủy ban Tài chính-Ngân sách nhìn nhận, trong những năm gần đây có xu hướng tăng vay nợ nước ngoài, trong đó có nhiều khoản nợ có thời hạn vay ngắn hơn, lãi suất và chi phí vay tăng. Điều này đồng nghĩa với việc độ rủi ro đối với các khoản nợ vay nước ngoài tăng cao khi có biến động về tỷ giá, giá trị của đồng ngoại tệ tăng…

Đáng chú ý, qua giám sát thực tế, Ủy ban Tài chính – Ngân sách nhận thấy, việc sử dụng vốn vay còn dàn trải, hiệu quả thấp; dự án phê duyệt, điều chỉnh tổng mức, điều chỉnh hợp đồng còn khá phổ biến,tổ chức thực hiện một số dự án còn bất cập. Công tác quản lý nợ công còn phân tán, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương.

Ngưỡng nợ công Việt Nam và ngưỡng trách nhiệm

Nhàn Đàm (MTG) 14-03-2016 – Một câu chuyện nhận được rất nhiều sự chú ý của xã hội trong những ngày vừa qua là việc tỷ trọng nợ công của Việt Nam đang sắp kịch trần mức giới hạn mà Quốc hội cho phép là 65% GDP, và nó đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng đến vấn đề tăng trưởng kinh tế và nhất là an ninh tài chính quốc gia.


Tỷ trọng nợ công của Việt Nam đang sắp kịch trần
mức giới hạn mà Quốc hội cho phép là 65% GDP.

Gánh nặng nợ công tăng lên đang dẫn đến việc Việt Nam phải chi ra ngày càng nhiều tiền hơn để thanh toán lãi và một phần nợ gốc, và nó đang lạm mạnh vào nguồn vốn đầu tư cho xã hội và nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu nhìn rộng hơn một chút, thì vấn đề dường như còn nghiêm trọng hơn thế nhiều, khi mà trên thực tế nợ công của Việt Nam có vẻ như đã không còn ở dưới ngưỡng cho phép là 65% GDP nữa, mà đã vượt qua ngưỡng này từ rất lâu.

Theo báo cáo của Bộ Tài Chính và Chính phủ, thì ở thời điểm hiện tại trong 3 chỉ số vĩ mô cơ bản của nền tài chính quốc gia thì mới chỉ có nợ chính phủ là vượt ngưỡng cho phép, còn lại hai chỉ số là dư nợ công và nợ nước ngoài vẫn ở mức kiểm soát. Cụ thể, đến thời điểm cuối năm 2015, dư nợ công của Việt Nam đạt 62,2% GDP, nợ chính phủ là 50,3% và nợ nước ngoài của quốc gia là 43,1%. Theo đó, mới chỉ có nợ chính phủ là vượt ngưỡng mà Quốc hội cho phép là 50%, còn dư nợ công vẫn chưa kịch trần là 65% GDP mà Quốc hội đặt ra.

Cũng theo báo cáo của Chính phủ và Bộ Tài Chính, mức dư nợ công của Việt Nam sẽ đạt đỉnh vào cuối năm 2016, dự kiến sẽ vào khoảng 64% GDP trước khi giảm dần và về mức 60% GDP trong giai đoạn 2017-2020. Nói cách khác, Chính phủ cam kết sẽ không để nợ công vượt mức giới hạn cho phép có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng với tình hình tài chính quốc gia. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận vấn đề theo một khía cạnh khác, thì nợ công của Việt Nam đã vượt ngưỡng giới hạn 65% GDP từ rất lâu rồi.

Nguyên nhân dẫn đến nhận định đó, là vì cách tính nợ công của Việt Nam đang có những khác biệt nhất định so với cách tính chuẩn của thế giới. Cụ thể, theo Luật quản lý nợ công 2009, thì nợ công của Việt Nam không bao gồm nợ của ngân hàng nhà nước (NHNN) và các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Điều này có nghĩa là nợ của NHNN, DNNN và kể cả là của một số địa phương sẽ không được tính vào tổng nợ công của quốc gia. Trong khi đó tại các nước trên thế giới, thì nợ của NHNN, các DNNN và các địa phương cũng sẽ được tính vào tổng nợ công của đất nước.

Vì thế, nếu tính toán theo cách tính chuẩn của các nước trên thế giới, thì tổng nợ công của Việt Nam đã vượt trần 65% GDP từ rất lâu, vì nợ của các DNNN và các địa phương ở Việt Nam đang là một con số khổng lồ. Theo báo cáo của Chính phủ thì đến giai đoạn cuối năm 2013, tổng nợ của các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đã lên tới 1.550.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 52,5% GDP ở thời điểm đó. Đến cuối năm 2014, thì con số này đã tăng lên thành 1.567.000 tỷ đồng, tăng 8% so với năm 2013. Nếu tính theo cách tính chuẩn của thế giới, thì tổng nợ công của Việt Nam hiện nay đang vào khoảng trên 100-110% GDP, kể cả khi đã trừ đi phần nợ của các DNNN được Chính phủ bảo lãnh vốn đã được tính vào dư nợ công quốc gia là trên 5% đi nữa.

Lý do mà Bộ Tài Chính và Chính phủ không tính nợ của các DNNN vào tổng nợ công quốc gia, là vì Bộ Tài Chính đã nhiều lần tuyên bố nợ của các DNNN vay thì các doanh nghiệp này phải tự trả, và vì thế không thể tính gộp vào tổng nợ công quốc gia vốn do Chính phủ có trách nhiệm chi trả. Tuy nhiên, trên thực tế một phần không nhỏ nợ của các DNNN đang được chuyển đổi thành các khoản nợ mà Chính phủ phải trả. Điển hình là các khoản nợ của các DNNN được Chính phủ bảo lãnh, tính đến cuối năm 2013 là 5,2% GDP trong nợ công nước ngoài và 6,5% GDP nợ công trong nước.

Điều này có nghĩa là khoảng 10% các khoản nợ của các DNNN sẽ thuộc trách nhiệm chi trả của Chính phủ, do Chính phủ là người đã bảo lãnh các khoản vay này. Hầu hết đây là các khoản vay nợ nước ngoài và có kỳ hạn rất ngắn, và trong điều kiện các DNNN làm ăn kém hiệu quả và nhiều nơi không thể tự trả nợ như hiện nay, thì dĩ nhiên trách nhiệm chi trả phải do Chính phủ gánh vác.

Tính đến thời điểm cuối năm 2014, vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh cho các DNNN đã lên đến 124.000 tỷ đồng, tăng 2.000 tỷ đồng so với năm 2013. Đặc biệt, trong tổng số nợ nước ngoài trên 381.000 tỷ đồng, thì con số mà các DNNN vay lại của Chính phủ hoặc được Chính phủ bảo lãnh chiếm phần lớn, lên đến 242.000 tỷ đồng. Và nếu như các DNNN không thể tự trả được các khoản nợ này, thì đương nhiên Chính phủ sẽ phải gánh trách nhiệm chi trả do là người đứng ra bảo lãnh.

Điều này có nghĩa là, kể cả khi không tính nợ của các DNNN vào tổng nợ công quốc gia như Luật quản lý nợ công 2009 đã quy định, thì mức nợ công của Việt Nam trên thực tế cũng đã vượt trần 65% GDP. Là vì không ai có thể dám chắc tất cả các DNNN ở thời điểm hiện tại đều có đủ khả năng tự chi trả tất cả các khoản nợ nước ngoài ngắn hạn của mình, và điều này có nghĩa là tỷ lệ nợ mà Chính phủ phải trả cho các doanh nghiệp này vì đã bảo lãnh sẽ tăng lên rất nhiều,cộng với mức nợ công 62,2% GDP hiện nay thì nhiều khả năng cũng đã vượt quá con số 65% GDP.

Trên thực tế, dù có cộng gộp các khoản nợ của DNNN vào nợ công quốc gia như thế giới vẫn làm đi nữa, thì khả năng vỡ nợ của Việt Nam là khá thấp, vì theo như báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) thì phần lớn các khoản nợ công của Việt Nam là ở trong nước. Tuy nhiên, nó đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với tình hình kinh tế và đầu tư ở thời điểm hiện tại. Các khoản lãi và một phần nợ gốc phải trả trong ngắn hạn đang ngày càng tăng cao, và gây sức ép lớn đối với cân bằng ngân sách quốc gia, và dẫn đến việc Nhà nước đang phải liên tục phát hành trái phiếu chính phủ để cân bằng ngân sách và đảo nợ.

Theo dự kiến, trong năm 2016 kho bạc Nhà nước sẽ phát hành 220.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ (TPCP) để huy động vốn cho ngân sách nhà nước. Trong đó, quý I sẽ phát hành 76.000 tỷ đồng TPCP, và trong 76.000 tỷ đồng đó thì đã có tới 55.000 tỷ đồng được dành để trả nợ gốc, một phần nữa để trả lãi vay. Điều này có nghĩa là, mức vốn đầu tư cho nền kinh tế đất nước sẽ còn lại gần như không đáng kể.

Chưa kể, việc liên tục phát hành TPCP một phần lớn trong số đó là để tiến hành đảo nợ, và điều này thì kéo theo những hệ quả nghiêm trọng về lâu dài. Trước hết, nó sẽ làm tăng chính mức nợ công quốc gia. Tần suất và quy mô phát hành TPCP càng lớn, thì mức tăng nợ công quốc gia càng nhanh. Ngoài ra, nó còn gây tác động lớn tới lãi suất trong nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp tới việc sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Rõ ràng là, tình hình nợ công của Việt Nam đang trở nên nghiêm trọng hơn bao giờ hết, và đang dẫn tới những hậu quả nặng nề, trong khi đó một giải pháp hiệu quả và căn bản về lâu dài để xử lý dứt điểm vấn đề này lại vẫn chưa thực sự được tìm ra.

Nhàn Đàm (bài viết có sử dụng một số thông tin từ Cafebiz, Doanhnhansaigon, Tuoitre, Tamnhin)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s