Lúa chết gần hết, web Sở mới hướng dẫn cách chăm sóc

Posted: March 22, 2016 in Uncategorized
Tags:

Mậu Trường (TTO) – Thời gian gần đây, nhiều người dân tỉnh Bến Tre rất bức xúc khi trang web của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa thông tin “Biện pháp kỹ thuật chăm sóc lúa đông xuân trong tình hình hạn mặn” khi lúa trên địa bàn tỉnh đã gần như đã mất trắng.

� Xem thêm: “Thịt mình đang ăn toàn… đôla” + Trên 6 triệu con heo xơi chất cấm vô bụng người Việt.

Màn hình chụp lại website Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bến Tre ngày 21-3, với bản tin “Biện pháp kỹ thuật chăm sóc lúa đông xuân trong tình hình hạn mặn”, khi mà hầu hết diện tích lúa của Bến Tre đã mất trắng.

Bản tin được đưa lên web ngày 10-3 với nội dung: “Theo thông tin của đài Khí Tượng Thủy Văn tỉnh Bến Tre trong mùa khô 2015- 2016 nước mặn sẽ xâm nhập sâu và sớm hơn so với các năm trước, mặn có khả năng ảnh hưởng đến năng suất vụ đông xuân 2015-2016. Để giảm thiệt hại cho lúa do hạn mặn, nông dân cần áp dụng  các biện pháp kỹ thuật như sau…”.

Trong khi đó, theo báo cáo mới đây của Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre Võ Thành Hạo với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, hiện tỉnh có trên 19.000 ha lúa Đông Xuân bị thiệt hại gần 100%.

Ông Ng. V. B, ngụ huyện Châu Thành, cho biết trong đợt mặn đầu tiên xâm nhập sâu vào kênh nội đồng ngày 28 tết, gia đình ông đã không được cảnh báo trước nên vườn sầu riêng đã bị hỏng, chỉ biết trông chờ vào cây lúa. Từ đó, ông thường xuyên lên mạng, vào trang web của sở nông nghiệp tỉnh nhà để theo dõi độ mặn, kỹ thuật giúp cây trồng chống chọi với hạn mặn.

“Có thể đợt mặn lịch sử này cây lúa sẽ không có cách nào chống chọi nổi. Nhưng tôi quá bức xúc với cách làm việc, đăng tải thông tin của trang web chuyên ngành của sở nông nghiệp. Không biết họ đưa thông tin này lên sau khi lúa đã mất trắng để làm gì. Đâu còn ý nghĩa gì nữa?”.

Trao đổi với Tuổi Trẻ ngày 21-3, một lãnh đạo chi cục bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bến Tre), đơn vị viết bản tin nói trên, cho biết có thể bản tin này đã được viết từ lâu nhưng do bộ phận quản lý trang web đăng lên chậm. Bà sẽ cho kiểm tra lại sự việc và góp ý các bộ phận liên quan.

Còn ông Trịnh Văn Thịnh, phó giám đốc Sở Thông tin truyền thông Bến Tre, cho biết đơn vị này chỉ cấp phép cho trang web các sở ngành hoạt động và kiểm soát thông tin đăng tải trên trang web. Còn việc đăng chậm hay quyết định có đăng hay không là do ban biên tập, lãnh đạo của từng sở quyết định.

Ông Nguyễn Hữu Lập, phó chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, cho biết bước vào đợt hạn mặn tỉnh đã chỉ đạo các sở ngành cần tuyên truyền kịp thời cho người dân các thông tin liên quan về độ mặn, cách đối phó… để người dân kịp thời nắm bắt, thực hiện.

“Tỉnh ủy, UBND đã có chỉ đạo quyết liệt trong việc thông tin kịp thời cho người dân. Tuy nhiên, có thể anh em cấp dưới làm chậm, chưa kịp thời. Tỉnh sẽ nhắc nhở để khắc phục trong thời gian tới”, ông Lập nói.

“Thịt mình đang ăn toàn… đôla”

Phạm Phú Ngọc Trai (TTO) – Có những nghịch lý đau lòng: giá sản xuất trung bình 1kg thịt heo hiện nay tại Việt Nam cao xấp xỉ 22% so với Mỹ; ngành chăn nuôi không phát triển được, bởi thịt mình đang ăn toàn… đôla.

Thử làm một phép so sánh nhỏ, GDP bình quân đầu người của Việt Nam vào khoảng 2.000 USD/người/năm, trong khi GDP bình quân đầu người của Mỹ gấp hàng chục lần, nhưng giá sản xuất trung bình 1kg thịt heo hiện nay tại Việt Nam cao xấp xỉ 22% so với giá sản xuất trung bình 1kg thịt heo ở Mỹ (và một số nước khác như Mexico, Úc).

“Đi bán giùm sữa cho nông dân là chưa đủ, phải làm sao cho họ sống được bằng sản xuất kinh doanh sữa có hiệu quả. Đó là trách nhiệm của Nhà nước và cả doanh nghiệp Việt Nam!”

Theo số liệu tổng hợp của Tổ chức Lương nông Liên Hiệp Quốc (FAO), năm 2015 mức tiêu thụ đạm động vật (thịt + thủy hải sản) bình quân Việt Nam khoảng 84 kg/người/năm (trong đó thịt chiếm 62%), trị giá sản phẩm thịt khoảng 168 USD/người/năm. Rõ ràng, người Việt Nam đang tiêu thụ lượng thịt ít hơn, với giá cao hơn và chất lượng thì không thể bằng.

Nếu phân tích kỹ mới thấy một nghịch lý: nông nghiệp hiện chiếm hơn 18% tổng GDP cả nước nhưng ngành chăn nuôi vẫn không phát triển được, bởi thịt mình đang ăn toàn… đôla.

Từ nguyên liệu thức ăn cho gia súc như bắp, bã đậu nành, cám gạo, đến các loại thuốc cho heo, gà, cá… đều phải nhập bằng ngoại tệ.

Tổng hợp từ báo cáo thống kê cho thấy thị trường thức ăn chăn nuôi năm 2015 ước tính trị giá 6,92 tỉ USD, trong khi giá trị nhập khẩu nguyên liệu cho ngành này hơn 4,8 tỉ USD. Vì sao phải nhập? Vì giá rẻ hơn và chất lượng tốt hơn mình rất nhiều.

Thêm một ví dụ nữa, cả nước Mỹ chỉ cần vài ngàn nông trại hiệu quả cao là đủ phục vụ hơn 300 triệu dân, trong khi đó cả nước mình có đến hàng triệu hộ chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ, chi phí giá thành cao.

Để chạy theo lợi nhuận, một bộ phận nông dân sẵn sàng sử dụng chất tạo nạc, chất tăng trọng, hóa chất cấm trong trồng trọt, qua mặt người tiêu dùng về chất lượng mà vẫn tiêu thụ được.

Tất cả những vấn nạn từ thịt bẩn, rau bẩn suốt một thời gian dài đã dẫn đến hệ lụy về sức khỏe, góp phần không nhỏ trong việc đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có tỉ lệ ung thư cao trên thế giới.

Nhìn qua ngành mía đường, nghịch lý nhưng vẫn tồn tại nhiều năm nay. Khi khó khăn, thiếu đường, chúng ta phải nhập khẩu đã đành, bây giờ đủ đường cũng phải nhập khẩu. Vì sao?

Vì giá đường nhập khẩu thấp hơn trong nước. Phân tích ra mới thấy không đủ đường không phải vì thiếu mía, mà vì chữ đường trong cây mía của Việt Nam luôn thấp hơn so với Thái Lan.

Một hộp nước cam, nước thơm, nước táo… được sản xuất và đóng hộp tại Việt Nam nhưng nguyên liệu sử dụng trong đó đều được nhập khẩu từ nước ngoài!

Điểm lại chuỗi giá trị trong chế biến thực phẩm đạm động vật từ nông trại (farm), thức ăn chăn nuôi (feed) và thực phẩm (food) suốt một thời gian dài vừa qua gần như vắng bóng những doanh nghiệp Việt Nam có tầm cỡ đầu tư một cách tập trung và hoàn chỉnh.

Vì thế, cho đến nay lợi thế đã tạm thời nghiêng về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có nguồn vốn lớn, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm lâu năm, họ đang dẫn dắt và kiểm soát theo đúng quy luật của kinh tế thị trường.

Vì vậy, cần phải giải bài toán làm sao tái cấu trúc mô hình, mở rộng quy mô, để dần dần tham gia chuỗi giá trị nhằm giảm chi phí trong lộ trình nâng cao năng lực cạnh tranh.

Trước ngưỡng cửa hiệp định TPP và AEC đã có hiệu lực, chúng ta phải thấy đây là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam nhìn lại, nhận ra mình trong điều kiện có thể, tìm được hiệu quả trong đầu tư nông nghiệp.

Ngay cả chính sách cho nông nghiệp phải mang tầm chiến lược và thực thi được trong hiện trạng của nền kinh tế. Khuyến khích đầu tư và nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa là bài toán cho cả Nhà nước và doanh nghiệp hiện nay.

Đặc biệt, Nhà nước phải luôn cân nhắc sự bình ổn về giá, mức độ cung cầu trong những thời điểm phải đối mặt với sự biến động của thị trường, kể cả vấn đề về an ninh an toàn lương thực thực phẩm. Vai trò này liệu có thể dựa vào doanh nghiệp FDI?

Hơn lúc nào hết, doanh nghiệp Việt Nam cần gánh vác vai trò của mình, để xác lập lại “trật tự” trong quá trình hội nhập hiện nay, không chỉ Nhà nước mới có trách nhiệm bảo đảm lương thực, thực phẩm, sức khỏe cho người dân, mà doanh nghiệp trong nước cũng cần có trách nhiệm đó.

Mô hình trang trại lớn, không thể làm ăn gian dối, chính sách cho nông nghiệp phải làm sao bảo đảm sự công bằng, minh bạch, đủ để ngăn chặn những doanh nghiệp làm ăn gian dối, khuyến khích doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng… chính là những nhân tố quan trọng nhất giúp nông nghiệp chuyển mình.

Trên 6 triệu con heo xơi chất cấm vô bụng người Việt

Trần Mạnh (TTO) – Nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng sự lỏng lẻo trong quản lý để xin nhập khẩu về sản xuất thuốc nhưng lại bán ra ngoài cho người chăn nuôi. Người tiêu dùng đang bị đầu độc ra sao?

Lực lượng Bộ Công an và Bộ NN&PTNT kiểm tra bột chất cấm salbutamol (tạo nạc, tăng trọng) được phát hiện tại Công ty TNHH thủy sản Seabird (Q.Bình Thạnh, TP.HCM) – Ảnh: Hoàng Lộc

Bộ NN&PTNT cho biết salbutamol, một trong những chất bị cấm sử dụng trong ngành chăn nuôi, đã được Bộ Y tế cấp phép nhập khẩu với số lượng lớn để sản xuất thuốc cho người, nhưng tỉ lệ sử dụng chất này trong y tế hầu như không đáng kể.

Gần như toàn bộ lượng thịt heo sử dụng chất cấm đều được tiêu thụ tại thị trường VN, tức là chính người Việt đã đầu độc người Việt
Ông PHẠM ĐỨC BÌNH (phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai)

Với lợi nhuận lớn, nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng sự lỏng lẻo trong quản lý để xin nhập khẩu về sản xuất thuốc nhưng lại bán ra ngoài cho người chăn nuôi, bất chấp sức khỏe của người tiêu dùng.

Trên 6 triệu con heo 
ăn chất cấm

Ông Nguyễn Văn Việt, chánh thanh tra Bộ NN&PTNT, cho biết theo số liệu của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49) – Bộ Công an, trong năm 2015 đã có trên 20 doanh nghiệp tham gia nhập khẩu 9.140kg salbutamol về VN. Trong đó, khoảng 3 tấn đang được lưu giữ trong kho của các doanh nghiệp. Trên 6 tấn đã được bán ra thị trường nhưng chỉ có 10kg được sử dụng đúng quy định.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, thông thường các đối tượng sử dụng chất cấm này chỉ khoảng một tháng cuối trước khi heo xuất chuồng. Đây là thời điểm heo gần đạt trọng lượng tối ưu nên tốc độ tạo mỡ nhanh, tiêu tốn thức ăn nhiều.

Hơn nữa, cho heo ăn chất cấm ở giai đoạn này mới cho thịt đẹp, loại mà thương lái rất thích và người tiêu dùng ưu tiên lựa chọn.

Theo đó, nếu bán heo ở mức 100-110 kg/con, heo được cho ăn chất cấm khi đạt trọng lượng khoảng 80kg. Nếu xuất bán khi đạt khoảng 130 kg/con, heo sẽ được cho ăn chất cấm ở trọng lượng 100-110kg. Ở giai đoạn kích nạc, mỗi ngày một con heo tiêu thụ hết 3,3kg thức ăn. Như vậy, trong tháng tăng trọng này heo sử dụng hết khoảng 100kg cám có trộn chất cấm.

Trong khi đó, với mỗi ký chất cấm (thường là sabultamol) nguyên chất thường được pha với 100 tấn thức ăn chăn nuôi. Như vậy với 6 tấn chất cấm đang trôi nổi ngoài thị trường sẽ có khoảng 600.000 tấn thức ăn cho heo có chứa chất cấm.

Với mỗi con heo trong giai đoạn cần tạo nạc sử dụng 100kg cám như đã nói ở trên, lượng thức ăn này đủ để “tạo nạc” cho 6 triệu con heo, chiếm trên 20% tổng đàn heo của VN (28 triệu con).

“Đến nay chúng tôi chưa phát hiện trường hợp nhập lậu chất cấm nên có thể khẳng định nguồn cung này thời gian qua chủ yếu là đi qua con đường nhập khẩu về làm thuốc” – ông Việt cho hay.

Ông Phạm Đức Bình, phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, có cùng quan điểm khi cho rằng không thể đổ lỗi cho thuốc từ Trung Quốc, bởi chính Trung Quốc cũng cấm các loại chất này trong chăn nuôi nên không dễ dàng mua bán được.

“Không chỉ vào VN bằng đường chính ngạch, chất cấm này được sử dụng trong chăn nuôi heo suốt nhiều năm qua. Điều đáng nói, gần như toàn bộ lượng thịt heo này đều được tiêu thụ tại thị trường VN, tức là chính người Việt đã đầu độc người Việt” – ông Bình nói.

Nhiều chiêu né luật

Nhiều thương lái khẳng định hầu hết heo sử dụng chất cấm chỉ dành để tiêu thụ trong thị trường nội địa chứ không thể xuất khẩu được. Bởi vì heo ăn chất cấm có xương rất yếu nên chúng dễ bị gãy xương trong quá trình vận chuyển bằng xe tải trên quãng đường dài, chưa kể các nước nhập khẩu heo kiểm soát rất chặt chất lượng sản phẩm cũng như hàm lượng chất cấm trong heo.

“Ăn chất tạo nạc làm thể trạng heo yếu sẽ chết rất nhiều nếu vận chuyển từ phía Nam sang biên giới với Trung Quốc” – ông Nguyễn Quốc Trung, một thương lái heo đi Trung Quốc, cho hay.

Trong khi đó, sự lúng túng của các cơ quan quản lý, cụ thể là sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa Bộ NN&PTNT và Bộ Y tế, đã tạo điều kiện cho chất cấm vào thị trường trong nước, còn lợi nhuận cao và chế tài nhẹ đã không đủ sức răn đe người sử dụng.

Theo Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, với tình hình kiểm tra như thời gian qua, việc một trang trại dùng chất cấm bị cơ quan chức năng địa phương phát hiện rất khó xảy ra. Tại Đồng Nai có gần 2.000 trang trại lớn, chưa kể hàng chục ngàn hộ nuôi nhỏ lẻ.

Trong khi đó mỗi năm các cơ quan chức năng chỉ đi kiểm tra vài ba lần, mỗi lần 40-50 trang trại nên rất khó kiểm soát chuyện dùng chất cấm trong chăn nuôi.

Hơn nữa, theo ông Nguyễn Quốc Trung, nhiều chủ trại lớn đã có kinh nghiệm đối phó với các cơ quan chức năng. Trước khi xuất chuồng 10-15 ngày, người nuôi chủ động ngưng dùng chất cấm và cho heo ăn các loại thuốc kích thích bài tiết như các loại vitamin, thuốc lợi tiểu để nồng độ chất cấm xuống thấp hơn giới hạn phát hiện bởi test thử nhanh mà cơ quan thú y hay dùng.

Một số chủ trại còn chuyên nghiệp hơn, họ mua luôn bộ thử nhanh về để kiểm tra trước, nếu heo âm tính với chất cấm mới được xuất bán nên cơ quan khó phát hiện được.

Đặc biệt, theo ông Phạm Đức Bình, việc dùng chất cấm để tạo nạc không chỉ tăng trọng và nhiều nạc hơn mà giá bán thịt heo loại này cũng cao hơn so với heo không dùng khoảng 2.000 đồng/kg, càng khuyến khích nhiều nông dân sử dụng chất cấm này hơn. Trong thực tế, bên cạnh những hộ chăn nuôi vô tình hay cố ý sử dụng các chất cấm để tạo nạc cho heo, nhiều người chăn nuôi cũng bị thương lái ép sử dụng các chất này thông qua giá mua heo.

Chất cấm: nhập 1,5 triệu đồng/kg, bán 15 triệu đồng/kg

Salbutamol được dùng để sản xuất thuốc làm giãn phế quản trị hen suyễn cho người nên vẫn được Cục Quản lý dược (Bộ Y tế) cho phép nhập khẩu.

Tuy nhiên, do quản lý không chặt chẽ và lợi nhuận quá cao, nhập với giá 1,5 triệu đồng/kg nhưng giá bán tới tay người chăn nuôi lên đến 15 triệu đồng/kg, các doanh nghiệp nhập khẩu đã tuồn chất này ra bán cho ngành chăn nuôi.

Theo TS.BS Trần Bá Thoại – ủy viên ban chấp hành Hội Nội tiết VN, các kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc hen phế quản ở người trưởng thành tại VN là 4,1%, tính ra VN chỉ cần khoảng 10kg salbutamol để làm thuốc là đủ, trong khi các doanh nghiệp nhập khẩu về trên 9 tấn salbutamol. Như vậy, phần lớn chất này có thể đã được bán cho ngành chăn nuôi.

Ông Nguyễn Văn Việt, chánh thanh tra Bộ NN&PTNT, cho biết sau khi xác định nguồn cung chất cấm chủ yếu được nhập khẩu chính quy, các cơ quan chức năng đã kiểm tra tại kho của các nhà máy và giám sát chặt chẽ quá trình tiêu thụ lượng tồn kho. Do đó, thời gian tới nguồn cung chất này ra thị trường sẽ giảm mạnh.

Nhiều tác hại 
đến sức khỏe người tiêu dùng

Khi được cho ăn thức ăn có chứa các chất thuộc nhóm beta-agonist (gồm salbutamol, clenbuterol và ractopamine) với một tỉ lệ nhất định, heo sẽ bung đùi, nở mông, tăng trọng nhanh và giảm mỡ, tăng nạc…

Tuy nhiên, người tiêu dùng ăn thịt heo có tồn dư salbutamol và clenbuterol lâu dần sẽ có nguy cơ bị ảnh hưởng xấu lên tim mạch, làm tim đập nhanh, tăng huyết áp, run cơ, rối loạn tiêu hóa, nếu nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng và là nguy cơ cho những căn bệnh khác.

Các nước trên thế giới đều đã cấm sử dụng nhóm beta-agonist để làm chất kích thích tăng trọng trong chăn nuôi. Từ năm 2002, VN cũng đưa các chất thuộc nhóm beta-agonist vào danh sách cấm.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s