Tổng giám đốc IMF: ‘Kinh tế Việt Nam khó chống chọi những cú sốc nếu không cải cách’

Posted: March 22, 2016 in Uncategorized
Tags:

Hồ Mai (VNF) Theo Bloomberg – Việt Nam có nguy cơ dễ bị tổn thương trước những cú sốc bên ngoài nếu không thúc đẩy cải cách để củng cố hệ thống ngân hàng và tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước, theo Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF Christine Lagarde.

� Xem thêm: World Bank sẽ chấm dứt ODA ưu đãi với Việt Nam vào năm 2017 + Gánh nặng trả nợ công sẽ đạt “đỉnh” sau 6 năm nữa + Nợ công sẽ phải trả sớm hơn với lãi suất cao hơn.


Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF
Christine Lagarde vừa có chuyến thăm Việt Nam

“Nếu không cải cách, Việt Nam sẽ không thể sẵn sàng chống chọi với các cú sốc kinh tế từ việc thắt chặt chính sách tiền tệ tại các quốc gia khác, cũng như đà sụt giảm sâu và kéo dài của giá hàng hóa và tình trạng giảm tốc của nền kinh tế Trung Quốc”, Tổng giám đốc IMF cho biết trong cuộc phỏng vấn với Bloomberg vào ngày 18/3 tại TP.HCM.

“Nguy cơ là kinh tế Việt Nam có thể dễ bị tổn thương trước những cú sốc bên ngoài”, bà Christine Lagarde nói. “Và do đó sẽ không tốt cho người dân Việt Nam”.

Hội nhập của Việt Nam với kinh tế toàn cầu đã thúc đẩy tăng trưởng và tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm xuống còn 13,5% từ 60% năm 1993. “Việt Nam hiện nay có một nền kinh tế mở nhất thế giới”, Tổng giám đốc IMF nói.

Nền kinh tế được dự báo sẽ tăng trưởng ở mức 6,6% trong năm nay, theo khảo sát của Bloomberg, trong khi Thủ tướng Chính phủ đã đề xuất nâng cao mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2016 của Việt Nam lên 7% từ 6,7%.

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của quốc gia từ năm 2008 đã diễn ra chậm hơn so với hai thập kỷ trước và không đạt được tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người mà những nước thành công trong khu vực đã đạt được ở thời kỳ cùng trình độ phát triển, bà Lagarde cho hay.

Theo bà, Việt Nam cần áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt hơn nữa để giảm những tác động từ bên ngoài và giúp củng cố dự trữ ngoại tệ. Hơn nữa, cải cách doanh nghiệp nhà nước và giải quyết nợ xấu tại các ngân hàng là việc cần thiết để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Việt Nam trong tương lai.

Bà Christine Lagarde chia sẻ: “Chúng tôi cho rằng hệ thống ngân hàng cần phải được cải thiện mạnh mẽ hơn, kết hợp với tăng cường vốn ở các ngân hàng vận hành tốt, đặc biệt cần giảm tỷ lệ tài sản có vấn đề”. Doanh nghiệp nhà nước cũng cần quản trị tốt hơn và tái tập trung vào mảng kinh doanh cốt lõi.

Ngoài ra, Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều nguy cơ như tỷ lệ nợ công đã lên đến 60% GDP trong khi tốc độ già hóa dân số đang tăng vào hàng cao nhất thế giới trong khi số người trong độ tuổi lao động lại giảm xuống.

Do vậy, theo Tổng giám đốc IMF, để đảm bảo sự sự phát triển bền vững trong tương lai, Việt Nam phải thận trọng hơn trong việc kiểm soát và chi tiêu hợp lý các nguồn thu.

[:-/] Giám đốc IMF nói kinh tế Việt Nam có nguy cơ nếu không cải cách (VOA) – Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Christine Lagarde nói hôm 18/3 rằng Việt Nam có nguy cơ dễ bị tổn thương do các cú sốc từ bên ngoài nếu Việt Nam không thúc đẩy các cải cách nhằm tăng cường hệ thống ngân hàng và tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước.

…Bà Lagarde nhận định Việt Nam cần áp dụng tỷ giá hối đoái linh hoạt nhiều hơn nữa để giảm tác động của các cú sốc kinh tế từ nước ngoài và củng cố dự trữ ngoại tệ. Theo bà, cải cách doanh nghiệp nhà nước và giải quyết nợ xấu của ngân hàng sẽ tạo ra hiệu quả bù đắp cho tình trạng lực lượng lao động đang già đi, một lực cản đối với tăng trưởng trong tương lai.

“Chúng tôi tin là hệ thống ngân hàng cần được làm cho trở nên mạnh hơn, tốt hơn và vốn hóa nhiều hơn, cũng như giảm tài sản có vấn đề trong bảng cân đối của họ, để các ngân hàng có thể thực sự tiếp nhiên liệu cho nền kinh tế”, bà Lagarde nói. Bà cho rằng các doanh nghiệp nhà nước cần phải được quản trị tốt hơn để họ tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính.

Về tình trạng nợ công cao trong khi dân số đang già đi, bà đưa ra nhận xét: “Khi vừa có nợ cao lẫn lực lượng ở tuổi lao động giảm nhẹ dần, người ta cần phải rất cẩn thận với ổn định vĩ mô. Cần phải cẩn thận với lợi tức thu được và chi dùng nó như thế nào”.

World Bank sẽ chấm dứt ODA ưu đãi
với Việt Nam vào năm 2017

Bích Diệp (Dân Trí) – Đến tháng 7/2017, World Bank sẽ chấm dứt ODA ưu đãi với Việt Nam, phải chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vay ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường. Nguồn vốn ODA đã vay chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc tăng lãi suất lên từ 2% – 3,5%.

Trao đổi tại cuộc họp báo chuyên đề về chính sách cho vay lại vốn ODA diễn ra sáng nay (22/3), ông Trương Hùng Long, Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cho biết, trong giai đoạn 10 năm trở lại đây (2005 – 2015), tổng số vốn ODA, vay ưu đãi được ký kết khoảng 45 tỉ USD. Trong đó, 1/3 cho ngân sách trung ương để cấp phát cho các chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi của Ngân sách trung ương; 1/3 dành cho các chương trình, dự án của địa phương và chỉ có 1/3 để cho vay lại các dự án trọng điểm của nhà nước.

Trong 15 tỉ USD dành cho chương trình, dự án của địa phương, tỷ trọng vốn cấp phát chiếm đến 92,2%; cho vay lại chỉ chiếm 7,8%. Đối với phần vốn để cho vay lại các dự án đầu tư trọng điểm của nhà nước, cho đến nay hầu hết Chính phủ vẫn chịu toàn bộ các rủi ro tín dụng. Cơ quan cho vay lại chỉ có vai trò là ngân hàng phục vụ và hưởng phí dịch vụ.

Theo ông Long, cơ chế bao cấp bấy lâu nay thông qua cơ chế cấp phát từ ngân sách và cho vay lại nhưng Nhà nước vẫn phải chịu rủi ro trong thời gian dài có thể tạo ra sức ỳ từ các dự án. Từ năm 2010, Việt Nam đã trở thành nước thu nhập trung bình, do đó, mức độ ưu đãi của các khoản cho vay của các đối tác phát triển dành cho Việt Nam đang giảm rõ rệt.


Ông Trương Hùng Long – Cục trưởng Cục Quản lý nợ
và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính)

Nếu như giai đoạn trước năm 2010, thời hạn vay bình quân khoảng từ 30-40 năm, với chi phí vay khoảng 0,7-0,8%/năm, bao gồm thời gian ân hạn thì 2011-2015, thời hạn vay bình quân chỉ còn từ 10-25 năm, tùy theo từng đối tác và từng loại vay; với chi phí vay khoảng 2%/năm trở lên. Nhiều nhà tài trợ đã chuyển từ nguồn vốn ODA sang nguồn vốn vay hỗn hợp, vừa vốn tài trợ vừa vốn thương mại kèm theo nhiều điều kiện ràng buộc.

Theo lộ trình, đến tháng 7/2017, Ngân hàng Thế giới (World Bank) sẽ tuyên bố chấm dứt ODA ưu đãi với Việt Nam và phải chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vay kém ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường. Nguồn vốn ODA đã vay chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc tăng lãi suất lên từ 2% – 3,5%.

Ông Long cho biết, khoản vay dài nhất của Việt Nam có thời hạn đến năm 2055, bình quân thời gian các khoản nợ vay là 12,5 năm. Theo đó, yêu cầu đặt ra trước khi Việt Nam “tốt nghiệp” ODA vào năm 2017 là phải trả nợ nhanh theo từng khoản vay.

“Tôi tính toán dòng tiền và từng khoản nợ hiện nay của Việt Nam, thời điểm phải trả nhiều nhất rơi vào khoảng năm 2022 – 2025, từ nay 2020 chưa phải là nhiều” – ông Long cho biết.

Hiện tại, Bộ Tài chính và các bộ ngành liên quan đang có chương trình làm việc với World Bank, sau đó là các tổ chức khác để đàm phán lộ trình và phương án trả nợ, hạn chế tối đa tác động của trả nợ nhanh tới ngân sách nhà nước để thực hiện cho vay lại và tránh “sốc” cho ngân sách khi tăng gấp đôi thời gian và chi phí

World Bank cũng đã cam kết với Việt Nam đưa ra phương án để đảm bảo tránh tác động nhiều đến nghĩa vụ nợ của Việt Nam, kể cả lâu dài và trước mắt.

Tuy nhiên, ông Long không cho biết về con số nợ công phải trả cụ thể từ nay đến năm 2020 vì vẫn đang trong quá trình đàm phán. “Hiện đàm phán này chưa đến hồi kết, mỗi phương án đặt ra cách thức trả nợ và tốc độ trả nợ khác nhau, điều kiện khác nhau, hoặc là giãn thời gian, hoặc tăng chi phí. World Bank hiện chiếm tới gần 30% khoản vốn vay, nếu đàm phán có lộ trình tốt thì đàm phán với các đối tác khác cũng sẽ thuận lợi hơn”, ông Long cho hay.

Cũng theo Bộ Tài chính công bố, con số trả nợ trong năm 2015 chiếm khoản 16% tổng thu ngân sách. Trong năm 2016 con số trả nợ được báo cáo lên Quốc hội và Chính phủ được tính toán dựa trên kịch bản quản lý nợ, khoản nợ đến hạn và tình hình kinh tế hiện nay, là các khoản phải trả nợ và là hơn 24% trên tổng thu ngân sách.

Trước thực trạng này, Bộ Tài chính cho rằng, trong thời gian tới, với các địa phương có tiềm lực tài chính khá, và đặc biệt các địa phương có khả năng điều tiết ngân sách về trung ương thì phải chia sẻ gánh nặng nợ với ngân sách trung ương thông qua cơ chế cho vay lại chính quyền địa phương.

Đồng thời, Nhà nước nên tập trung nguồn vốn ODA vào những lĩnh vực then chốt, các dự án công trình trọng điểm, thu hẹp phạm vi cấp phát từ Ngân sách nhà nước và giảm tính bao cấp của nhà nước trong cơ chế sử dụng vốn vay nước ngoài…

Gánh nặng trả nợ công
sẽ đạt “đỉnh” sau 6 năm nữa

(TB today) – Sáng nay (22/3), ông Trương Hùng Long, Cục trưởng Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cho biết, thời điểm nợ công phải trả nhiều nhất là giai đoạn năm 2022-2025.

Thông tin trên được ông Trương Hùng Long đưa ra tại buổi họp báo về chính sách cho vay lại nguồn vốn ODA của Chính phủ. Theo ông Long, giai đoạn hiện nay, mỗi năm Chính phủ dành khoảng 155.000 tỷ đồng để trả nợ.

Giai đoạn trước mắt, theo đại diện Bộ Tài chính , ngân sách nhà nước đang phải tập trung xử lý những khoản vay ngắn hạn trong nước. Đặc biệt, những khoản Chính phủ vay trong giai đoạn 2011-2013, với 70% vốn huy động thông qua tín phiếu, trái phiếu kỳ hạn 3-5 năm, nay tới kỳ hạn phải trả.

Trước năm 2010, Việt Nam vẫn là nước thu nhập thấp, nên các khoản vay thường ưu đãi nước ngoài có kỳ hạn dài từ 30-40 năm, lãi suất thường dưới 1%/năm. Tuy nhiên, từ năm 2010 tới nay, Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình, nên nguồn vốn ưu đãi cũng giảm dần, thời gian vay chỉ còn từ 20-25 năm (thậm chí chỉ 15 năm), lãi vay khoảng 2%/năm. Thậm chí, một số nhà tài trợ chuyển sang vốn hỗn hợp (vừa hỗ trợ, vừa cho vay thương mại).

Theo kế hoạch, tháng 7/2017, Ngân hàng Thế giới (WB), sẽ tuyên bố chấm dứt ODA với Việt Nam. Sau đó Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), các nhà tài trợ song phương cũng chuyển dần hình thức hỗ trợ Việt Nam. Việt Nam sẽ phải tiếp cận nguồn vốn vay thương mại.

Cùng với kết thúc cho vay ODA (tốt nghiệp ODA), theo ông Long, Việt Nam sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhanh (như khoản vay 20 năm, sẽ phải trả trong 10 năm), hoặc tăng chi phí vốn (lãi suất từ 2% lên 3%). “Thời gian từ nay tới tháng 7/2017, chúng ta phải tranh thủ tối đa ngồn vốn ODA còn lại để đầu tư cho hạ tầng. Đồng thời chuyển đổi cơ chế, để khi tốt nghiệp ODA sẽ sẵn sàng bước sang giai đoạn mới”, ông Long nói.

Về nghĩa vụ trả nợ, ông Long cho biết, hiện khoản vay dài nhất của Việt Nam là tới năm 2055. Tuy nhiên, bình quân các khoản nợ phải trả hiện nay khoảng 12 năm. Vì vậy, thời điểm Việt Nam phải trả nợ nhiều là từ năm 2022-2025. Ông Long cho hay, Chính phủ đang làm việc với WB để có lộ trình trả nợ, hạn chế tối đa tác động trả nợ nhanh tới ngân sách nhà nước và chủ đầu tư sử dụng vốn ODA.

Nợ công sẽ phải trả sớm hơn với lãi suất cao hơn

Cẩm An/Trí thức trẻ (CAF) – Một trong những điều khoản khi Việt Nam không còn được vay theo điều kiện ODA vào năm 2017 là các khoản vay hiện nay sẽ phải rút ngắn thời gian trả nợ hoặc chịu trả mức lãi suất cao hơn so với cam kết trước đây.


Họp báo Chuyên đề ODA tại Bộ Tài chính

Đó là thông tin được ông Trương Hùng Long, Cục trưởng Cục quản lý nợ và tài chính quốc tế (Bộ Tài chính) đưa ra tại buổi Họp báo chuyên đề về chính sách cho vay lại vốn ODA sáng ngày 22/3 tại Hà Nội.

Theo đó, từ năm 2010 Việt Nam đã trở thành nước thu nhập trung bình. Do đó, mức độ ưu đãi của các khoản cho vay của các đối tác phát triển dành cho Việt Nam đang giảm rõ rệt.

Dẫn chứng là giai đoạn trước 2010, thời hạn vay bình quân khoảng 30 – 40 năm, với chi phí vay khoảng 0,7 – 0,8%/năm, bao gồm thời gian ân hạn.

Nhưng giai đoạn 2011 – 2015 thì thời gian vay bình quân chỉ còn từ 10 – 20 năm, tùy theo từng đối tác và từng loại vay, với chi phí vay khoảng 2%/năm trở lên. Nhiều nhà tài trợ chuyển từ vốn vay ODA sang nguồn vốn vay hỗn hợp.

“Dự kiến đến tháng 7/2017 Việt Nam có thể không còn được vay theo điều kiện ODA, phải chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường. Nguồn vốn ODA đã vay chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc tăng lãi suất lên từ 2% – 3,5%” – ông Long thông tin.

Đại diện của Bộ Tài chính cũng cho biết thêm, khoản vay có thời gian dài nhất hiện nay của Việt Nam là đến năm 2055. Với yêu cầu đặt ra khi kết thúc IDA là phải trả nợ nhanh thì, bình quân thời gian vay nợ là 12,5 năm cho các khoản nợ công.

Ông Hùng Long phân tích thêm: “Khi tính toán dòng tiền và từng khoản nợ hiện nay của Việt Nam, thời điểm phải trả nhiều nhất sẽ vào năm 2022 – 2025, có nghĩa là từ nay đến 2020 chưa phải trả nhiều”.

Với điều khoản phải trả nợ nhanh và tăng lãi suất, có thể tác động gây “sốc” cho ngân sách trong việc thu xếp các khoản nợ trong thời gian tới, Bộ Tài chính cho biết đã phối hợp cùng các liên quan để có chương trình làm việc, đàm phán với Ngân hàng Thế giới (WB), sau đó là các tổ chức khác. Được biết, WB cũng cam kết với Việt Nam đưa ra phương án để đảm bảo tránh tác động đến nghĩa vụ nợ của Việt Nam.

Tuy nhiên, trả lời câu hỏi của chúng tôi về con số nợ công phải trả cho đến thời điểm 2020 là bao nhiêu, ông Long cho biết tại thời điểm hiện nay rất khó để khẳng định con số thực tế. Bởi các cơ quan chức năng đang trong quá trình đàm phán, cùng WB để đưa ra lộ trình cho các phương án trả nợ nhanh.

“Hiện đàm phán này chưa đến hồi kết, mỗi phương án đặt ra cách thức trả nợ và tốc độ trả nợ khác nhau, điều kiện khác nhau, hoặc là giãn thời gian, hoặc tăng chi phí. WB hiện chiếm tới gần 30% khoản vốn vay, nếu đàm phán có lộ trình tốt thì đàm phán với các đối tác khác cũng sẽ thuận lợi hơn” – Ông Hùng Long nói.

Cũng theo thông tin được Bộ Tài chính công bố, con số trả nợ trong năm 2015 chiếm khoản 16% tổng thu ngân sách. Trong năm 2016 con số trả nợ được báo cáo lên Quốc hội và Chính phủ được tính toán dựa trên kịch bản quản lý nợ, khoản nợ đến hạn và tình hình kinh tế hiện nay.

Theo đó, các khoản phải trả nợ và đảo nợ chiếm hơn 24% trên tổng chi ngân sách, riêng trả nợ là 14,7% tức là tương đương trên 150 nghìn tỷ đồng. Còn lại khoản đảo nợ là 95.000 tỷ đồng.

Trước đó, tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 11, Quốc hội Khóa XIII, báo cáo bổ sung về tình hình kinh tế xã hội năm 2015 và kế hoạch 5 năm 2016 – 2020, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2015 bằng khoảng 2 lần so với giai đoạn 2006-2010.

Trong đó chi đầu tư phát triển bằng khoảng 1,7 lần, chi trả nợ bằng khoảng 1,83 lần, chi thường xuyên bằng khoảng 2,53 lần. Chi thường xuyên vẫn chiếm tỷ lệ lớn và ngày càng tăng cao, hiện ở mức 64 – 65% trong khi chi đầu tư giảm còn khoảng 23,6%.

Việc chi thường xuyên tăng nhanh; một số khoản chi chưa được quản lý chặt chẽ thì nợ công tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn; nợ Chính phủ đã vượt giới hạn quy định (50,3% GDP so với quy định là không quá 50%); sử dụng vốn vay ở một số dự án kém hiệu quả và còn thất thoát, lãng phí. Thành viên Chính phủ cũng xác nhận rằng thu hiện nay không đủ bù chi thường xuyên và trả nợ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s