‘Chấm dứt triều đại Nguyễn Tấn Dũng’: Giới quan chức bắt đầu ‘mở miệng’ về nợ xấu

Posted: March 25, 2016 in Uncategorized
Tags:

Lê Dung/SBTN (VNTB) – Ngay trước khi khai mạc kỳ họp thứ 11 quốc hội, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia – một cơ quan khá khép nép thuộc Chính phủ – đột ngột tung ra số liệu cho rằng trong năm 2015, nợ xấu là 119,660 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ 2.9% với giá trị tuyệt đối khoảng 120,000 tỷ đồng; tuy nhiên con số này chưa tính đến 243,000 tỷ đồng nợ xấu đang “mắc kẹt” tại Công ty quản lý tài sản quốc gia (VAMC), gấp đôi số nợ xấu trên sổ sách được thống kê.

� Xem thêm: Cựu Thống đốc khuyên Phó thống đốc về nợ xấu + Quốc hội muốn rà trạm BOT: Vì sao VN làm đường đắt?


Ông Nguyễn Xuân Phúc đánh giá “việc xử lý nợ xấu chưa thực chất”

Vũ điệu nhảy múa số liệu nợ xấu của Ngân hàng nhà nước đã biến diễn sôi động kể từ khi chính phủ mới của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được thành lập vào tháng Tám năm 2011. Từ đó đến nay, thống kê sơ bộ cho thấy đã có ít nhất 15 lần tỉ lệ nợ xấu được Ngân hàng nhà nước cho “khiêu vũ,” với độ biến thiên từ 3% đến 17%. Tuy thế, các số liệu được công bố lại quá thiếu cơ sở và chẳng còn làm mấy người ngờ nghệch tin tưởng. Trùng với thời điểm cơ quan này công bố tỉ lệ nợ xấu chỉ khoảng 4% vào đầu năm 2014, một tổ chức xếp hạng tín nhiệm tín dụng có uy tín trên thế giới là Fitch Ratings đã tuyên bố một con số khác hoàn toàn dành cho nợ xấu Việt Nam: 13%!

Vào năm 2015, một tổ chức tín dụng độc lập khác là FT Confidential Research cũng công bố: Tỉ lệ nợ xấu ngân hàng Việt Nam vào khoảng 15% trong năm 2014, thực tế cao hơn nhiều so với con số chính thức.

Vào lúc mà “triều đại Nguyễn Tấn Dũng” sắp kết thúc, một kết luận xanh rờn được những người bên đảng công bố: nếu chỉ nhìn vào tỷ lệ nợ xấu/tổng nợ của toàn hệ thống chỉ còn ở mức 2.9%, tức dưới hạn mức 3% mà Ngân hàng nhà nước đặt ra, thì đây là một con số rất đẹp và an toàn, nhưng kỳ thực phần lớn nợ xấu của hệ thống ngân hàng chưa được giải quyết, chỉ đẩy từ ngân hàng sang VAMC.

Giảm quá nhanh, giảm đến mức độ người ta nghi ngờ. Vậy là ở đây có vấn đề, nợ xấu được “chế biến” hay đúng sự thật như vậy?” – cựu Thống đốc Nguyễn Văn Giàu lên tiếng. Ông Giàu cũng là một nhân vật được dư luận cho rằng trước đây đã bị Thủ tướng Dũng “đẩy” sang Quốc hội. Trong một thời gian dài, ông hầu như lắng tiếng trước nhiều điều hành bất hợp lý của phía chính phủ.

Một cựu thống đốc khác của Ngân hàng nhà nước – ông Lê Đức Thúy – cũng bắt đầu hé miệng nếu đánh giá nợ xấu của Việt Nam theo chuẩn mực thế giới, tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam sẽ không chỉ dừng lại ở con số 2.9%.

Thậm chí người vẫn còn là cấp phó của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đưa ra một đánh giá “việc xử lý nợ xấu chưa thực chất” trong bản báo cáo trước Quốc hội về tình hình kinh tế xã hội.

Cho tới nay, toàn bộ 500 hồ sơ chào bán nợ xấu mà VAMC gửi cho các tổ chức tài chính nước ngoài từ năm 2014 vẫn chưa nhận được hồi âm chính thức nào.

Vào đầu năm 2015, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công du Úc và đã lần đầu tiên nhiệt thành ngỏ lời “Việt Nam muốn bán nợ xấu”. Thế nhưng trong khi hoàn toàn phớt lờ về đề nghị này, Thủ tướng Úc lại thông báo “sẽ cắt giảm viện trợ cho Việt Nam”. Sau đó là cắt thật.

Cũng bởi thế, thành tích “giảm nợ xấu về dưới 3%” của Ngân hàng nhà nước và Chính phủ cho tới nay vẫn chỉ là con số hoàn toàn vô nghĩa.

Mà như vậy, gần như toàn bộ khối nợ xấu vẫn như một quả bom tấn được hẹn giờ, vẫn đang âm ỉ chờ lúc phát nổ trong lòng các ngân hàng thương mại và cả nền kinh tế.

Cựu Thống đốc khuyên Phó thống đốc về nợ xấu

Nguyễn Lê (VnEconomy) – “Công khai minh bạch chứ chả có gì, tôi nghĩ như thế thì chúng ta cùng lo”…


Nợ công, nợ xấu, tỷ giá là những vấn đề còn
ý kiến nhiều chiều tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân.

“Các đại biểu Quốc hội có đặt vấn đề là sau tái cơ cấu thì nợ xấu là bao nhiêu, tôi khuyên chị Hồng, cái đó mình nói luôn đi”, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu hướng về Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng, khi phát biểu kết thúc Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân, chiều 22/4.

Nợ công, nợ xấu, tỷ giá – những vấn đề còn ý kiến nhiều chiều tại Diễn đàn – đều được Chủ nhiệm Giàu đề cập ở phần gói lại hai ngày thảo luận và tranh luận.

Ngay trong bài đề dẫn mở màn phiên thứ nhất của diễn đàn, Viện trưởng Viện Kinh tế Trần Đình Thiên đã cảnh báo rằng liên quan đến nợ công, không chỉ là sự gia tăng với tốc độ cao mà còn ở xu hướng “nội địa hóa” – dựa nhiều vào trái phiếu Chính phủ thay vì ODA.

Ông Giàu cho biết trong buổi làm việc mới đây với Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, cơ quan này đánh giá nợ công của Việt Nam nếu mà tính đến các phần khác, có thể rủi ro qua nợ công nữa thì phải lên đến 70 – 75% GDP.

“Họ cộng hết toàn bộ cả nợ của doanh nghiệp Nhà nước vào nợ công nhưng luật mình không quy định như thế, song tôi cho đó là đánh giá khách quan”, ông Giàu nói.

Với vấn đề nợ xấu, một số vị cho rằng nợ xấu mới chỉ bị “xích” lại nhưng chưa được xử lý theo nguyên tắc thị trường và cơ chế hoạt động của tổ chức VAMC tại Việt Nam có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Bây giờ nợ xấu còn 3,22% tổng dư nợ thì mừng rồi, nhưng phải làm rõ hơn thông tin phần nợ xấu qua VAMC, nguyên Thống đốc Nguyễn Văn Giàu đề nghị.

Nhắc lại lời của Phó thống đốc Nguyễn Thị Hồng chiều 21/4 về biện pháp hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, ông Giàu nhấn mạnh, thực ra tái cơ cấu lần một và tái cơ cấu lần này trong hệ thống ngân hàng, Nhà nước đều có chính sách cả.

Phát hành trái phiếu đặc biệt rồi vay vốn thế chấp tại ngân hàng trung ương, mà ngân hàng trung ương là tiền chính phủ, đó là chính sách nhưng cách làm khác với các nước, ông Giàu lý giải.

Cho biết hiện nay các đại biểu Quốc hội đặt vấn đề là sau tái cơ cấu thì nợ xấu là bao nhiêu, ông Giàu nói: “Tôi khuyên chị Hồng, cái đó mình nói luôn đi, thông thường tái cơ cấu 300 nghìn tỷ đồng thì có 10 hay 15% nợ xấu, cộng với phần chuyển qua VAMC cộng với phần này thì mọi người ngồi đây hiểu cả. Công khai minh bạch chứ chả có gì, tôi nghĩ như thế thì chúng ta cùng lo”.

Có một câu hỏi khác liên quan đến nợ xấu mà ông Giàu cho là đúng, đấy là lúc đầu nói nợ xấu mười mấy phần trăm, bây giờ còn có hơn 3%, thì lý do nào giảm nhanh thế?

Bên cạnh nợ xấu, điều hành tỷ giá cũng là vấn đề nhận được không ít khuyến nghị từ các chuyên gia trong diễn đàn.

Lần này, lời khuyên của ông Giàu dành cho các chuyên gia: “Đây là vấn đề nhạy cảm, liên quan đến toàn bộ nền kinh tế và xã hội, thành ra trong nghề này, người ta có bài tính toán của người ta. Còn các chuyên gia có tính toán ưu việt hơn, thì theo tôi nên gửi thẳng đến các cơ quan Nhà nước, chắc có lẽ là thuận hơn”.

Tuy nhiên cựu Thống đốc cũng cho rằng Ngân hàng Nhà nước phải có thông điệp phù hợp, đúng đắn để các chuyên gia tin tưởng vào mức độ chính xác của các vấn đề liên quan đến tỷ giá.

“Hôm qua chị Hồng nói cán cân tổng thể thặng dư 5 tỷ USD, đấy là yếu tố rất quan trọng. Tôi cũng đồng ý với chị Hồng là quan hệ cũng cầu ngoại tệ là nhân tố quyết định nhất, tuy nhiên tôi cũng gợi ý thêm là cần đưa thông điệp phù hợp”, ông Giàu phát biểu.

Gói lại cả diễn đàn, Chủ nhiệm Nguyễn Văn Giàu còn khuyến nghị các cơ quan quản lý Nhà nước. Đó là những vấn đề chuyên gia nói bằng trái tim, bằng cái tâm cố gắng tiếp thu phân tích bàn trong nội bộ, thậm chí nên có thư gửi lại cho người góp ý.

Quốc hội muốn rà trạm BOT: Vì sao VN làm đường đắt?

Hoàn Nguyễn Thực hiện (BĐV) – TS Phạm Sanh cho rằng đề xuất rà soát lại các trạm thu phí giao thông đường bộ của Chủ nhiệm UB Kinh tế Quốc hội là chí lý, hợp lòng dân.

PV: Ngày 21/3, ông Nguyễn Văn Giàu, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội, đã trình bày báo cáo thẩm tra đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2015 và năm năm 2011-2015; triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2016 và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm năm 2016-2020.

Liên quan đến vấn đề GTVT, phát biểu tại hội nghị, ông Giàu đã đề xuất cần phải rà soát lại các trạm thu phí giao thông đường bộ để giảm gánh nặng cho người dân và doanh nghiệp.

Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào? Theo ông, nếu rà soát thì sẽ tiến hành như thế nào?

TS Phạm Sanh: Theo tôi, đề xuất rà soát lại các trạm thu phí giao thông đường bộ để giảm gánh nặng cho người dân và doanh nghiệp của ông Nguyễn Văn Giàu, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội, quá chí lý, hợp lòng dân, trả lời được câu hỏi tồn tại râm rang trong thời gian gần đây như: có phải chi phí đầu tư xây dựng đường bộ Việt Nam, trong đó có đường cao tốc, khá cao so với khu vực và thế giới (trên cùng mặt bằng quy mô, công nghệ kỹ thuật, chất lượng và hiệu quả khai thác), có phải những dự án BOT giao thông thật sự minh bạch vì dân vì nước, không vì chỉ riêng lợi ích nhà đầu tư và lợi ích nhóm, có phải các trạm thu phí BOT xây dựng đúng quy hoạch, mức thu phí đúng quy định và phù hợp…

Nếu rà soát, phải rà soát từ chủ trương, mục tiêu chiến lược, quy hoạch, đến dự án, thiết kế dự toán, lựa chọn nhà đầu tư, giám sát, thi công, nghiệm thu, cả các công tác thẩm tra thẩm định phê duyệt. Nếu có công việc rà soát của Quốc Hội nên mời thêm các chuyên gia độc lập thật sự và cần có sự hổ trợ tận tình của Bộ GTVT. Tập trung chất lượng hồ sơ dự toán thiết kế, tiến hành kiểm định chất lượng xây dựng công trình và kiểm tra các khâu định giá.

PV: Trao đổi với Đất Việt về vấn đề này, ông Bùi Văn Quản – Chủ tịch Hiệp hội Vận tải TPHCM cho rằng cần công khai, minh bạch phí đường bộ, xem xét đánh giá một cách tổng thể rồi sẽ dùng tiền còn dư thừa để mua lại những trạm thu phí để người dân được thuận tiện đi lại. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

TS Phạm Sanh: Việc sử dụng phí đường bộ đã có Luật, Nghị định và các Thông tư hướng dẩn. Tinh thần các văn bản pháp luật là sử dụng phí đường bộ để chi cho công tác bảo trì, hoạt động bộ máy quản  lý, và đầu tư cải tạo mở rộng xây dựng mới. Như vậy đề xuất của ông Quản khá hay và cũng đúng theo các quy định.

Tuy nhiên, hiện nay, chi cho công tác bảo trì khai thác đường vẫn chưa đảm bảo, tình trạng xuống cấp vẫn đang tiếp diển, khó dư để trả nợ cho các dự án BOT thu phí. Trước mắt các Bộ GTVT, Tài chính, Kế hoạch đầu tư cần công khai minh bạch để người dân góp ý, hiến nhiều kế hay cho ngành GTVT trong việc sử dụng hiệu quả tối ưu phí bảo trì đường bộ đảm bảo hệ thống đường bộ hiện hữu thông suốt, tiện lợi và an toàn.

PV: Thưa ông, hiện nay câu chuyện tài chính dùng để xây dựng các trạm thu phí BOT, thời gian thu phí và thu bao nhiêu thì đủ đang gây ra nhiều tranh cãi. Theo ông thực tế và các thống kế, đánh giá trên văn bản, giấy tờ khác nhau như thế nào?

TS Phạm Sanh: Các dự án BOT hạ tầng giao thông Việt Nam thường đối mặt 3 vấn đề rủi ro lớn: vốn đầu tư khá lớn, quy hoạch thường điều chỉnh dẩn đến dự báo thiếu chính xác, khung pháp lý (về kỹ thuật, tài chính và chính sách) chưa đầy đủ. Giao thông đường bộ có nhiều ưu điểm như mạng lưới đến từng nơi, tính cơ động cao nhờ phương tiện vận tải nhỏ nhiều và đa dạng. Các nhà đầu tư BOT cầu đường trong nước đã giải quyết bài toán vốn bằng cách chia nhỏ dự án, vay vốn ngân hàng thương mại, sử dụng lực lượng thầu phụ chủ yếu tại địa phương, lấy ngắn cắn dài.

Sơ hở về mặt pháp lý đầu tiên phải kể đến nghị định 15/2015 về PPP, quy định vốn nhà đầu tư chỉ cần từ 10 đến 15% tổng mức đầu tư, còn lại được huy động và Nhà nước chấp nhận trả lãi. Như vậy nhà đầu tư  chủ yếu đi vay ngân hàng thương mại. Ngân hàng thường huy động tiền gửi ngắn hạn trong dân đem cho vay trung dài hạn chắc chắn sẽ đẩy lãi suất lên cao để phòng ngừa rủi ro, làm chi phí đầu tư dự án BOT giao thông khá cao.

Chưa kể công tác thẩm tra thẩm định phê duyệt giá khó công khai minh bạch, thiếu phản biện kiểm tra giám sát độc lập, khép kín trong vài Bộ vài Sở, thật ra chỉ tập trung quyền hành cho vài cá nhân đơn vị cơ quan Nhà nước, dễ dẩn đến lợi ích nhóm, thông đồng giữa nhà đầu tư và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đẩy giá lên cao.

Chi phí dự án cao, tất nhiên thời gian thu hồi vốn rất dài, phương án tài chính cũng phải tính toán trượt giá sao đó để nhà đầu tư lấy lại vốn, có lời và trả nợ cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Đó là chưa kể số liệu thu phí không chính xác, chi cho hoạt động trạm thu phí thủ công quá lớn (20 đến 30% tiền thu được), không kiểm soát được chi cho bảo trì…

Sơ hở thứ hai phải nói đến thông tư 90 của Bộ Tài chính về sử dụng nguồn thu, nhưng lại “đá” qua sân Bộ GTVT khi nói cự ly các trạm thu phí phải lớn hơn 70 km trên một tuyến đường quốc lộ. Như vậy trên 2 tuyến QL giao cắt thì sao, rồi các đường ở các địa phương khác nhau, các đường trong đô thị…Quá đơn giản và sơ hở. Con số 70 km hiện nay trở nên lạc hậu khi các trạm thu phí BOT dày đặc như ma trận chỉ còn cách nhau vài ba chục km. Ngay cả Bộ GTVT, cũng chưa có một đồ án quy hoạch hoàn chỉnh khoa học về hệ thống trạm thu phí cả nước trình Chính phủ.

Cần nói thêm, các nước thế giới khi làm đường mới thu phí, đều có phương án cho người dân tiếp tục sử dụng đường không thu phí để mọi người lựa chọn đường đi của mình, không ép buộc phải đi qua cầu hay đường thu phí dưới mọi hình thức. Nếu mọi nẻo đường đều thu phí, giá thành sản xuất và dịch vụ sẽ tăng cao, sản phẩm hàng hóa rất khó cạnh tranh khi Việt Nam gia nhập vào khu vực và thế giới, phát triển kinh tế xã hội trì trệ và cuộc sống người dân ngày càng khó khăn.

PV: Nhiều thống kê cho thấy làm đường cao tốc ở Việt Nam đắt gấp 4, gấp 5 lần so với thế giới. Trong khi đó Việt Nam vẫn còn nghèo, nguồn đầu tư tài chính cho lĩnh vực giao thông vận tải vẫn còn hạn chế. Theo ông tại sao lại có nghịch lý này?

TS Phạm Sanh: Như trên đã phân tích, làm đường cao tốc VN chịu lãi vay ngân hàng quá lớn, thế giới không ai đi vay ngân hàng lãi suất cao để làm cơ sở hạ tầng. Ngoài ra thiếu các chế tài công khai minh bạch kiểm soát đơn giá, giá xây dựng. Đã vậy còn ảnh hưởng nặng nề tư duy bao cấp trong việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng, các thủ tục thẩm tra hình thức của Bộ😄 (Viện Kinh tế XD) về định mức đơn giá, và vẫn còn cơ chế “vừa đá bóng vừa thổi còi” của Bộ GTVT trong việc triển khai xây dựng đường cao tốc.

Làm nhiều đường cao tốc để đi cũng thích thật, nhưng nếu giá quá cao mất kiểm soát sẽ kéo theo giá các công trình cầu đường khác cũng cao, dễ xảy ra hiện tượng “bong bóng” trong ngành GTVT, như thường thấy trong hoạt động kinh doanh bất động sản. Chưa kể ảnh hưởng tiêu cực đến các ngành sản xuất dịch vụ khác.

Theo tôi, đường cao tốc ở Việt Nam có lẽ đắt gấp từ 2 đến 3 lần so với thế giới (trên cùng mặt bằng quy mô, tính chất, kỹ thuật, chất lượng). Nhưng đắt thế này, dân mình cũng đủ “chết” rồi, vì còn quá nhiều việc cần làm và tác động rất xấu đến phát triển ổn định kinh tế vĩ mô.

PV: Xin cảm ơn TS Phạm Sanh đã chia sẻ với Đất Việt!

Hoàn Nguyễn (Thực hiện)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s