Giao thương với Trung Quốc: Hàng đi đường tiểu ngạch dễ như bán cà rem

Posted: March 26, 2016 in Uncategorized
Tags:

Minh Khoa (TTTG) – Thị trường nông sản đang bị xé lẻ cho các đầu nậu nên bị ép giá, bị lũng đoạn và hơn hết là phó mặc cho những người không đủ năng lực đàm phán quốc tế.

� Xem thêm: Tại sao thương nhân Trung Quốc thích đi đường tiểu ngạch? + Bà Phạm Chi Lan: Phải xem lại đàm phán thương mại với Trung Quốc.


Buôn bán qua đường tiểu ngạch với Trung Quốc luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro
và thua thiệt, nhưng lại cũng luôn hấp dẫn vì tính dễ dãi. Ảnh: Vinacas.

Biết trước tác hại, biết trước rủi ro nhưng người bán, người mua đều chỉ nhìn lợi trước mắt để dễ dàng chấp nhận phương thức mua bán “chẳng giống ai” này.

Từ gạo đến, trái cây, cao su… đều đi đường tiểu ngạch

Hàng hoá qua tiểu ngạch hầu như không quá khắt khe các chỉ tiêu chất lượng, mẫu mã, nhãn mác… Tất cả đều thượng vàng hạ cám.

Chẳng hạn như mặt hàng cao su mậu biên, như các doanh nghiệp thừa nhận, hơn 60% lượng mủ xuất sang Trung Quốc hàng năm đều… không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu chính ngạch vào các thị trường khó tính.

Số này, chủ yếu được chế biến từ nguyên liệu cao su tiểu điền (khoảng hơn 60% diện tích, tập trung ở nông hộ nhỏ) thông qua các nhà máy có công suất nhỏ, không chịu bất kỳ các quy định về tiêu chuẩn chất lượng nào cả.

Không những thế, theo lời ông Lê Văn Xứng, trưởng đại diện của một công ty cao su có trụ sở tại Bình Phước, thì mua bán khá đơn giản.

Hầu hết các hợp đồng dựa trên mối quan hệ quen biết với đối tác Trung Quốc hoặc qua mối giới tại cửa khẩu. Buổi sáng, người mua, người bán vào mạng xem giá ở một số sàn giao dịch chính như Thượng Hải, Tokyo, Singapore…

Đến khoảng 11h thì thương nhân Trung Quốc vào kho xem hàng. Thấy hàng đẹp thì trả cao, hàng xấu thì trả thấp. Nếu đồng ý thì làm thủ tục chuyển tiền, khi nào thấy tiền trong tài khoản thì mình giao hàng cho họ.

Thông thường, mủ cao su từ nhà máy trong nước, sẽ được chuyển bằng đường bộ hoặc tàu thuỷ ra cảng Hải Phòng rồi chuyển xuống xe tải chở ra cửa khẩu Lục Lầm, Quảng Ninh.

Một số doanh nghiệp khác cũng cho rằng, mua bán cao su tiểu ngạch không cần hợp đồng, không cần mở LC, đôi khi chỉ trao đổi qua điện thoại và xem hàng, kiểm tra chất lượng hàng bằng… mắt.

Thương nhân Trung Quốc không chê bất cứ loại nào, tốt có giá tốt, rẻ có giá rẻ. “Vào những ngày cao điểm, có khi chỉ cần một cuộc gọi có thể bán hết cả ngàn tấn mủ cao su”, ông Lê Văn Xứng nói.

Và, cách thức buôn bán nhanh chóng, đơn giản nhất mà giới kinh doanh ở cửa khẩu hay ví như “bán cà rem”, tức giao tiền và nhận hàng ngay. Bên bán chỉ việc mở một tài khoản ở bất cứ ngân hàng nào, bên mua đồng ý mua thì chuyển tiền vào. Tiền có trong tài khoản là lấy hàng ngay trong ngày.

Lâu nay, dư luận vẫn luôn đề cập đến tình trạng mặt hàng tôm, thuỷ hải sản xuất tiểu ngạch thường bị thương nhân Trung Quốc xúi người bán bơm, độn tạp chất, thậm chí bỏ cả chì, kẽm, đất đá… vào để ăn gian trọng lượng.

Gạo hay trái cây cũng vậy, hàng tốt trộn lẫn hàng kém chất lượng để xuất tiểu ngạch vẫn thường xảy ra. Cách làm ăn gian dối này sẽ bị rủi ro cao nếu doanh nghiệp Trung Quốc nhập chính ngạch.

Phải bắt đầu tư khâu sản xuất

Ông Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện chính sách và Chiến lược phát triển nông thôn nói: “Trên thế giới, ít có khu vực, có nước nào còn chọn mua bán theo con đường tiểu ngạch không được kiểm soát, không được thống kê, không minh bạch, trốn thuế và đầy rủi ro cho các bên như Việt Nam với Trung Quốc.

Lâu nay, những mặt hàng nông thuỷ sản có kim ngạch xuất khẩu hàng chục tỷ USD mỗi năm vẫn được doanh nghiệp xuất khẩu đi các nước theo đường chính ngạch với các phương thức mua bán, thanh toán theo thông lệ quốc tế. Do đó, muốn xoá bỏ tiểu ngạch, theo ông Sơn, hoàn toàn có thể làm được nếu Chính phủ có đầy đủ quyết tâm.

Trước tiên, nếu lấy lý do thanh toán thì tại sao với khu vực châu Phi, Trung Đông luôn gặp khó khăn về kinh tế, chính trị… doanh nghiệp vẫn bán hàng vào được.

Hay như với Nga, một thời gian dài chúng ta kêu ca về việc thanh toán bằng đồng rúp không thuận lợi, thì nay đã có ngân hàng BIDV đứng ra làm cầu nối đảm bảo giúp doanh nghiệp có thể giao dịch tốt hơn.

Với Trung Quốc, nếu chúng ta có quyết tâm thì hoàn toàn có thể đàm phán với bạn để các ngân hàng tham gia vào, và doanh nghiệp hoàn toàn có thể an tâm  giao dịch chính ngạch mà không sợ rủi ro gì cả.

Bên cạnh vấn đề thanh toán, Chính phủ cần phải đưa ra chính sách đường dài nhằm giúp người sản xuất, giúp doanh nghiệp chuyển đổi mô hình buôn bán nhỏ lẻ, mậu biên sang buôn bán lớn, chính ngạch.

Lâu nay, thị trường Trung Quốc vẫn được ngầm hiểu là thị trường dễ tính. Chúng ta sản xuất ra sản phẩm chất lượng, kích cỡ, mẫu mã như thế nào cũng bán được. Hay là cứ đến mùa vụ có người thu mua chở ra biên giới là có người mua.

Lối tư duy này đã “ăn mòn” trong đầu người sản xuất, doanh nghiệp, thành ra mới có chuyện con tôm bị bơm tạp chất, con cá con heo bị thuốc kháng sinh hay mủ cao su không có bất cứ tiêu chuẩn nào cả cũng bán được sang Trung Quốc.

Nếu cũng với sản phẩm như vậy, chắc chắn sẽ không qua được cửa hải quan để xuất khẩu vào Trung Quốc theo đường chính ngạch được.

Vì vậy, các chính sách phải bắt đầu từ khâu sản xuất, giúp nông dân cải thiện năng lực, công nghệ, quy mô để có sản phẩm tốt hơn. Còn với doanh nghiệp, Nhà nước phải giúp họ nâng cao quy mô, năng lực tài chính, năng lực quản trị và phải giúp họ xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường.

“Nếu chúng ta có quyết tâm chuyển đổi thì việc đưa ra chính sách hỗ trợ thuế để ưu đãi và khuyến khích doanh nghiệp chuyển qua xuất chính ngạch cũng không phải là giải pháp tồi”, ông Sơn nói thêm.

Lỗi do Bộ Công Thương?

Còn ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam cho rằng: “Vài ba năm nay, mặt hàng sắn lát trở thành hiện tượng xuất khẩu khi liên tục nằm trong tốp có doanh số 1 tỷ USD của Việt Nam. Cũng như một số loại nông sản khác, hàng năm, sản lượng sắn lát của Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch.

Hơn một năm trở lại đây, do bị đánh thuế xuất khẩu 5% nên doanh nghiệp hầu như chỉ chọn mậu biên để bán sắn lát hòng trốn thuế.

Là người phụ trách ngành, ông Lê Bá Lịch, chủ tịch hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, cho rằng không cứ gì doanh nghiệp Trung Quốc có thói quen trốn thuế mà ngay chính các doanh nghiệp Việt Nam cũng thường có tư tưởng “cứ tránh được cái gì thì tránh”.

Thành ra, câu chuyện lựa chọn giữa bán tiểu ngạch hay chính ngạch luôn là đề tài nóng nhưng rất khó giải quyết. Ngoài ra, thay vì áp thuế xuất khẩu 5% như hiện nay, nếu Nhà nước bỏ đi thì như vậy tiểu ngạch cũng không có ý nghĩa nữa. Doanh nghiệp sẽ “đi” đàng hoàng”.

Từ trước đến nay, theo ông Lê Bá Lịch, sở dĩ Việt Nam luôn phải phụ thuộc thị trường mậu biên là vì nông dân sản xuất ra sản phẩm chỉ biết bán qua thương lái, sau đó thương lái hoặc là chở trực tiếp nông sản ra biên giới bán cho Trung Quốc hoặc họ bán cho một số doanh nghiệp nhỏ để xuất khẩu.

Thị trường nông sản, do đó, bị xé lẻ cho các đầu nậu nên bị ép giá, bị lũng đoạn và hơn hết là phó mặc cho những người không đủ năng lực đàm phán quốc tế.

Các mô hình doanh nghiệp xuất khẩu ra mậu biên hiện nay cũng giới hạn ở quy mô vừa và nhỏ, thiếu trình độ giao thương quốc tế, thiếu năng lực tài chính nên họ chỉ còn chọn con đường mua bán dễ nhất là xuất tiểu ngạch cho Trung Quốc.

Trong khi đó, bán hàng qua biên giới vừa dễ dãi về chất lượng, vừa đơn giản về phương thức giao hàng, còn thanh toán thì lại được lấy tiền liền chứ không rắc rối như mua bán chính ngạch theo thông lệ quốc tế.

Lỗi này, theo ông Lịch, là do Bộ Công Thương chưa làm tốt vai trò quản lý nhà nước, nhất là về tổ chức thị trường.

Bên cạnh đó, theo ông, Bộ Công Thương cũng chưa làm tốt việc hỗ trợ, xúc tiến thương mại: “Nhu cầu sắn lát đâu chỉ có Trung Quốc mà thị trường Hàn Quốc, Nhật, Đài Loan, Hong Kong cũng cần cho ngành chăn nuôi hay công nghiệp cồn sinh học nhưng lâu nay, doanh nghiệp chưa lần nào được hỗ trợ”.

Tại sao thương nhân Trung Quốc
thích đi đường tiểu ngạch?

Đặng Hoàng (TTTG) – Không chỉ cá tra, mặt hàng lúa gạo và cao su sau khi thông quan tại cửa khẩu Việt Nam, cũng được doanh nghiệp “lột” sạch nhãn mác để… trốn thuế.


Buôn bán tiểu ngạch qua đường biên giới
với Trung Quốc là một lựa chọn đầy rủi ro. Ảnh: VietQ

Xuất khẩu tiểu ngạch chưa bao giờ mang lại an toàn cho doanh nghiệp và người sản xuất. Tuy vậy, nhiều năm qua, sản lượng nông sản của Việt Nam bán theo đường tiểu ngạch ngày càng tăng.

Có mặt hàng như cao su, gạo, trái cây, tỷ lệ phụ thuộc thị trường mậu biên rất cao. Vậy đâu là nguyên nhân khiến doanh nghiệp không thích bán hàng sang Trung Quốc theo phương thức quốc tế?

Cá tra là mặt hàng mới nhất tham gia xuất khẩu tiểu ngạch vào Trung Quốc. Năm ngoái, do một số thị trường chính gặp khó khăn, con cá tra lần đầu được người dân Trung Quốc biết đến nhiều, sản lượng xuất khẩu tăng gấp mười lần so với năm 2014.

Tăng trưởng xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc tiếp tục đạt mức hai con số trong hai tháng đầu năm 2016, nhưng, kiểm tra lại thì doanh nghiệp vẫn chọn phương thức bán tiểu ngạch là chính.

Ông Ông Hàn Văn, phó tổng giám đốc công ty cổ phần thuỷ sản Trường Giang (Đồng Tháp), một trong những doanh nghiệp tốp đầu xuất khẩu cá tra tiểu ngạch, nói nhà nhập khẩu Trung Quốc lúc nào cũng mong muốn được mua hàng theo đường bộ nên các nhà máy cá tra phải đáp ứng theo yêu cầu của họ.

Theo ông Văn, sở dĩ thương nhân Trung Quốc thường chọn giao hàng qua biên giới, là do phương thức này tiết kiệm cho họ được rất nhiều thuế và các chi phí liên quan.

Chẳng hạn, nếu nhập cá tra chính ngạch, khi bán lẻ đến người tiêu dùng, doanh nghiệp phải cộng vào 13% thuế VAT, phần này do người tiêu dùng trả nhưng cũng làm đội giá thành lên đáng kể so với nhập tiểu ngạch không có thuế VAT.

Trong khi đó, tuy phí vận chuyển nhập cá tra chính ngạch khoảng 500 USD/container từ Việt Nam vể cảng Thiên Tân, Thượng Hải, thấp hơn nhiều so với đi đường bộ qua cửa khẩu mậu biên phải trả 3.000 – 4.000 USD, nhưng nếu mua chính ngạch thì doanh nghiệp Trung Quốc phải tốn chi phí kiểm dịch (khoảng 1.000 USD/container), phí làm thủ tục hải quan, phí lưu công…

Hơn nữa, gần đây, do tình trạng khan hiếm ngoại tệ, các ngân hàng Trung Quốc chưa bao giờ ưu tiên USD cho doanh nghiệp nhập khẩu để mở LC, nên bắt buộc họ phải sử dụng đồng NDT thanh toán cho khách hàng và chỉ có mua mậu biên mới giải quyết được.

“Xuất khẩu tiểu ngạch thì các doanh nghiệp lấy NDT rồi đổi ra VND, tuy phải trả phí nhưng nhiều lúc cũng phải chấp nhận để bán hàng và giá bán cũng cao chứ không thấp”, ông Ông Hàn Văn nhận xét.

Mua bán tiểu ngạch có thể được hiểu như một dạng trốn thuế được nhà nước Trung Quốc “hợp thức hoá” bằng các chính sạch thương mại mậu biên ký kết với Việt Nam.

Con cá tra tiểu ngạch sau khi được vận chuyển vào Trung Quốc, nhà nhập khẩu chỉ tốn thêm một ít chi phí thay đổi bao bì, nhãn mác để đổi sang một cái tên không liên quan gì đến con cá tra là buli, một loài cá địa phương để khỏi phải chịu thuế VAT 13%.

Không chỉ cá tra, mặt hàng lúa gạo và cao su sau khi thông quan tại cửa khẩu Việt Nam, cũng được doanh nghiệp “lột” sạch nhãn mác để… trốn thuế.

Đây chính là lý do giải thích vì sao thương nhân Trung Quốc “thích” mua hàng hoá Việt Nam qua đường tiểu ngạch nhiều hơn là theo thông lệ quốc tế.

Giải thích thêm về góc độ này, theo ông Huỳnh Minh Huệ, tổng thư ký hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), có nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam phía Trung Quốc cũng sản xuất được nên họ có chính sách bảo hộ sản xuất nội địa khá kỹ bằng các hàng rào bảo hộ hạn ngạch và thuế quan.

Do đó, những lúc Trung Quốc có nhu cầu mua bên ngoài thường rơi vào thời điểm trái vụ, cung không đủ cầu, thậm chí cũng có khi xuất phát từ nguyên nhân đầu cơ.

Với mặt hàng gạo, ông Huệ nói dù thuế nhập khẩu chính ngạch hiện nay chỉ còn 1%, nhưng Trung Quốc vẫn duy trì chính sách cấp quota.

Qua tiếp xúc, thương nhân Trung Quốc phản ánh để “chạy” được quota nhập chính ngạch, họ phải tốn chi phí ít nhất mỗi tấn gạo 100 USD. Khi nhập được gạo về tiêu thụ nội địa thì phải cộng thêm 13% thuế VAT (gạo sản xuất trong nước không bị đánh thuế).

“Nếu cộng tất cả các khoản thuế và phí này lại thì sẽ hình thành giá hàng hoá nơi đến rất cao, không thể cạnh tranh được với hàng sản xuất nội địa nên buộc nhà nhập khẩu phải chọn con đường mua tiểu ngạch”, ông Huệ nói.

Năm 2015, Việt Nam xuất khẩu chính thức hơn 6,5 triệu tấn gạo. Lượng gạo xuất khẩu tiểu ngạch tuy không được thống kê, không ai nói ra nhưng nhiều người thạo tin ước tính cũng phải chiếm phân nửa con số chính thức trên.

Nhiều năm qua hạt gạo Việt Nam, như ông Huỳnh Minh Huệ phân tích, phụ thuộc ngày càng sâu vào thị trường Trung Quốc.

Triết lý kinh doanh chỉ ra phải đa dạng hoá thị trường, đa dạng phương thức thanh toán mới bền vững, nghĩa là doanh nghiệp cần chia “trứng” ra nhiều rổ, dường như không thực hiện được.

Như cao su chẳng hạn, trung bình mỗi năm Trung Quốc nhập khẩu 2,5 – 3 triệu tấn mủ cao su thiên nhiên thì họ mua của Việt Nam một nửa số này, chiếm hơn 60% tổng sản lượng cao su xuất khẩu của chúng ta và phương thức mua bán cũng chỉ là qua “lối mòn biên giới”.

Cao su là mặt hàng trong nhóm nông sản xuất xứ từ Việt Nam được Trung Quốc áp thuế nhập chính ngạch cao nhất, lên tới 7%. Mức thuế nhập chính ngạch trước năm 2012 còn lên tới 25% nên tất nhiên, thương nhân Trung Quốc phải chọn mua tiểu ngạch để… trốn thuế.

Bà Phạm Chi Lan: Phải xem lại
đàm phán thương mại với Trung Quốc

Kim Yến (TTTG) – “Gạo Việt Nam năm nay trồng trọt không dễ dàng vì hạn và mặn nặng, nhưng coi chừng Trung Quốc đang thiếu gạo, hoặc họ biết gạo Việt Nam đang thiếu nên sang đây mua ồ ạt, gây rối cho Việt Nam”.


Cao su tiểu điền chiếm 60% sản lượng xuất khẩu sang Trung Quốc. Ảnh: Hoàng Bảy.

Việt Nam đang chuẩn bị ký lại hiệp định thương mại biên giới với Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, chúng ta cần nhìn nhận đánh giá lại vấn đề buôn bán tiểu ngạch (đặc biệt là nông sản) mà lâu nay phía Việt Nam chịu nhiều thiệt hại.

Thế Giới Tiếp Thị đã có cuộc trao đổi với Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan về vấn đề này.

– Thưa bà, chúng ta cần lưu ý những gì khi ký lại hiệp định thương mại biên giới với Trung Quốc? Về tổng thể, cần có những giải pháp gì để chuyển dần từ xuất khẩu tiểu ngạch sang xuất khẩu chính ngạch?

– Chuyện thực tế ai cũng biết, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc rất phức tạp, có những cái không mang tính thương mại thuần tuý, mà nghiêng về chính trị, ngoại giao…

Vì thế quan hệ thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc không bình đẳng, chuyện Việt Nam không có thế mặc cả
tốt với Trung Quốc là có thể hiểu được.

Thứ hai, bộ máy về quản lý thương mại của Việt Nam rõ ràng yếu so với bộ máy tương ứng của Trung Quốc. Có những điều lẽ ra phải thương lượng thẳng thắn là đúng, mình lại không có năng lực làm việc ấy, chịu thua thiệt từ đầu.

Hiểu sức mạnh mỗi bên trong câu chuyện làm ăn kinh tế, lấy cái gì là thế mạnh để mặc cả cái gì… là chuyện bình thường ở các nước.

Ví dụ như quan hệ thương mại giữa Canada – Mỹ, Canada đã mặc cả rất hay về tiêu thụ gỗ. Người Canada biết Mỹ có rất nhiều hàng rào nhưng vẫn vượt qua được và có thế mặc cả rất tốt, bởi họ hiểu rằng Mỹ cần gỗ của Canada.

Mặc dù trong tình hình hiện nay người mua có vị thế nhiều hơn người bán, nhưng trong những mặt hàng chiến lược, các quan chức bộ Công thương phải tính toán thấu đáo.

Rất tiếc họ dường như chưa tính ra được, hoặc họ có tính không chưa biết nhưng chưa thấy công bố để doanh nghiệp và người dân được biết.

– Liệu Nhà nước có thể áp dụng biện pháp cấm xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc đối với một số ngành hàng lớn (gạo, cao su, thuỷ sản) – chỉ cho phép xuất chính ngạch đối với những ngành hàng này? Kịch bản của chuyện cấm này sẽ là gì? Điều gì sẽ xảy ra, và sẽ phải giải quyết như thế nào?

– Khu vực Vân Nam chẳng hạn rất thiếu thuỷ sản, chăn nuôi, nhập từ Việt Nam là hoàn toàn có lợi cho họ. Trái cây Việt Nam như vải, xoài ở Trung Quốc không có nguồn cung nội địa, nguồn hàng Việt Nam sang là rất lớn, mình phải có cách thức làm ăn mới với Trung Quốc ở những ngành hàng lớn.

Với doanh nghiệp, lâu nay trừ một số ít ở thế chủ động, còn đại đa số vẫn ở thế bị động quá, muốn vào thị trường dễ tính, phương thức dễ dãi thì sẽ gặp phải cách đối xử tương ứng như thế thôi.

Nếu doanh nghiệp Việt Nam tiếp xúc với doanh nghiệp Trung Quốc bằng cung cách làm ăn bài bản thì vị thế của chúng ta sẽ hoàn toàn khác. Rất tiếc Việt Nam thiếu lực lượng doanh nghiệp muốn làm ăn với Trung Quốc bài bản, sòng phẳng.

Phải đặt ra câu hỏi ngược là tại sao đội ngũ kinh doanh bài bản sang Trung Quốc còn ít quá, không dẫn dắt được thị trường nông, thuỷ, hải sản? Nếu giữ y như cách họ tuồn hàng sang mình thì hàng kẹt ở biên giới, người làm ngay ngắn thì lại bị oan.

Về phía người kinh doanh phải tính lại, tự khắc sẽ buộc người sản xuất phải thay đổi cung cách trồng trọt, chăn nuôi. Những người mang hàng đi phải hướng dẫn cho nông dân, cách làm sẽ khác đi khi nhà kinh doanh kiên quyết không mua hàng kém chất lượng.

Nếu những người kinh doanh Việt Nam tạo cho nông dân thói quen hàng nào cũng bán đi được thì không thể cải thiện tình hình, và tất yếu sẽ bị các thương lái Trung Quốc dẫn dắt, lừa đảo.

– Buôn bán biên giới là thực tại khách quan. Vậy phải làm gì trước chính sách cấm biên liên tục thay đổi của phía Trung Quốc khiến hàng hoá của Việt Nam ứ đọng ở các cửa khẩu? Liệu Việt Nam có thể có chính sách điều tiết được lượng hàng hoá ra biên giới không?

– Trong quan hệ với Trung Quốc, phải xem lại, đàm phán lại thương mại biên giới. Một số sản phẩm không chấp nhận biên mậu là cần.

Gạo Việt Nam năm nay trồng trọt không dễ dàng vì hạn và mặn nặng, nhưng coi chừng Trung Quốc đang thiếu gạo, hoặc họ biết gạo Việt Nam đang thiếu nên sang đây mua ồ ạt, gây rối cho Việt Nam.

Dứt khoát mặt hàng gạo con đường đi vẫn qua biên giới nhưng không phải biên mậu. Cao su, thuỷ sản cũng vậy. Phải siết lại nếu không sẽ ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp.

Trong khi nông nghiệp Việt Nam phải nâng chất lượng, không chạy theo năng suất, để được trả giá cao hơn, vẫn có một bộ phận nông nghiệp phun bừa bãi thuốc, hy vọng tiêu thụ được ở Trung Quốc và trong nước hứng chịu.

Về chính sách, đàm phán phải cả hai chiều, Việt Nam nên đưa ra những mặt hàng khống chế qua biên mậu. Chiều nhập khẩu cũng vậy, không chấp nhận qua biên mậu những mặt hàng kém chất lượng.

Nhà nước cũng rất cần bàn lại với các doanh nghiệp làm ăn với Trung Quốc, lắng nghe kiến nghị của doanh nghiệp về cách làm thế nào với gạo, có cam kết riêng với Trung Quốc, đừng để ảnh hưởng đến thị trường khác và thị trường nội địa.

Nếu Nhà nước thoả thuận mà doanh nghiệp lại “đi đêm” với Trung Quốc thì hỏng cả. Doanh nghiệp là đầu mối tiêu thụ nông sản cho nông dân, phải đi cùng lợi ích chung, đừng vì lợi ích trước mắt gây khó cho ngành hàng về lâu về dài.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s