Gạo Việt thua Lào, Campuchia, chỉ xuất đi… Trung Quốc

Posted: March 29, 2016 in Uncategorized
Tags:

Diệu Thùy (4T) – Xuất khẩu mạnh, gạo Việt từng được gọi là nồi cơm châu Á, nhưng nhắc đến gạo Việt Nam khách hàng vẫn nghĩ là gạo cấp thấp, hổ lốn. Gạo mua bán qua thương lái và không thể truy nguyên xuất xứ.

� Xem thêm: Gạo Việt phụ thuộc Trung Quốc: Vì doanh nghiệp quá lười + Tin khó tin: Quan tham bụng ăn không thấy no và lãng phí niềm tin nhưng có đâu mà lãng phí?


Ảnh minh họa

Bộ NN&PTNT cho biết, xuất khẩu gạo 3 tháng đầu năm 2016 đạt 1,59 triệu tấn và 692 triệu USD, tăng 41,6% về khối lượng và tăng 40,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu, Bộ Công thương, tình hình xuất khẩu gạo trong 3 tháng đầu năm đã có tín hiệu khả quan, là đà để tiếp tục trong những quý tới. Tuy nhiên, điều ông Hải lo ngại nhất là chất lượng và định vị cho thương hiệu gạo Việt Nam. Ngoài Thái Lan, gạo Việt Nam đang phải cạnh tranh với gạo Ấn Độ, Campuchia, Myanmal.

Được biết, năm 2015 gạo Việt Nam chiếm trên 50% tổng lượng gạo nhập khẩu của Trung Quốc nhưng tại các siêu thị, cửa hàng lại không tìm ra gạo mang thương hiệu Việt. Trong khi đó, gạo Campuchia lại chiễm chệ trên các quầy hàng. Gần 30 năm xuất khẩu gạo nhưng Việt Nam vẫn chưa có thương hiệu trên thế giới. Cùng đó, chè, cà phê, hạt tiêu… là những mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn nhưng vị thế cũng tương tự.

Còn GS.Võ Tòng Xuân cũng thẳng thắn nhận xét, hiện nay gạo Việt Nam đang thua Lào, Campuchia về chất lượng và giá cả.

“Campuchia dùng giống lúa mùa, 1ha thu được 1,5-2 tấn gạo. Còn mình 1ha trồng 2 vụ nên có thể đạt 8 tấn gạo nhưng mình thua họ về giá bán. Họ bán 900 USD/tấn gạo, còn mình bán chỉ 500 USD/tấn gạo”, GS. Võ Tòng Xuân nói.

Việc quá chú trọng đến tăng sản lượng dẫn đến chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không cao, thị trường xuất khẩu tập trung vào phân đoạn gạo cấp thấp, kém đa dạng và đặc biệt đang tập trung nhanh vào thị trường Trung Quốc.

Theo ông Xuân, gạo Việt mập mờ trên thị trường Trung Quốc vì bán theo đường tiểu ngạch. Các doanh nghiệp được quyền xuất khẩu thường mua qua thương lái và không thể truy nguyên xuất xứ. Thương lái thu gom từ nhiều nơi, nhiều loại giống, đem đi chế biến, xuất khẩu nên gạo Việt Nam xuất đi pha tạp, không có tên, không có thương hiệu, không dám nói đây là loại gạo gì.

Đồng quan điểm, ông Vũ Trọng Khải, nguyên Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (TPHCM) cho rằng gạo Việt Nam mập mờ trên thị trường do cách làm của chúng ta bấy lâu nay.

“Khi các thương lái thu mua gạo, mua chỗ này một ít, chỗ kia một ít cho nên gạo lẫn lộn nhau. Gạo bán đi chỉ có biết đó là gạo tẻ Việt Nam. Hơn nữa, khi xuất sang Trung Quốc lại xuất theo đường tiểu ngạch là chính, như thế thì làm sao mà có thương hiệu”, ông Khải nói.

Theo ông Khải, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở Việt Nam đa phần là doanh nghiệp nhà nước nên khá thụ động, chủ yếu xuất các loại gạo tẻ có chất lượng thấp.

Ông cho rằng, nếu cứ cách làm như hiện nay, người nông dân với 5-7 công đất nhỏ lẻ thì không thể làm thương hiệu được. Muốn có thương hiệu phải xây chuỗi giá trị, từ trang trại đến bàn ăn, phải có hai yếu tố là nông dân lớn và doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ đóng vai trò nhạc trưởng, tổ chức lại sản xuất của nông dân.

“Chẳng hạn doanh nghiệp có thể cung cấp giống, ký hợp đồng với nông dân, yêu cầu nông dân thực hiện đúng quy trình, đảm bảo năng suất, chất lượng. Sau đó đóng nhãn, ghi xuất xứ ở đâu, công ty nào, vùng nào, tên gạo gì chứ không thể nói chung chung là gạo tẻ Việt Nam”, ông Khải khuyến cáo.

GS Võ Tòng Xuân cũng cho rằng Việt Nam cần học Campuchia về làm thương hiệu.

Có thể phân ra thành 3 loại như: giống lúa thơm, giống ngắn ngày, giống phổ biến năng suất cao. Khi xếp loại rồi giao cho doanh nghiệp, để doanh nghiệp lập ra vùng nguyên liệu, chế biến.

“Làm được như vậy mới có thương hiệu. Phải truy xuất nguồn gốc của ông nào, vùng nào, làm như thế người ta mới chấp nhận chứ không thể làm bát nháo như hiện nay được”, ông Xuân nói.

Còn ông Vũ Trọng Khải cho rằng, doanh nghiệp phải xác định thị trường của mình, ví dụ thị trường trong nước, có bao nhiêu người thu nhập trung bình, cần loại gạo nào, vừa túi tiền của họ. Còn tầng lớp thượng lưu thì đáp ứng loại gạo nào, xem họ thích cái gì và tất cả đều phải đảm bảo thực phẩm an toàn.

“Vấn đề không phải là cứ có chất lượng cao mới có thương hiệu, mà có cả thương hiệu cho gạo thường. Thương hiệu không đơn giản là cái tên nhưng trước hết phải chúng ta phải khai sinh cho nó. Cái tên đấy phải có uy tín, đọng lại trong tâm trí người tiêu dùng. Còn bây giờ nhắc đến gạo Việt Nam họ vẫn nghĩ là gạo cấp thấp, hổ lốn”, ông Khải nhận xét.

Trong bối cảnh hội nhập, Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu cho rằng, nếu doanh nghiệp không thay đổi thì có thể đánh mất cả thị trường trong nước, gạo Thái Lan, Campuchia có thể xâm nhập vào thị trường.

“Hiện nay chúng ta vẫn dựa nhiều vào thị trường có hợp đồng tập trung mua với số lượng lớn điển hình là Indonesia và Philippin và 1 phần của Malaysia nhưng về lâu dài phải tìm kiếm những thị trường có hợp đồng thương mại, cạnh tranh thực sự bằng chất lượng, thương hiệu thực sự chứ không phải dựa trên những hợp đồng có sự bảo lãnh của chính phủ”, ông Hải khuyến cáo.

Gạo Việt phụ thuộc Trung Quốc:
Vì doanh nghiệp quá lười

Thành Luân (BĐV) – Từ thời Pháp thuộc, Pháp đã xuất khẩu gạo lúa mùa chất lượng cao của Việt Nam đi khắp thế giới.


Gạo Việt tìm đường vào thị trường châu Âu. Ảnh minh họa: Tuổi trẻ

Thế mạnh

Tham tán Thương mại Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp mới đây khẳng định, Việt Nam hoàn toàn có thể xuất khẩu gạo sang Pháp bởi Pháp có trên 30 triệu người sử dụng gạo hàng ngày.

Đồng tình với nhận định của đại diện thương mại Việt Nam tại Pháp, PGS.TS Dương Văn Chín, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Định Thành cho hay, Việt Nam có lợi thế nếu xuất khẩu gạo sang Pháp. Theo đó, khi Việt Nam là thuộc địa, Pháp đã xuất khẩu gạo Việt Nam đi khắp thế giới. Trong thời kỳ đó, người Việt chỉ trồng 1 vụ lúa trong năm, đây là loại lúa có chất lượng gạo rất ngon và khi ấy không ai sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nên trong gạo không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Đáng lưu ý, trong những năm xảy ra Chiến tranh Thế giới thứ 2, những người lính thợ Việt Nam đã đem đến cho nước Pháp kỹ thuật trồng lúa nước của Việt Nam, đưa vùng Camargue của Pháp trở thành cái nôi sản xuất lúa gạo. Khi ấy rất ít nước ở châu Âu trồng được lúa gạo nên gạo trở thành thứ đặc sản quý hiếm.

Bây giờ, Việt Nam ít đất nên không thể trồng lúa mùa trên diện tích rộng như Thái Lan, Campuchia. Tuy nhiên, Việt Nam có những giống lúa cao sản nhưng chất lượng rất cao như giống Lộc Trời số 18, hạt gạo dài trên 8mm, ăn ngon không thua kém gì gạo mùa. Đó là thế mạnh mà Việt Nam có thể khai thác để xuất khẩu sang Pháp cũng như các nước châu Âu.

Vị chuyên gia nông nghiệp lưu ý, tham tán thương mại Việt Nam tại Pháp cũng như tại châu Âu nên nắm bắt nhu cầu nhập khẩu gạo của Pháp và các quốc gia khác trong EU. Nếu các nước này có nhu cầu, họ sẽ nhập khẩu loại gạo có chất lượng rất cao, chứ không phải loại gạo trộn lẫn bán 200-300 USD/tấn như Việt Nam vẫn xuất khẩu với chất lượng lớn. Đặc biệt, gạo này phải đảm bảo không có dư lượng chất bảo vệ thực vật.

“Vấn đề là Chính phủ, Bộ Nông nghiệp cũng như Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cần chọn ra một số công ty mạnh ở Việt Nam trồng lúa có vùng nguyên liệu, kiểm soát từ đầu chí cuối, không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Các công ty đó sẽ gửi mẫu gạo sang Pháp để chào hàng để các siêu thị nấu ăn thử, coi người dân Pháp có thích loại gạo đó không. Nếu họ thích thì phía Việt Nam mới tổ chức xuất khẩu được. Tôi nghĩ gạo Việt Nam nên đi theo hướng chất lượng cao, an toàn nhưng ban đầu chỉ với số lượng nhỏ. Chúng ta xuất khẩu ít nhưng chất lượng để gây uy tín rồi mới tính những chuyện khác”, ông nói.

Dù có nhiều cơ hội để bước vào những thị trường khó tính như Pháp nhưng thực tế gạo Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào Trung Quốc khi thị trường này vẫn chiếm 50% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam (cả chính ngạch và tiểu ngạch).

Lý giải điều này, PGS.TS Dương Văn Chín cho rằng, đó là do doanh nghiệp Việt thích ăn xổi và lười chứ không phải không thể tiếp cận các thị trường khó tính.

“Từ trước đến giờ Việt Nam chỉ chú trọng số lượng mà ít quan tâm đến chất lượng, cũng không phân biệt được trong số 140 doanh nghiệp thuộc VFA doanh nghiệp nào có vùng nguyên liệu kiểm soát được hạt gạo của mình mà không đấu trộn nhiều giống lúa với nhau. Bởi vậy các doanh nghiệ cứ mạnh ai nấy chạy, tìm được nhà nhập khẩu nào thì cứ xuất, miễn là có lời.

Doanh nghiệp Việt không quan tâm đến chuyện xuất như vậy thì sang năm có xuất được nữa hay không, họ chỉ nghĩ đến chuyện xuất một mẻ dăm ba nghìn tấn lời được bao nhiêu tiền bỏ túi chứ không nghĩ đến tương lai lâu dài của hạt gạo Việt Nam”, ông Chín chỉ rõ.

Nhưng vấn đề của Pháp lại là câu chuyện hoàn toàn khác, PGS.TS Dương Văn Chín nhấn mạnh. Họ không nhập khẩu ồ ạt hàng triệu tấn gạo để chống đói như Trung Quốc, họ ăn để thưởng thức vị ngon, vị ngọt của hạt gạo. Thế nên Việt Nam cần xuất khẩu ít nhưng chất lượng và số ngoại tệ thu về sẽ nhiều không thua gì bán cho Trung Quốc.

Tiếp cận thị trường khó tính thế nào?

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam (Lộc Trời, Viễn Phú, Công Bình…) đã xuất khẩu được gạo vào các thị trường khó tính như Nhật, Úc, Anh, Mỹ, New Zealand… Đánh giá cao cách làm của các doanh nghiệp này, PGS.TS Dương Văn Chín cho hay, Việt Nam có nhiều doanh nghiệp làm được gạo chất lượng tốt nhưng chỉ bán được lượng rất nhỏ.

“Nhà nước nên bỏ ra một khoản kinh phí nhất định từ ngân sách để quảng bá các thương hiệu gạo mà Nhà nước đánh giá là thực sự tốt để thế giới biết đến. Điều này thương mại quốc tế không cấm. Nhà nước hãy chọn các sản phẩm đặc sắc của doanh nghiệp nào có khả năng tổ chức vùng nguyên liệu và có khối lượng lớn để bán cho thế giới. Khi được giới thiệu như vậy, nhiều nước sẽ nhập khẩu gạo Việt Nam và nó khích lệ dooanh nghiệp Việt mở rộng thêm vùng nguyên liệu trong nước. Khối lượng gạo chất lượng cao sẽ càng ngày càng lớn và dần dần hình thành thương hiệu gạo quốc gia”, ông Chín bày tỏ.

Vị chuyên gia nông nghiệp dẫn ví dụ, sau khi Tập đoàn Lộc Trời gửi mẫu gạo của giống Lộc Trời số 1 đi đấu xảo ở Malaysia và đoạt giải 3 gạo ngon thế giới, nhiều khách hàng trên thế giới đã biết đến và đặt hàng tập đoàn. Đó là cơ hội rất tốt để  thế giới biết đến gạo Việt Nam. Ngay cả với thị trường trong nước, sau thành tích trên, loại gạo Thiên Long của Tập đoàn Lộc Trời cũng bán được rất tốt. Điều này đã khích lệ nhà sản xuất sản xuất nhiều gạo chất lượng hơn để tiêu thụ trong nước và trên thế giới.

“Điểm mấu chốt là làm sao để người tiêu dùng trong nước ở các vùng miền, các dân tộc cũng như các nước trên thế giới biết được những loại gạo nào thực sự tốt ở Việt Nam để tiêu thụ”, ông nhấn mạnh.

Dù vậy, ông Chín cũng lưu ý, khâu làm thương hiệu và xúc tiến thương mại của doanh nghiệp Việt hiện rất yếu.

“Bây giờ không phải chụp vài tấm hình gạo rồi đưa lên website là xong. Như vậy chưa đủ, phải làm nhiều việc hơn nữa. Ví dụ, tham tán thương mại ở các  nước phải  tạo điều kiện nhận các mẫu gạo trong nước, tổ chức nấu cho người bản xứ, các nhà nhập khẩu gạo lớn ở nước đó ăn thử gạo của mình, người ta biết gạo như thế nào, giá cả ra sao…

Nhà nước hỗ trợ và các doanh nghiệp cũng phải bỏ tiền ra để giới thiệu sản phẩm  của mình đến các siêu thị trên khắp thế giới. Việc này tốn kém hơn rất nhiều so với làm thương hiệu trong nước vì khoảng cách địa lý xa xôi, ai trưng bày sản phẩm của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đảm bảo với siêu thị là hạt gạo của mình không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật theo tiêu chuẩn của nước đó hay không… Một loạt vấn đề liên quan đến quảng bá thương hiệu mà doanh nghiệp phải tính chứ không phải gửi mẫu gạo đi là xong. Doanh nghiệp phải nỗ lực, không phải từng doanh nghiệp mà nên hình thành nhóm doanh nghiệp tiên phong, ưu việt kết với nhau để hình thành, quảng bá gạo ra quốc tế”, PGS.TS Dương Văn Chín gợi ý.

Tin khó tin: Quan tham bụng ăn không thấy no
và lãng phí niềm tin, có đâu mà lãng phí?

Hoàng Văn Minh (LĐ) – Hôm nay vẫn là anh Phan Đắng Lòng kể chuyện biết rồi khổ lắm nói mãi về thực phẩm bẩn và các con số người chết do ung thư biết nhảy múa; về “dòng nước phương Bắc” và những cái bụng quan tham ăn mãi không biết no. Nhưng hơn cả là cảm giác hoang đường khi nghe đề xuất cải cách tiền lương để bụng quan tham nhỏ lại và sự hoang mang về một khái niệm lãng phí mới: Lãng phí niềm tin!

1. Ai cũng làm tốt cả, nhưng vì sao dân vẫn ăn bẩn?

Nhân chuyện ở Vũng Tàu vừa có phát hiện một cơ sở chế biến cà phê bẩn từ đậu nành và hóa chất có xuất xứ từ Trung Quốc, ông chủ nhãn hiệu cà phê Thái Hòa lên báo “vạch mặt” chi tiết những hóa chất “chết người” được dùng chế biến cà phê bẩn lâu nay.


Một số phụ gia độc hại được các hộ kinh doanh bất chính hòa trộn vào càphê.

Ông bảo do thói quen của người tiêu dùng Việt thích uống cà phê có 4 đặc điểm “đặc, đắng, sánh, bọt” nên các hộ sản xuất thường pha trộn nhằm đáp ứng thị hiếu, “gu” thưởng thức của người dùng.

Theo đó, đặc = đường cháy cộng tinh bột nhiều loại; đắng = hạt cau và thuốc ký ninh dùng điều trị sốt rét; sánh = bằng chất tạo sánh CMC và bột ngô, bột đậu nành; bọt = hóa chất công nghiệp, chất tạo bọt Sodium Lauryl Sunlfate có có trong nước rửa chén, dầu gội đầu.Và tất cả đều là những hóa chất độc hại, gây bệnh ung thư!

Thật ra thì những thông tin của ông chủ Thái Hòa đã rất cũ, vì theo nhà cháu tận mắt chứng kiến, bây giờ không còn ai dùng hạt cau hay bột đậu để tạo đắng, tạo bọt cho cà phê nữa mà tất cả đều được thay bằng một loại hóa chất nước xuất xứ từ Trung Quốc. Cũng như nước mắm và rượu trắng, cứ hòa vào nước lọc, lắc lắc là muốn đắng có đắng, muộn bọt có bọt, muốn rượu có rượu, muốn nước mắm có nước mắm!

Khủng khiếp như vậy nhưng trên diễn đàn Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nông lại khẳng định là đã chặn đứng nguồn cung từ bên ngoài, rằng đã phối hợp với Bộ Y hết sức nhịp nhàng và chặt chẽ. Tiện thể Bộ Y giảm nhẹ tình tiết rằng ung thư mỗi năm 150 nghìn người mắc và 75 nghìn người chết đâu mỗi do thực phẩm bẩn mà còn do ô nhiễm môi trường…

Ung thư thì nhiều nguyên nhân lắm, riêng thực phẩm thì các bộ liên quan đều làm rất tốt, rất nhịp nhàng… Nhưng không ai trả lời được câu hỏi của Bí thư Thành ủy HCM Đinh La Thăng: “Anh Phát và chị Tiến nói các bộ phối hợp với nhau rất tốt, nhưng tại sao dân vẫn phải ăn bẩn?”.

Tại sao nhỉ?

Đắng lòng quá các mẹ ạ!

► Xem tại đây..và tại đây.

2. Chúng ta đã làm gì ngoài ngồi chờ “dòng nước phương Bắc”?

ĐBSCL những ngày này vẫn quay quắt trong đỉnh hạn trong khi “dòng nước phương Bắc” dự kiến phải ngày 4.4 mới về tới. Và thời gian chờ đợi “dòng nước phương Bắc” đã vô tình lộ ra nhiều thực trạng và câu hỏi đắng lòng.


Đến nay, đã có hàng trăm ngàn hécta lúa
bị chết do hạn hán và xâm nhập mặn gây ra.

Ví như từ năm 2000-2011, khả năng trữ lũ của vùng Tứ Giác Long Xuyên đã bị giảm đến khoảng 4,7 tỉ mét khối do việc xây dựng ô đê bao khép kín ở vùng này với diện tích hơn 1.000km2.

Như vậy, ĐBSCL mất đi 4,7 tỉ mét khối nước để đẩy mặn trong mùa khô cho vùng ven biển. Hóa ra một phần đại hạn lần này lại đến từ “nhân tai”!

Ví như có sự khác biệt rất lớn về nhận thức và cách thức chuẩn bị để ứng phó với nguy cơ này. Bằng chứng là ngay từ khi Trung Quốc bắt đầu xây dựng các con đập lớn trên sông Mekong thì Thái Lan đã ngay lập tức có biện pháp ứng phó.

Trong nhiều năm, Thái Lan đã bắt đầu xây dựng hệ thống thủy lợi bao gồm hồ chứa và hệ thống dẫn nước khá quy mô và đồ sộ sử dụng nước từ các phụ lưu của sông Mekong và hiện đang phát huy tác dụng chống hạn.

Còn Việt Nam thì gần như ngược lại. Chúng ta đã gần như không làm bất cứ điều gì để ứng phó với nguy cơ hạn hán được đánh giá là nghiêm trọng nhất trong vòng 100 năm trở lại đây và hậu quả như hôm nay là điều đã được cảnh báo trước!

Nước đến chân mới nhảy không chỉ có trong câu chuyện hạn hán, mà còn là sự quen thuộc trong cách xử lý các vấn đề của nền kinh tế thường thấy trong những năm qua.

► Xem tại đây.. và tại đây.

3. Vay tiền doanh nghiệp để lát… vỉa hè

Tờ Thanh Niên vừa phát hiện huyện Minh Hóa (Quảng Bình) là một trong các huyện nghèo nhất trên cả nước nhưng lại có rất nhiều công trình lãng phí.


Cổng trường “khủng” ở Trường THCS Xuân Hóa.

Ví như một trường tiểu học xây cái tường rào hết 616 triệu đồng, cổng trường 174 triệu đồng và sân bê tông đến 587 triệu đồng. Đến mức người trong cuộc cũng thừa nhận là “xây xong mới thấy to, hơi phô trương…” trong lúc trên địa bàn huyện còn hàng chục phòng học tạm bợ, xơ xác.

Lãng phí kiểu huyện nghèo ở miền núi như Minh Hóa vừa giận vừa thương. Nhưng nghe thông tin này thì các mẹ có thể “lên máu”: Quận 1 TPHCM vừa thống nhất kế hoạch toàn bộ vỉa hè thuộc 134 tuyến đường trên địa bàn sẽ được lát đá granite, đồng bộ hệ thống hạ tầng với tổng kinh phí ước tính khoảng 1.000 tỷ đồng!

Theo lời ông Chủ tịch quận thì số tiền 1000 tỷ đồng là do “các doanh nghiệp cam kết sẵn sàng bỏ tiền ra đầu tư và quận sẽ trả chậm trong 3-5 năm, không tính lãi suất”!

Nghe qua cũng có thể tặc lưỡi, nhưng lại thấy ngậm đắng nuốt cay thế nào đó khi nhìn lại thực tế vỉa hè nhiều tuyến đường ở quận 1 TPHCM hiện còn chất lượng và sạch đẹp hơn nền nhà của ối quần chúng nhân dân ở chính quận 1.

Hay bức ảnh bệnh nhân nhi phải lóp ngóp bò ra ở gầm giường để “chào Bí thư” khi ông Đinh La Thăng đến thăm một bệnh viện ngay trung tâm thành phố.

Nợ không lãi cũng là nợ. Và thay vì vay nợ để làm đẹp thì có thể dùng để làm điều gì đó có ích hơn, ặn no và chữa bệnh chẳng hạn!

► Xem tại đây.. và tại đây.

4. Bụng quan tham ăn không biết no

Tờ Phụ nữ TPHCM vừa có cái tít khá ấn tượng là “dạ dày to hơn con chữ” để nói về hàng loạt vụ ăn ăn chặn tiền giáo viên và cả bữa ăn của học sinh nghèo trên khắp cả nước thời gian qua mà mới nhất là của hiệu trưởng Trường Tiểu học Hàm Thạnh 1 ở Bình Thuận với số tiền ông này tư túi là 45 triệu đồng!

Gần trường học là bệnh viện. Hôm qua, TAND TPHCM đã xét xử nguyên Nguyên giám đốc Bệnh viện Bưu điện về hành vi lập khống 13 nghìn hồ sơ để chiếm hàng chục tỷ đồng trong khi hoạt động của bệnh viện này rất khó khăn về kinh phí vì chủ yếu dựa vào kinh phí hỗ trợ của VNPT!


Nguyên giám đốc Bệnh viện Bưu điện bị truy tố
vì đã chiếm đoạt hàng chục tỷ đồng của Nhà nước.

Quan to ăn to, quan nhỏ ăn nhỏ, “họ ăn không chừa thứ gì” như thừa nhận cay đắng của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan. Và hôm qua trên diễn đàn Quốc hội, có đại biểu nói rằng Việt Nam không cải cách tiền lương (ý là tăng lương) thì sẽ khó chống được tham nhũng và cửa quyền, nhưng cải cách như thế nào, tăng lương cho cán bộ đến bao nhiêu thì bụng đủ no để không thèm tham nhũng nữa thì không thấy đề xuất!

Tham nhũng do đâu? Do bụng quan tham ăn mấy cũng thấy no! Nhưng vì sao bụng quan tham lại ăn mấy cũng không thấy no? Nhà cháu không trả lời được bởi bệnh này y học bó tay! Bởi vậy lương của các quan có cải cách lên ngàn tỷ đồng/ tháng thì vẫn ăn không thấy no và vẫn tham nhũng như chưa hề được tham nhũng các mẹ ạ!

► Xem tại đây.. tại đây..và tại đây.

5. Có niềm tin đâu mà lãng phí?

Trên diễn đàn Quốc hội mới đây, dân biểu Đỗ Văn Đương (TPHCM) nêu nghịch lý trong khi thu ngân sách chỉ 1 triệu tỷ đồng mỗi năm thì riêng chi lương thường xuyên cho cán bộ hành chính đã hết 400 nghìn tỷ đồng.

Đó là sự lãnh phí đến từ việc không tinh giảm được biên chế hay còn gọi là đuổi việc cán bộ bất tài.

Nghe xong không thể không liên tưởng đến nhận xét của ông Stuart Schaag – Tham tán thương mại (Đại sứ quán Mỹ) nhận xét trước đó mấy hôm về “bệnh mới” của quan chức Việt: Bệnh ngồi nhiều!

Ông Stuart Schaag cho rằng, quan chức, lãnh đạo địa phương của Việt Nam hãy mau rời khỏi bàn làm việc, đừng ngồi mãi ở văn phòng, phải chủ động tìm đến hội nghị quốc tế để gặp gỡ nhà đầu tư tiềm năng mà “chào hàng”.

Cũng không thể nào quên được lý giải của ông Trần Ngọc Duy – Trưởng phòng Nội vụ quận Nam Từ Liêm (Hà Nội) than thở cán bộ quận ông phải làm việc từ 12-14 tiếng/ ngày và 9h tối cơ quan vẫn còn sáng đèn!

Nhưng nhà cháu thích cách lý giải của ông Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội: Bản chất của quan chức Việt xuất thân chủ yếu từ nông dân, chịu ảnh hưởng tư tưởng phong kiến nên hễ có chút quan là phải có người phục vụ. Họ cần người tham mưu để điều công việc. Và sâu xa nhất là bản chất quan liêu, tư tưởng hễ làm quan thì nghĩ tới chuyện hưởng thụ.

Quan chức toàn vậy nên dân biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm của TPHCM hôm trước than thở: Điều khiến nhân dân đang giảm sút niềm tin chính là việc triển khai thực hiện, nói không đi đôi với làm.

Và “trong những cái lãng phí thì lãng phí nhất là giảm sút niềm tin của nhân dân”, dân biểu Tâm nói.

Thật ra thì làm gì có niềm tin mà lãng phí?

► Xem tại đây ..và tại đây.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s