Ung thư tử vong nhiều hơn tai nạn: Ám ảnh bẩn độc

Posted: April 13, 2016 in Uncategorized
Tags:

Cúc Phương (BĐV) – Các loại ung thư tuyến tiền liệt, thực quản, ung thư phổi, gan… có xu hướng tăng nhanh ở nam giới, đến năm 2020 con số này là xấp xỉ 106.000 ca.

� Xem thêm: Muốn làm “khách hàng thông minh” thật khó!


Đàn ông Việt ngày càng mắc nhiều loại ung thư. Ảnh: Sức khỏe đời sống

Tại Hội thảo Tiếp cận điều trị ung thư hiệu quả diễn ra ngày 12/4 tại Hà Nội, PGS.TS Trần Văn Thuấn, Phó giám đốc Bệnh viện K (Hà Nội), Viện trưởng Viện Phòng chống ung thư cho biết ung thư tại Việt Nam đang gia tăng đặc biệt ở nam giới và khả năng tử vong đứng đầu thế giới.

Các bệnh ung thư của nam giới đều có xu hướng tăng lên. Ví dụ ung thư phổi năm 2000 là 29,3/100.000 dân sau 10 năm tăng lên tới 35,1/100.000 dân. Tương tự các bệnh ung thư đại trực tràng, năm 2000 tỉ lệ mắc 11,4/100.000 dân đến 2010 tăng vọt lên 19/100.000 dân.

Các loại ung thư có xu hướng tăng nhanh ở đàn ông Việt như: tuyến tiền liệt, thực quản, các bệnh ung thư khó chữa như: ung thư phổi, gan…

TS Thuấn lý giải, nam giới sợ khám bệnh, không thường xuyên đi khám bệnh như nữ giới, vì thế phát hiện ung thư cũng muộn hơn, hiệu quả điều trị giảm đi nhiều. Thống kê tại BV K Trung ương, khoảng 70% nam giới bị ung thư được chẩn đoán khi ở giai đoạn muộn.

Theo ghi nhận ung thư năm 2010, top 10 bệnh ung thư phổ biến ở nam giới Việt Nam là: phổi, dạ dày, gan, đại trực tràng, thực quản, vòm, hạch, máu, tuyến tiền liệt, bàng quang.

Trong năm 2000, đàn ông Việt mắc ung thư là hơn 36.000 ca đã tăng lên gần 72.000 ca vào năm 2010. Dự báo đến năm 2020, tổng số ca mắc ung thư nam giới trên cả nước xấp xỉ 106.000 ca.

10 bệnh ung thư phổ biến ở nữ giới Việt Nam gồm: ung thư vú, đại trực tràng, phổi, cổ tử cung, dạ dày, tuyến giáp, gan, buồng trứng, hạch, máu.

Số ca mắc ung thư ở nữ giới cũng ít hơn ở nam giới, với khoảng 32,7.000 ca năm 2000, tăng lên trên 54.000 ca năm 2010 và dự báo đến 2020 sẽ có khoảng 83.000 ca ung thư ở nữ giới.


Dự báo đến năm 2020, tổng số ca mắc ung thư nam giới
xấp xỉ 106.000 ca, ở nữ giới khoảng 83.000 ca.

Theo TS Phạm Cẩm Phương, Phó Giám đốc trung tâm y học hạt nhân ung bướu (BV Bạch Mai) cho biết, ung thư được phát hiện càng sớm điều trị càng hiệu quả, chi phí càng thấp.Hiện ung thư là một trong những hàng đầu gây tử vong trên toàn cầu, cũng như tại châu Á và Việt Nam. Tại Việt Nam, mỗi năm có 125.000 ca mới mắc và 95.000 ca tử vong.

“Ung thư thực sự đang trở thành “thảm họa sức khỏe thầm lặng”, vì thế, việc phát hiện sớm sẽ giảm bớt số ca tử vong, giảm chi phí”, TS Phương nói.

Thống kê tại Việt Nam năm 2012 cho thấy tổng gánh nặng kinh tế của 6 bệnh ung thư là 25.789 tỷ, chiếm 0,22% GDP năm này. Cụ thể, ung thư vú “ngốn” hết hơn 9000 tỷ, ung thư đại trực tràng tiêu tốn 8573 tỷ, ung thư dạ dày là 5667 tỷ đồng.

Ung thư là do thực phẩm không an toàn?

Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Khánh Hoà, Phụ tá nghiên cứu, Đơn vị nghiên cứu Đái tháo đường, Khoa Y, (Đại học Manitoba, Canada) cho biết, nguy cơ gây ung thư chứa trong thực phẩm bẩn và hoàn toàn có thể là nguyên nhân gây nên tình trạng tăng nhanh số bệnh nhân mới mắc ung thư ở Việt Nam.

Theo GS.TS Nguyễn Bá Đức, Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, sở dĩ số ca mắc ung thư tăng nhanh trong những năm gần đây do 3 nguyên nhân chính: Thực phẩm bẩn, môi trường ô nhiễm và tuổi thọ tăng. Trong đó, thực phẩm bẩn đứng hàng đầu, chiếm khoảng 35%.


Thực phẩm bẩn, không an toàn tồn dư hóa chất
độc hại là nguyên nhân chính gây ung thư.

PGS.TS Hoàng Công Đắc, Bệnh viện Đa khoa Medlatec, cũng cho rằng nguyên nhân chính gây bệnh ung thư là thực phẩm bẩn: “Hiện nay, tỷ lệ ung thư đại trực tràng tiếp tục gia tăng ở các nước đang phát triển bởi thực phẩm bẩn”.

Tổ chức Người tiêu dùng thế giới cũng cảnh báo vấn nạn thực phẩm bẩn đã và đang trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, gây ra nhiều căn bệnh cấp tính và mãn tính, đặc biệt là ung thư. Một vấn nạn nhức nhối hiện nay là tình trạng sử dụng kháng sinh bừa bãi trong nông nghiệp. Ước tính có tới 50% thuốc kháng sinh trên thế giới đã được dùng trong ngành nông nghiệp, đặc biệt là chăn nuôi nhằm tăng năng suất và tăng lợi nhuận.

Muốn làm “khách hàng thông minh” thật khó!

Nguyễn Huệ Nghi (TBKTSG Online) – Gần đây, trong truyền thông về lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm thấy xuất hiện nhiều lời kêu gọi người dân hãy tiêu dùng thông minh.


Công nghệ “biến thịt heo nái thành thịt bò” bằng ngâm hóa chất vừa bị phát hiện
đầu tháng 4 vừa qua tại một cửa hàng thịt sạch ở Quận 3 TP.HCM. Ảnh: thanhnien.vn

Thông minh được diễn giải qua việc không dùng và không để người thân dùng hàng ôi thiu, quá hạn sử dụng, tránh mua hàng không rõ nguồn gốc và trình báo cơ quan chức năng khi phát hiện ra những nơi sản xuất chất cấm trong sản xuất nuôi, trồng.

Những lời kêu gọi đó xem ra thật đơn giản, nhưng trong cuộc sống trùng vây bởi thực phẩm “bẩn” thì xem như những khẩu hiệu đó vô tình đẩy trách nhiệm “ăn bẩn” lên khách hàng (Theo kiểu: anh ‘ăn bẩn” vì anh không phải là người tiêu dùng thông minh!)

Trừ những người ở đô thị có điều kiện mua sắm thực phẩm có nhãn mác bao bì trong các siêu thị thì hầu hết người dân có mức sống trung bình và nghèo trong xã hội vẫn sử dụng thực phẩm ở chợ. Và ai cũng biết, đi mua thực phẩm tại chợ mà đòi hỏi bao bì nhãn mác thông tin cơ sở sản xuất, chứng nhận an toàn là việc làm vô cùng khó. Nguồn hàng ở chợ đa số đi từ cánh đồng qua thương lái, vựa rồi đến thẳng tay người bán, người mua, trừ một số loại thịt thì được đóng dấu kiểm định của thú y còn đa số không qua khâu kiểm định chất lượng nào. Phương thức canh nông, chăn nuôi phía nguồn hàng dĩ nhiên là những thông tin đầy mịt mờ.

Cũng thế, người dân sử dụng dịch vụ ăn uống ở các hàng quán cũng khó phân biệt được đâu là thực phẩm ôi thiu, quá hạn sử dụng với thực phẩm tươi sống đảm bảo chất lượng – một khi việc chế biến “tắm hóa chất” thời bây giờ quá sức tinh vi. Chỉ khi xảy ra ngộ độc hay phát hiện ra có gì đó bất thường, dư luận khuấy lên thì cơ quan chức năng mới vào cuộc.

Việc người dân đi phát hiện cơ sở sản xuất sử dụng hóa chất, chất cấm… rồi báo cho cơ quan chức năng xưa nay cũng ít xảy ra vì phương tiện tự bảo vệ người dân sau những vụ việc này không được đảm bảo (mặc dù ở một số địa phương là có chế độ thưởng cho người tố giác); đã có bộ phận ăn lương của người dân để làm điều đó.

Một thực tế khác, việc kiểm định chất lượng và quản lý thị trường để gạt bỏ những sản phẩm kém chất lượng từ khâu sản xuất, chế biến thời gian qua vẫn còn làm theo “chiến dịch”, chưa thường xuyên và quyết liệt. Một khung đánh giá chung về chuyên môn chưa đủ khả tín, việc tiến hành đánh giá chưa đủ quyết liệt, hình thức xử lý vi phạm chưa đủ thích đáng để răn đe người sản xuất, chế biến hàng thực phẩm độc hại. Tất cả chỉ là những than thở xoay quanh khái khái niệm “đạo đức kinh doanh” hay xa hơn, trách cứ “người Việt hại người Việt” nghe xa vời, mơ hồ và cám cảnh. Ngồi tuyên truyền và chờ “đạo đức” của người sản xuất trong trường hợp này là vô cùng thụ động.

Vừa qua, trong Hội nghị trực tuyến Tổng kết đợt cao điểm hành động Năm vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai từ tháng 10-2015 đến tháng 2-2016, đã có nhiều báo cáo đẹp được đưa ra. Theo đó, vi phạm an toàn thực phẩm có dấu hiệu giảm dần ở 35 địa phương tỉnh, thành phố, có đến 1.400 số hội nghị, hội thảo, tập huấn tuyên truyền kiến thức đến hơn 35.000 người sản xuất, kinh doanh, tỉ lệ mẫu giám sát tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong rau giảm 48%, tồn dư hóa chất kháng sinh trong thịt giảm 73%, ô nhiễm vi sinh trong thịt giảm 4%; hướng dẫn hơn 2.780 cơ sở áp dụng tiêu chuẩn VietGAP và có hơn 2.225 cơ sở được chứng nhận; hỗ trợ xây dựng 280 chuỗi cung ứng nông thủy sản an toàn và cấp gần 20.000 con tem chứng nhận sản phẩm an toàn cho các sản phẩm được xác nhận…

Nhưng hậu báo cáo đó cùng những phát biểu gây nhiều tranh cãi của ông Bộ trưởng Cao Đức Phát đã cho thấy rằng, niềm tin của dân vào những biện pháp và hiệu quả báo cáo kia mang lại chưa cao. Sau đó là niềm tin của người tiêu dùng vào chính nguồn nông sản nội địa đang mất đi trầm trọng trong khi nông sản Việt đang kém lợi thế so với nông sản ngoại trên “sân nhà”.

Nếu không siết chặt quản lý chất lượng sản xuất, chế biến, có chuẩn kiểm tra chuyên nghiệp hóa và có cơ chế chế tài quyết liệt, đủ mạnh thì hệ lụy của nó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng đến những người sản xuất, chế biến làm ăn chân chính, thiệt hại cho nền nông nghiệp.

Trở lại vấn đề, làm người tiêu dùng thông minh là điều ai mà chẳng muốn, kể cả những người nghèo, vì chẳng ai muốn “ăn bẩn”, và vì “thông minh” là điều kiện tối cần thiết để giúp họ và gia đình tránh khỏi bệnh tật, có đời sống tốt lành. Nhưng ngoài những kiểu tuyên truyền mà ai cũng biết, thì cái quan trọng là nhà chức trách cần làm tròn trách nhiệm hơn trong việc tạo ra một môi trường cái ăn của con người không nhiễm bẩn, độc hại. Việc chế tài, xử phạt nặng không chỉ dành cho những thủ phạm làm ra, lưu hành thực phẩm phản an toàn cho người tiêu dùng mà còn cần hướng vào những nhà chức trách, quản lý để cho những nguồn thực phẩm bẩn đó hoành hành trong thị trường.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s