Quy mô doanh nghiệp ngày càng… teo nhỏ đi

Posted: April 15, 2016 in Uncategorized
Tags:

Thành Long (ĐKNV) – 80.000 là con số doanh nghiệp đã bị giải thể và tạm ngưng hoạt động trong năm 2015, theo báo cáo thường niên do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Ngân hàng Phát triển Châu Á công bố sáng 13/4 vừa qua. Đồng thời tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ ngày càng tăng, nguy cơ Việt Nam thiếu các doanh nghiệp cỡ trung bình đã trở thành hiện hữu.

� Xem thêm: Doanh nghiệp chỉ đi biếu phong bì thì sao lớn lên được? + Đói nguyên liệu, nhiều nhà máy đóng cửa.


Rất nhiều công ty bị giải thể, quy mô doanh nghiệp Việt Nam bị thu nhỏ lại (Ảnh: internet)

Mặc dù, trong năm 2015, cả nước có 94.754 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, nhưng con số hơn 80.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động vẫn rất đáng lo ngại.

Theo VCCI, việc số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng mạnh so với năm 2014 cho thấy tình hình kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn. Tất cả các ngành đều có số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng trong năm 2015, đặc biệt là ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.

Bà Phạm Thị Thu Hằng, Tổng thư ký VCCI, cho biết trong 2 năm gần đây, tỷ lệ doanh nghiệp báo lỗ ngày càng tăng, điều đó thể hiện tính không bền vững. Để tránh tình trạng doanh nghiệp nay thành lập, mai ngừng hoạt động, giải thể cần phải có những chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận đất đai, nguồn vốn…

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, tình hình đó do nhiều yếu tố, trong đó có lãi suất ngân hàng quá cao, chi phí kinh doanh cao, gánh nặng về thuế phí chính thức và chi phí phi chính thức…

Con số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động trong Báo cáo cho thấy rủi ro trong môi trường kinh doanh của chúng ta. Bộ máy phải thay đổi, phải năng động hơn và phải sát cánh với doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp”, ông Doanh nói.

Chỉ còn một nửa số DN đang hoạt động

Báo cáo cho biết giai đoạn 2007-2015, đã có gần 692 nghìn DN đăng ký thành lập, nâng tổng số DN đã đăng ký thành lập lên khoảng 941 nghìn DN, nhưng đến nay chỉ còn gần 513 nghìn DN (chiếm 54,5%) còn hoạt động. 45,5% số DN (khoảng 428 nghìn DN) đã ngừng hoạt động hoặc giải thể.

Đáng chú ý là sau những tăng trưởng mạnh trong hai năm 2009-2010, số lượng DN đăng ký thành lập đã có xu hướng giảm đi, bình quân mỗi năm khoảng 70 nghìn DN thành lập. Nhưng số DN ngừng hoạt động hoặc giải thể từ năm 2011 ngày càng có xu hướng tăng lên, thậm chí còn tăng cao trong năm 2015. Trên 80 nghìn DN, trong đó có 9467 DN hoàn thành thủ tục giải thể và 71391 DN gặp khó khăn phải ngừng hoạt động trong 2015.

Doanh nghiệp ngày càng nhỏ đi

Báo cáo cho biết tỷ trọng DN nhỏ và siêu nhỏ trong nền kinh tế ngày càng tăng và nguy cơ Việt Nam thiếu các DN cỡ trung bình đã trở thành hiện hữu.

Về quy mô của DN cũng đang có xu hướng nhỏ đi khi nhìn vào số lượng lao động và nguồn vốn. Mặc dù trong giai đoạn 2007 – 2015, tổng nguồn vốn của các DN trong nền kinh tế đã tăng gần 5 lần so với năm 2007, nhưng số lao động bình quân trong DN đã giảm từ 49 lao động (ở năm 2007) xuống còn 29 lao động ở năm 2015, tương đương với quy mô của một DN nhỏ.

Như vậy, tốc độ tăng trưởng vốn của DN cao hơn tốc độ tăng trưởng của lao động cho thấy, DN đang phát triển dựa nhiều hơn vào tăng trưởng nguồn vốn chứ không dựa nhiều vào tăng trưởng lao động. Liệu có thể xem đây là một nghịch lý khi mà Việt Nam luôn tự coi là có lợi thế về nguồn lao động, nhưng sự phát triển của nền kinh tế thời gian qua không tập trung khai thác lợi thế này, mà chủ yếu dựa vào tăng trưởng về nguồn vốn.

Theo chuyên gia kinh tế, TS. Lê Đăng Doanh, quy mô DN càng ngày càng nhỏ đi là dấu hiệu đáng báo động. Bởi nó chứng tỏ năng lực về tài chính, sản xuất… của các DN còn nhiều hạn chế và chưa có khả năng lớn lên được. Theo chuyên gia này, xét cho cùng thì vấn đề nằm ở thể chế, bởi “thể chế nào sẽ sinh ra DN ấy”. Một thể chế được cải cách tốt, hỗ trợ cho DN sáng tạo và xây dựng được chiến lược hoạt động trong dài hạn sẽ giúp bớt đi những chuyện nhũng nhiễu trong kinh doanh.

Hiệu quả sử dụng vốn giảm sút

Nợ nhiều nhưng hiệu quả sử dụng nguồn vốn của DN ra sao? Theo báo cáo này, giai đoạn 2007-2014 chứng kiến việc các DN hoạt động dựa nhiều vào các khoản nợ (nợ nhà cung cấp, các khoản vay tài chính…). Chỉ số nợ của các DN luôn lớn hơn giá trị kỳ vọng chuẩn. Chỉ số nợ tỷ lệ thuận với quy mô DN.

Trong đó, các DN vừa và lớn có chỉ số này cao nhất, khoảng 3,4-3,5 lần năm 2014. Điều này cho thấy cơ cấu nguồn vốn của các DN này phụ thuộc nhiều vào các khoản nợ. Trong khi đó, chỉ số này ở các DN siêu nhỏ và nhỏ lần lượt là 1,7 lần và 2,4 lần năm 2014.

Dựa nhiều vào nợ nhưng vòng quay vốn của các DN lại chậm lại trong giai đoạn này. Chỉ số vòng quay vốn của DN có chiều hướng giảm khá mạnh từ mức 2 lần năm 2007 xuống chỉ còn 1,4 lần năm 2014. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng nguồn vốn của DN ngày càng giảm đi. Nó cũng phù hợp với thực tế năng lực sinh lời của DN giảm sút.

Đơn cử, hiệu suất sinh lợi trên tài sản (ROA) chung của các DN đã giảm từ mức 6,6% năm 2012 xuống chỉ còn 3,6% trong năm 2014. Riêng ROA của các DNNN chỉ đạt 6,4% năm 2014, thấp hơn đáng kể mức 7,5% năm 2010. Trong khi đó, các DN ngoài nhà nước ghi nhận ROA ở mức 3,3% năm 2014, từ mức 6,4% năm 2012. Năm 2014, ROA của các DN nhỏ chỉ đạt 3,2%, nghĩa là DN phải bỏ ra 100 đồng tài sản mà chỉ thu được về 3,2 đồng lợi nhuận.

TS. Nguyễn Đăng Doanh: Doanh nghiệp
chỉ đi biếu phong bì thì sao lớn lên được?

An Ngọc (cafef.vn) Theo Trí thức trẻ – Gánh nặng chi phí, đặc biệt là chi phí “bôi trơn” đang là nguyên nhân khiến cho doanh nghiệp càng ngày càng có xu hướng li ti hóa, kém sức cạnh tranh.

Đây là nội dung được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đưa ra trong Báo cáo Thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2015 sáng ngày 13/4.

Lo ngại trước thực trạng DN Việt Nam ngày càng nhỏ, bà Từ Thị Bích Lộc, lãnh đạo một doanh nghiệp may tại Hà Nội đặt câu hỏi: DN nhỏ là do người Việt Nam yếu kém hay không có bản năng của người làm chủ?

Doanh nghiệp phải bé thì mới không bị rủi ro

Tự đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đầy nhức nhối này, bà Lộc khẳng định rằng: Nguyên nhân là do chính sách. Kể về câu chuyện chính DN của mình, vị lãnh đạo này cho biết trước đây khi thành lập DN may mặc, công ty bà được Thành phố cho mảnh đất tại ngoại thành với thời điểm quy mô của DN lớn nhất, lên tới hơn 200 công nhân.

Thế nhưng, DN may mặc của bà càng ngày càng bé đi, khi mà chi phí kinh doanh ngày càng tăng lên, “ăn” vào vốn và lãi, khiến cho hiệu quả hoạt động của DN ngày càng thấp. Vị lãnh đạo DN này đành phải “ngậm ngùi” thu hẹp quy mô hoạt động, để hạn chế rủi ro.

“Muốn sự hỗ trợ của Nhà nước, DN cần lắm nhưng không động tới được. Sản phẩm của chúng tôi có chất lượng, từng xuất đi Mỹ, Nhật, và cũng có nhiều khách hàng hỏi thăm, nhưng chúng tôi không dám làm, vì càng làm càng lỗ” – Vị DN này phân trần.

Bà nói thêm: “Tôi nhiều công nhân tôi lỗ nhiều, vì chi phí bên ngoài quá cao, chi phí xuất khẩu quá tăng, chi phí thuế thuê đất, chi phí xuất nhập khẩu chuyển hàng, chi phí cho người lao động, lương tăng. Giờ nghĩ đến tiền bảo hiểm, đúng là tôi không muốn làm gì”.

Thấu hiểu rõ khó khăn của doanh nghiệp, khi chí phí ngày càng tăng lên, hoạt động kém hiệu quả, TS. Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế đã chỉ ra thực trạng là trong khi năm 2015 tốc độ tăng trưởng đã được cải thiện nhưng lại chủ yếu chủ yếu dựa vào FDI, trong khi quy mô doanh thu của DN trong nước lại ngày càng giảm đi.

Theo ông Doanh, chi phí hoạt động ngày càng cao, rủi ro kinh doanh lớn đang là trở ngại lớn nhất và là nguyên nhân khiến cho quy mô DN ngày càng nhỏ. Dẫn chứng, DN Việt Nam vẫn phải chịu lãi suất ngân hàng quá cao, cho dù năm 2015 lạm phát tăng thấp, nhưng lãi suất ở Việt Nam vẫn ở mức 9 – 10%.

“Như vậy so với Thái Lan và Trung Quốc, lãi suất của ta cao gấp 2,8 lần. Dẫn đến chi phí vốn của Việt Nam cao hơn hiều” – TS. Doanh đánh giá.

Suốt ngày lo quan hệ, bôi trơn thì khó lớn

Hoặc với phí đường bộ cũng liên tục tăng lên, cũng một phần nguyên nhân là do phải vay vốn ngân hàng với lãi suất cao, nên phải điều chỉnh tăng phí. Chưa kể, mức độ thu phí và mức độ thu phí ngoài pháp luật cũng đang tăng lên.

Dẫn chứng từ Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, TS. Doanh cho biết tỷ lệ DN nộp chi phí ngoài pháp luật của DN Việt Nam không những không giảm mà còn tăng lên. Đây sẽ là điều đáng lo ngại khi Việt Nam hội nhập sâu rộng, yêu cầu cạnh tranh bình đẳng hơn chứ không phải làm ăn chỉ thông qua quan hệ.

TS. Doanh thẳng thắn chỉ ra: “DN chỉ lo đến ông A bà B biếu phong bì thì có miếng đất, có cơ chế và mọi việc sẽ êm, mà không chú trọng nâng cao năng lực, sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như một chiến lược đầu tư dài hạn. Nếu vậy thì sao lớn được?”.

Do đó, vị chuyên gia này cảnh báo rằng khi bước vào hội nhập, nếu không thay đổi thì những quan hệ này cũng không giúp ích được gì. Bởi DN FDI có thể kiện nếu phát hiện ra DN dùng quan hệ.

“Hội nhập từ 2016 này là giai đoạn mới đòi hỏi bộ máy Nhà nước và DN có cải cách mạnh mẽ, từ đó tận dụng cơ hội và chiếm lĩnh thị trường thì nền kinh tế mới khởi sắc” – TS. Doanh cảnh báo.

Đói nguyên liệu, nhiều nhà máy đóng cửa

Quang Huy /Pháp Luật TPHCM (NDH) – Nhiều doanh nghiệp phải tăng cường nhập nông sản nguyên liệu từ nước ngoài để chế biến cầm cự.

Không chỉ hạn hán, xâm nhập mặn mà còn do cách làm ăn thiếu bài bản, không xây dựng vùng nguyên liệu, thiếu chiến lược phát triển thị trường… khiến nhiều nhà máy gặp khó khăn vì thiếu hụt nguồn nguyên liệu.

Từ chối hợp đồng giá trị lớn

Cơn khủng hoảng thiếu nguyên liệu trầm trọng ập đến ngành mía đường đầu tiên. Hàng loạt nhà máy phải ngừng sản xuất. “Trong ba tháng đầu năm nay đã có nhiều nhà máy mía đường quy mô lớn phải đóng cửa. Điển hình như nhà máy mía đường Kiên Giang, Hiệp Hòa, Cà Mau, Long Mỹ Phát…” – Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) Nguyễn Thành Long dẫn chứng.

Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tình trạng trên, theo ông Long là do lợi nhuận từ trồng mía không cao nên nông dân chuyển sang trồng các loại cây khác như cây ăn quả, hoa màu ngắn ngày. Hệ quả là sản lượng mía sụt giảm, các nhà máy thiếu nguyên liệu sản xuất.

Đứng trước thực tế trên, các doanh nghiệp phải mua nguyên liệu với giá cao dẫn đến giá đường bán ra cao, không cạnh tranh lại các loại đường nhập lậu giá rẻ từ Thái Lan.

Những khó khăn trên kéo dài và cộng thêm hạn hán, xâm nhập mặn tác động nặng nề đã đẩy nhiều nhà máy mía đường phải đóng cửa nếu không sẽ thua lỗ nặng.

Không chỉ ngành mía đường mà ngành chế biến tôm xuất khẩu cũng chung cảnh ngộ. Rất nhiều nhà máy đang hoạt động không hết công suất, ảnh hưởng đến thực hiện hợp đồng giao hàng với đối tác nước ngoài. Thậm chí nhiều nhà máy phải tăng cường mua tôm nguyên liệu từ nước ngoài để cầm cự. Thu nhập của công nhân giảm vì làm không hết ca.

Nói về thực tế này, ông Trần Văn Lĩnh, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thủy sản và Thương mại Thuận Phước (Đà Nẵng), cho hay những tháng đầu năm nay các nhà máy chế biến tôm luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu, có thời điểm nguyên liệu chỉ đủ đáp ứng khoảng 30% công suất chế biến. Bản thân công ty phải từ chối một số hợp đồng có giá trị lớn. “Hiện nay công ty mua tôm với giá cao nhưng vẫn không được nhiều” – ông Lĩnh cho biết thêm.


Nhiều nhà máy chế biến cá tra đang thiếu
nguyên liệu trầm trọng. Ảnh: QUANG HUY

Các nhà máy chế biến cá tra cũng đang rơi vào tình cảnh khó mua nguyên liệu. “Nguyên nhân thiếu nguồn cung là do suốt trong một thời gian dài giá cá tra rất thấp, nông dân bỏ nuôi cá tra vì lỗ dây chuyền. Thêm nữa, một số công ty cũng giảm diện tích nuôi trồng với tâm lý chỉ thu mua trôi nổi để có giá rẻ hơn do tự mình đầu tư. Do đó, sản lượng cá tra năm 2016 dự báo giảm hơn 40%” – ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), phân tích.

Đối với ngành điều, dù đang vào vụ thu hoạch nhưng do nắng hạn kéo dài làm năng suất giảm mạnh so với những vụ trước. Ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), thông tin: “Các nhà máy chế biến hạt điều xuất khẩu chỉ hoạt động được 50% công suất, những tháng tiếp theo sẽ thiếu nguyên liệu trầm trọng. Trong khi đó, việc nhập khẩu hạt điều thô nguyên liệu từ Bờ Biển Ngà và một số nước châu Phi khác lại gặp khó khăn. Nhiều hợp đồng đã ký nhưng đối tác không chịu giao hàng, đòi tăng giá”.

Để không sống dở, chết dở

Ông Nguyễn Thành Long cho hay trong khi nhiều doanh nghiệp “sống dở, chết dở” vì thiếu nguyên liệu thì vẫn có nhiều đơn vị khác sống khỏe nhờ có giải pháp căn cơ, bền vững. Đó là các đơn vị có ký kết bao tiêu sản phẩm với nông dân; hỗ trợ nông dân về giống, phân bón và kỹ thuật canh tác để nâng cao năng suất, giảm giá thành sản phẩm.

Điển hình như Tập đoàn TTC liên kết với nông dân xây dựng các cánh đồng lớn, cơ giới hóa, làm mẫu để có thể áp dụng rộng rãi. Sử dụng công nghệ tiết kiệm nước, trồng các giống mía chống hạn, mặn… Nhờ những mô hình liên kết này mà năng suất mía đạt 90 tấn/ha, cao hơn mức trung bình của Thái Lan (75 tấn/ha) và giá thành sản xuất mía chỉ 510.000 đồng/tấn mía, ngang bằng Thái Lan. Chính vì vậy sản phẩm đường có khả năng cạnh tranh với Thái Lan.

Đối với thủy sản, ông Trương Đình Hòe cho rằng để phát triển bền vững, các công ty cần đẩy mạnh việc bắt tay với nông dân, các nhà khoa học, các viện, trường. Qua đó để chủ động hơn trong sản xuất giống, thức ăn nhằm giảm giá thành sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa.

Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Hùng Vương Dương Ngọc Minh thì cho hay: “Hiện nay chúng tôi tính toán lượng thức ăn hợp lý để kéo giãn thời gian nuôi, đảm bảo có cá sản xuất, chế biến đến sang năm 2017. Đồng thời liên kết thu mua nguyên liệu cá từ nông dân”.

Bên cạnh các giải pháp hỗ trợ nông dân khắc phục hạn hán, ông Nguyễn Nam Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (Vicofa), nhấn mạnh ngành cà phê cũng như các nông sản khác của Việt Nam phải đầu tư cho chế biến sâu. Riêng ngành cà phê phải tập trung vào rang xay, cà phê hòa tan chứ không nên chỉ tập trung xuất khẩu thô, giá trị thấp, không có thương hiệu.

Thả nổi nhập giống Trung Quốc

Một số công ty mía đường cho hay trong nhiều năm qua, Việt Nam thả nổi cho các nhà máy và nông dân nhập khẩu giống mía từ Thái Lan và Trung Quốc về trồng với rất nhiều rủi ro về sâu bệnh. Trong khi đó, công tác nghiên cứu giống mía thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu hầu như không được triển khai vì thiếu sự đầu tư.

Đây là một trong những nguyên nhân khiến sản lượng mía đạt thấp, khả năng cạnh tranh kém, thiếu nguyên liệu chế biến. Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, tính đến nay các nhà máy đường nước ta mới ép được hơn 10 triệu tấn mía, sản xuất được hơn 800.000 tấn đường. Như vậy so với cùng kỳ năm trước, lượng mía ép giảm 1,25 triệu tấn và lượng đường giảm hơn 163.000 tấn.

Do nhiều diện tích cà phê cháy khô vì hạn hán nên Vicofa dự báo năm nay Việt Nam có khả năng chỉ xuất khẩu 1 triệu tấn cà phê nhân, giảm 25% so với năm ngoái.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s