Tình cảnh thê lương của ngành dầu khí: Giá trị xuất khẩu dầu thô thua cả xuất khẩu rau quả

Posted: April 15, 2016 in Uncategorized
Tags:

Kiến Anh CafeBiz/Trí thức trẻ (Cafef) – Hệ quả của việc giá dầu giảm quá sâu so với cùng kỳ năm ngoái.

� Xem thêm: Gần 10.000 tỷ đổ vào 7 dự án Ethanol: Ai chịu trách nhiệm? + 30 năm đổi mới, “Việt Nam vẫn sợ cạnh tranh”.

Theo số liệu mới công bố của Tổng cục Hải Quan, 3 tháng đầu năm 2016, cả nước đã xuất khẩu 1,8 triệu tấn dầu, trị giá 498,2 triệu USD, giảm 17,4% về lượng và giảm 47,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

Nếu so với cùng kỳ các năm trước còn thấp hơn rất nhiều, chỉ bằng 1/4 so với cùng kỳ các năm 2012-2014, dù lượng xuất gần như không đổi.

Quý I/2016 cũng là quý chứng kiến mức sụt giảm giá dầu kỷ lục, có thời điểm xuống dưới 30 USD/thùng.


Diễn biến giá dầu Brent trong 5 năm qua.

Trước diễn biến xấu của giá dầu, số tiền gần 500 triệu USD thu được từ việc múc dầu lên bán thô, thậm chí đang thấp hơn cả giá trị xuất khẩu mặt hàng rau quả trong quý I (541 triệu USD) hay giá trị xuất khẩu thủy sản chỉ riêng tháng 3 (534 triệu USD).

Năm 2016, theo kế hoạch, Việt Nam sẽ khai thác 14 triệu tấn dầu thô. Trong quý I/2016 đã khai thác 4 triệu tấn, giảm 15 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2015 do giá dầu thô giao dịch trong 2 tháng đầu năm quá thấp.

Cuối tháng 3 vừa qua, sau khi công bố số liệu GDP quý I không đạt kỳ vọng, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã đưa ra đề xuất, cần phải tính đến việc khai thác thêm 2 triệu tấn dầu để cứu tăng trưởng . Đề xuất này có lẽ nên được xem xét kỹ lưỡng nếu tình hình giá dầu thế giới không được cải thiện đáng kể trong năm nay.

Tương tự như mặt hàng dầu thô, xuất khẩu xăng dầu trong quý I cũng bị ảnh hưởng mạnh. Trong 3 tháng đầu năm, đã có 539,1 nghìn tấn xăng dầu xuất đi, thu về 189,4 triệu USD. Mặc dù lượng tăng đến 83,4% nhưng giá trị thu về chỉ tăng 7,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

[:-/] Giá trị xuất khẩu dầu thô thua cả… xuất khẩu rau quả (VTV) – Số liệu từ Tổng cục Hải Quan, 3 tháng đầu năm nay, giá trị xuất khẩu dầu thô giảm chỉ bằng 1/4 so với cùng kỳ các năm 2012/2014, dù sản lượng xuất gần như không đổi.

Theo tính toán, số tiền gần 500 triệu USD thu được từ việc múc dầu lên bán thô, còn thấp hơn giá trị xuất khẩu rau quả trong quý I/2016.

Gần 10.000 tỷ đổ vào 7 dự án Ethanol:
Ai chịu trách nhiệm?

Hồng Quân /BizLIVE (Cafef) – Phải chăng 3 biến số quan trọng là giá sắn nguyên liệu (đầu vào sản xuất); giá dầu (cạnh tranh với giá đầu ra); và biến chính sách đã được “tô hồng” trong báo cáo tiền khả thi để các dự án Bio-Ethanol có tỷ suất sinh lợi mà ai đầu tư cũng mơ ước.

Báo cáo của Bộ Công Thương cho biết, cả nước có 7 nhà máy sản xuất nguyên liệu sinh học (Bio- ethanol ). Ước tính tổng mức đầu tư vào 7 dự án Bio-Ethanol gần 10.000 tỷ đồng.

7 nhà máy đều hoạt động cầm chừng, hoặc dừng, hoặc đóng cửa vì nợ đọng và bế tắc đầu ra. Các lý do được đưa ra là do chính sách không đảm bảo được đầu ra và do chủ đầu tư mà chính yếu là đầu tư, sử dụng thiết bị công nghệ của Trung Quốc. Nhưng liệu đây có phải là mấu chốt của sự thất bại trong đầu tư của đồng loạt 7 nhà máy nói trên không?

Bức tranh được tô hồng

Trao đổi với báo giới cách đây 2 năm khi giá xăng bán lẻ tại Việt Nam hơn 20.000 đồng/lít, và nhiều nhà máy Bio – Ethanol rơi vào cảnh nợ, đại diện của một doanh nghiệp – đơn vị tham gia góp vốn với tỷ trọng lớn trong dự án Bio – Ethanol hơn 80 triệu USD cho rằng, họ đầu tư vào dự án vì đánh giá đây là dự án tốt do có ban quản trị, các kế hoạch tài chính, lợi nhuận rất tốt – tỷ suất sinh lời/vốn đầu tư lên đến 35%.

Bên cạnh đó, đầu ra sản phẩm được PVOil bao tiêu sản phẩm – dù cho giá nhiên liệu trên thế giới như thế nào vẫn đảm bảo tỷ lệ lợi nhuận 19%. Ngoài ra, theo dự kiến tại thời điểm đầu tư, chính sách sẽ bắt buộc người dân dùng xăng E5 trên toàn quốc.

Tại thời điểm “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” ra đời giá dầu đang trong xu hướng tăng liên tục, người ta lo ngại về khả năng khủng hoảng dầu.

Vị đại diện này đánh giá, nếu các nhà máy được đưa vào hoạt động đúng tiến độ, mức tiêu thụ nhiên liệu từ phía cầu ít nhất bằng giả định/dự toán ban đầu thì các chủ đầu tư sẽ không rơi vào tình trạng nợ nần hay hoạt động cầm chừng từ cuối năm 2011 dù cho giá sắn lát đã tăng tương đối khá so với thời điểm đầu tư.

Ngay như Petrosetco – thành viên của Tập đoàn PVN, một công ty chuyên về dịch vụ phân phối vào năm 2009 đã rất hứng khởi khi tham gia đầu tư vào dự án Bio – Ethanol Dung Quất vì đánh giá mảng kinh doanh nhiên liệu sinh học “rất tiềm năng”. Trước đó, Petrosetco có kế hoạch đầu tư vào ít nhất 2-3 nhà máy nhiên liệu sinh học.

Quá lạc quan về biến giá dầu, giá sắn và chính sách!

Mặc dù không có đầy đủ thông tin báo cáo nghiên cứu khả thi của 7 nhà máy Bio – Ethanol, nhưng đơn cử cho dự án Bio – Ethanol Bình Phước, một trong 3 dự án do PVOil tham gia đầu tư cho thấy, 2 chỉ tiêu quan trọng để nhà đầu tư quyết định thực hiện dự án là (i) Giá trị hiện tại thuần của dự án dương (NPV = 106 triệu USD), (ii) tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi vay ngân hàng (> 32,5%), vòng đời dự án là 50 năm.

Điều này đồng nghĩa rằng, thị trường nhiên liệu sinh học phải có tiềm năng, báo cáo khả thi về dự án phải thuyết phục được nhà đầu tư về một tương lai tươi sáng.

Tuy nhiên, như trong chia sẻ của lãnh đạo nhà máy Bio – Ethanol Dung Quất trên phương tiện truyền thông quốc gia mới đây, giá thành sản xuất xăng E5 hiện khoảng gần 17.000 đồng/lít, cao hơn giá xăng hiện nay khoảng 3.000 đồng/lít trong điều kiện vận hành nhà máy tiết kiệm, hiệu quả. Với giá thành sản xuất nói trên, “cửa thoát” nào cho các dự án Bio – Ethanol khi mà giá dầu đang ở mức thấp, và chưa có dấu hiệu cho thấy sẽ tăng cao trở lại trong 1-2 năm tới.

Sắn là nguyên liệu chính để sản xuất Bio – Ethanol. Báo khả thi của dự án Bio-Ethanol cho biết giá sắn trung bình cả đời dự án khoảng 1.800 đồng/kg, ứng với nó giá thành sản phẩm 10.000 đồng/lít. Năm 2012-2013 giá sắn đã lên đến 5.000 đồng/kg trong khi giá ethanol là 13.000 đồng/kg. Như vậy, biến giá sắn – nguyên liệu đầu vào đã bị các nhà thẩm định giả định không phù hợp.

Cuối cùng, biến chính sách đã được các nhà thẩm định đưa vào hay không? Nhưng dù có đưa vào hay không thì biến giá dầu và giá sắn là 2 biến quan trọng có tác động lớn trong quyết định chính sách và đưa chính sách đến với thực tế cuộc sống mà đích cuối cùng là tác động làm thay đổi lượng cầu.

Phải chăng quy trình chính sách đã có thiếu sót bởi đánh giá mức độ trọng yếu biến giá dầu và những tổn thất xã hội phải gánh chịu từ phía cầu/ngân sách thực thi chính sách đã không được xem xét đầy đủ. Chính sách đã không ra lệnh được thị trường nếu không có bù đắp chênh lệch giá.

Dĩ nhiên, làm kinh doanh phải đảm bảo có lợi nhuận hay phải đạt được lợi ích tài chính thay thế khác lợi nhuận, ai lại làm không! Nhưng, để tránh những tổn thất cho doanh nghiệp, khâu thẩm định dự án là vô cùng quan trọng. Và trong trường hợp này, liệu các nhà đầu tư đã được cảnh bảo trước về kịch bản không khả thi của dự án do giá dầu giảm, giá nguyên liệu tăng và chính sách không ra lệnh được thị trường?

Thay lời kết, Licogi 16 – đơn vị từng góp vốn vào dự án Ethanol Bình Phước chia sẻ với cổ đông về việc thoái vốn khỏi dự án Ethanol rằng: Khả năng thoái vốn là điều đau xót, nhưng không có cách nào khác. Và giờ đây LCG có thể là nhà đầu tư “may mắn” trong các nhà đầu tư vào dự án Bio-Ethanol dù việc thoái vốn của họ có tổn thất.

[:-/] Hàng loạt nhà máy Ethanol dừng hoạt động do nợ đọng, phá sản (Cafef) – Hiện 7 nhà máy sản xuất Ethanol – loại nguyên liệu chính để pha xăng sinh học – đang lâm vào tình cảnh nợ đọng, ngừng sản xuất hoặc phá sản.

Cả nước hiện có 7 nhà máy sản xuất Ethanol, trong đó, 4 nhà máy nhập khẩu và sử dụng công nghệ từ Trung Quốc, 3 nhà máy còn lại sử dụng công nghệ của các nước khác nhưng các thiết bị sản xuất vẫn nhập khẩu từ Trung Quốc. Các nhà máy này đều có vốn đầu tư từ 500 tỷ đồng đến hơn 1.000 tỷ đồng.

Công suất thiết kế thấp nhất cũng lên đến 50.000 tấn/năm. Tuy nhiên, ở thời điểm này, cả 7 nhà máy Ethanol đều đã phá sản hoặc ngừng sản xuất.

30 năm đổi mới, “Việt Nam vẫn sợ cạnh tranh”

Nguyên Vũ /VnEconomy (Cafef) – Sau 30 năm đổi mới ở Việt Nam tư duy “sợ” cạnh tranh vẫn tồn tại, ngay trong quản lý nhà nước…

Nhận xét này được TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nêu tại hội thảo xây dựng và thực thi chính sách toàn diện về cạnh tranh được CIEM tổ chức sáng 15/4.

Ở các nền kinh tế khác khi ban hành chính sách bao giờ họ cũng đặt ra câu hỏi là chính sách đó có hạn chế cạnh tranh không, còn ở Việt Nam chưa bao giờ đặt câu hỏi đó. Tư duy là nhà nước kiểm soát và sở hữu nên xây dựng chính sách là để quản lý, ông Cung so sánh.

“Cho đến giờ này tôi cũng chưa thấy sự thay đổi nào về mặt tư duy để cải thiện chất lượng chính sách một cách thực chất ở Việt Nam”, Viện trưởng CIEM bình luận.

Ông Cung nhấn mạnh, để chuyển đổi nền kinh tế lên một cấp của nền kinh tế thị trường thì phải có chính sách cạnh tranh toàn diện. Và đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và công bằng thì cần có thể chế tốt.

Theo ông Cung, giai đoạn 2011 – 2015, cải cách thể chế đã đạt được bước đầu, tích cực, nhưng vẫn còn nhiều yếu kém.

Thể chế còn nhiều vướng mắc, còn rất nhiều hạn chế yếu kém, so với yêu cầu thì còn xa, còn khoảng cách rất lớn giữa mong muốn và thực tế, ông Cung bình luận.

Những yếu kém được Viện trưởng CIEM đề cập như, kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc, tăng trưởng kinh tế thấp hơn mục tiêu, chất lượng chưa được cải thiện. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, chưa tạo được đột phá trong phát triển kinh tế – xã hội….

Trong số các nguyên nhân chủ quan dẫn đến những yếu kém nói trên có nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đủ rõ, còn khác nhau. Nhất là về vai trò của Nhà nước, của kinh tế nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân, thị trường quyền sử dụng đất, quản lý giá cả, phân bổ nguồn lực…

Nguyên nhân thứ hai là nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu đổi mới về phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

Bàn luận về nguyên nhân thứ nhất, ông Cung nói, đây là lần đầu tiên báo cáo chính thức thừa nhận còn có ý kiến khác nhau về định nghĩa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Vì thế giới khoa học, chuyên gia có cơ hội bàn luận làm cho rõ hơn, tìm kiếm giải pháp hợp lý hơn, ông Cung nói.

Nhấn mạnh cạnh tranh là câu chuyện rất lớn của Việt Nam, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nêu thực tế, trong TPP thì năng lực cạnh tranh của Việt Nam là thấp nhất, cả về năng lực thể chế hay năng lực của doanh nghiệp.

25 năm tham gia ASEAN Việt Nam vẫn ở vị trí thứ 7, kể cả các nước ở thứ hạng thấp hơn như Lào, Campuchia, Myanma có mặt nào đó đều hơn Việt Nam, họ đang vượt lên để chuyển đổi về thể chế, nên thách thức của Việt Nam là rất lớn, bà Chi Lan.

Theo bà Lan, ở Việt Nam lâu nay ưu tiên số 1 là doanh nghệp nhà nước và hai là khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn doanh nghiệp tư nhân trong nước thì bị hai lực lượng kia chèn ép.

Việt Nam còn có bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp thân hữu và không thân hữu, đông đảo doanh nghiệp nhỏ và vừa không có quan hệ thân hữu thì không thể có sự bình đẳng trong cạnh tranh, bà Lan nhìn nhận.

Bất bình đẳng hiện nay là hệ quả của thể chế (ưu việt XHCN đỉnh cao trí tuệ!?), Viện trưởng Nguyễn Đình Cung chốt lại.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s