71.391 DN phá sản năm 2015: Điều bất thường

Posted: April 16, 2016 in Uncategorized
Tags:

An An (BĐV) – 71.391 DN ngừng hoạt động trong năm 2015. Đó là con số bất thường, chứng tỏ môi trường kinh doanh của Việt Nam rất không thuận lợi

� Xem thêm: Doanh nghiệp phá sản và một đất nước “không chịu phát triển”


Ảnh minh họa

Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mới đây cho biết, trong giai đoạn từ 2007 – 2015, tổng cộng có đến 428.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc giải thể.

Riêng trong năm 2015, số doanh nghiệp gặp khó khăn phải ngừng hoạt động là 71.391 đơn vị, tăng 22,4% so với năm 2014. Như vậy, theo tính toán đến thời điềm cuối năm 2015, cả nước còn gần 513.000 doanh (54,5%) đang hoạt động.

Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng số doanh nghiệp giảm mạnh chỉ còn 7,7%/năm trong giai đoạn 2012-2015, từ mức trung bình trên 20%/năm giai đoạn 2007-2011.

Báo cáo cho biết, số lao động bình quân trong doanh nghiệp đã giảm từ 49 người năm 2007 xuống còn 29 người năm 2015, tức tương ứng với quy mô của một doanh nghiệp nhỏ.

Bà Phạm Thu Hằng, Tổng thư ký VCCI, nhận định, con số trên cho thấy tỷ trọng các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ ngày càng tăng, doanh nghiệp cỡ trung bình đang bị thu hẹp, thiếu hụt hẳn.

Bình luận về số doanh nghiệp phá sản, giải thể, TBKTSG Online dẫn lời chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh nhận định, đó là một con số bất thường và theo vị chuyên gia điều này đang chứng tỏ môi trường kinh doanh của Việt Nam rất không thuận lợi.

“Tỉ lệ doanh nghiệp chết đi ở các quốc gia khác cũng cao, khoảng 30%, nhưng không cao như của Việt Nam. Điều đáng lo lắng là tỷ lệ của Việt Nam rất cao, chứng tỏ môi trường kinh doanh của Việt Nam rất không thuận lợi”, ông nói.

Vị chuyên gia chỉ rõ nguyên nhân là do lãi suất cao, thuế phí nặng, chi phí không chính thức còn nặng hơn nữa, là lý do đã bào mòn sức sống của doanh nghiệp trong nước.

Làm 10 đồng, thuế, phí ăn hết 4 đồng

Nhận định trên hoàn toàn phù hợp với đánh giá của Ngân hàng Thế giới. Theo đó, đơn vị này cho biết, mặc dù thuế thu nhập doanh nghiệp đã giảm từ 25% về 22% nhưng theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), tổng thuế mà doanh nghiệp phải nộp vẫn cao hơn nhiều nước trong khu vực, tới gần 39,4% lợi nhuận…

Trong báo cáo Doing Bussiness 2016 vừa được WB công bố, doanh nghiệp VN phải dành gần 40% lợi nhuận để nộp thuế, chưa kể phí và các khoản chi phí “không tên” khác…

Tờ Tuổi trẻ dẫn lời bà Nguyễn Minh Thảo – phó ban môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương – cho biết theo cách tính của WB, các khoản được xem là thuế bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế môn bài, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… “Đó là chưa kể thuế VAT đã không được WB tính vào” – bà Thảo cho biết.

Cũng theo bà Thảo, dù tỉ trọng thuế trên lợi nhuận mà doanh nghiệp VN phải nộp thấp hơn một số nước như Mỹ, Trung Quốc… nhưng cao hơn rất nhiều nước trong khu vực. Cụ thể, tỉ lệ này tại Singapore là 18,4%, Thái Lan cũng chỉ khoảng 27,5%, Campuchia 21%, Indonesia 29,7%… “Hàn Quốc là nước phát triển và có cách tính thuế phức tạp nhưng tổng thu thuế cũng chỉ chiếm 33% lợi nhuận của doanh nghiệp” – bà Thảo nói.

Để nuôi dưỡng nguồn thu thay vì tận thu doanh nghiệp đến “kiệt sức”, bà Thảo cho rằng nếu không giảm được các khoản thuế do được quy định cứng trong luật, cơ quan quản lý cần rà soát, cắt giảm các khoản phí như đã làm với phí trên quả trứng gà. “Đặc biệt, phí kiểm tra chuyên ngành cần giảm đi. Đã là dịch vụ công, Nhà nước nên trả chứ không nên bắt doanh nghiệp phải chịu” – bà Thảo nói.

Doanh nghiệp chết tăng mạnh khi kinh tế phục hồi

Đồng quan điểm, nhiều chuyên gia khác cũng cho rằng, doanh nghiệp làm được 10 đồng ,thuế phí ăn hết 4 đồng. Thuế phí đang ăn hết lợi nhuận của doanh nghiệp thì làm gì còn kinh phí trích ra để tái đầu tư, thay đổi trang thiết bị.

Chuyên gia Phạm Chi Lan cũng cho rằng mức thu tới khoảng 40% lợi nhuận là quá lớn, vượt quá mức chịu đựng của các doanh nghiệp và đây chính là một trong những nguyên nhân khiến số doanh nghiệp VN giải thể, dừng hoạt động lên tới hàng chục ngàn/năm trong mấy năm khó khăn vừa qua. “Đóng đến 40% lợi nhuận thì lấy đâu ra mà tái đầu tư mở rộng sản xuất, có vốn đầu tư cho khoa học công nghệ, con người…” – bà Lan nói.

Doanh nghiệp phá sản
và một đất nước “không chịu phát triển”

Mạnh Quân (Dân Trí) – Trong mấy năm nay, báo cáo về tình hình kinh tế-xã hội hàng tháng của Tổng cục Thống kê luôn có một phần khá kỹ về tình hình tình hình hoạt động doanh nghiệp (DN). Luôn có số liệu rất rõ: bao nhiêu DN thành lập mới trong tháng, bao nhiêu DN phá sản, ngừng hoạt động.


(Minh họa: Ngọc Diệp)

>> TS. Nguyễn Đình Cung: “2 vạn doanh nghiệp đóng cửa là rất bất thường!”

Trong mấy năm từ 2011 đến nay, số DN giải thể, phá sản đã tăng rất nhanh. Nhưng trong mọi cuộc họp báo, hội thảo, khi giải thích về điều này, lãnh đạo Tổng cục Thống kê, thậm chí cả lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư luôn cho rằng “đây là điều bình thường”, với lập luận: có DN thành lập mới thì cũng có DN phá sản. Đôi khi, luận điểm này cũng được chứng minh bằng vài con số DN phá sản ở: Úc, Pháp, Mỹ, Indonesia… và quả thực, rất nhiều người đã thấy đó là “bình thường”.

Nhưng đến quý I năm nay, nếu ai đó còn nói số lượng DN nội địa giải thể, phá sản, ngừng hoạt động là “bình thường” chắc có phần… ngượng mồm. Theo con số cũng của Tổng cục Thống kê, riêng quý này, số lượng DN giải thể, ngừng hoạt động đã lên tới con số 20.000 tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, số DN mới thành lập cũng chỉ đạt 23.767 DN.

Bình luận về điều này, ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho rằng: “Ai đó nói điều này là bình thường thì đó là cách nói an ủi nhau, là vô trách nhiệm. Con số đó không bình thường chút nào”.

Ông Nguyễn Đình Cung có lẽ là chuyên gia kinh tế đầu tiên nói ra điều này một cách mạnh mẽ. Nhưng điều ông cho là “rất bất thường” thực ra cũng rất khớp với nhiều thống kê, số liệu khảo sát, nghiên cứu của nhiều cơ quan nghiên cứu về kinh tế, các hiệp hội doanh nghiệp…

Các báo cáo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trong 3 năm liên tiếp trở lại đây đều đưa ra nhận định cơ bản: DN Việt Nam “không chịu lớn” với đầy đủ số liệu cho thấy, số DN có qui mô vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, nhỏ li ti tăng lên nhanh và số DN có qui mô lớn ít đi. Hoặc DN đã lớn nhưng kinh doanh khó khăn, thu hẹp lại qui mô hoạt động.

Kết quả các cuộc khảo sát, đánh giá kinh tế VN, hoạt động của DN Việt Nam từ các tổ chức quốc tế cũng cho những kết quả tương tự. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), hiện nay, ở Việt Nam, tỷ lệ thuế và phí chiếm tới 40,8% lợi nhuận của DN.

Trong khoảng 2 năm nay, khi tình hình cân đối ngân sách nhà nước ngày càng trở lên căng thẳng thì thuế, phí nội địa ngày càng tăng lên: lãi suất ngân hàng tăng, các chi phí về tiền lương lao động, bảo hiểm, công đoàn… đều tăng lên. Thuế môi trường tăng, thuế môn bài vừa được đề xuất tăng gấp 3 lần; các chi phí vận tải, phí đường cao tốc đều tăng rất mạnh. Mà nhìn tổng thể, hầu như không thấy có khoản nào giảm để gọi là khoan sức dân, tạo thuận lợi cho DN.

Thậm chí, tình trạng tham nhũng, nhũng nhiễu gây khó khăn cho DN ở nhiều ngành cũng được đánh giá là không giảm. Các khảo sát của CIEM về thực hiện các Nghị quyết 19 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh (năm 2014 và 2015) đều cho thấy, “chi phí bôi trơn” của DN tăng lên. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan mới đây, dẫn số liệu của WB: DN Việt cứ làm ra một đồng lợi nhuận thì mất 0,72 đồng thậm chí 1,02 đồng để “bôi trơn” và kết luận: “Như vậy, DN làm sao mà lớn được ?”.

Người ta hay nói, trong chiến tranh, những người lính là hình ảnh trung tâm của đất nước. Trong thời bình, chính các DN mới giữ vai trò chủ đạo để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, đóng góp lớn nhất cho phát triển kinh tế. Nhưng với vô vàn khó khăn như hiện nay, khi thuế, phí không ngừng tăng, điều kiện kinh doanh ngày càng siết chặt, giấy phép “con” giấy phép “cháu”… vẫn không ngừng được ban hành dưới dạng này, dạng khác thì số DN phá sản, ngừng hoạt động, với lẽ đó, quả là điều bình thường.

Nhưng chính vì điều “bình thường” đó, mà cũng khối vị chuyên gia kinh tế thừa nhận thực tế này: Việt Nam là “đất nước không chịu phát triển”, khi vốn FDI, vốn ODA, tiền đầu tư từ ngân sách nhà nước… bao nhiêu năm qua đổ vào rất lớn nhưng trình độ phát triển, vị trí trên bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu hầu như không tăng, có năm còn giảm mấy bậc. Thậm chí, vừa qua, tại Diễn đàn Thương hiệu Quốc gia, có tổ chức còn công bố: Thương hiệu quốc gia Việt Nam giờ chỉ còn trên… Campuchia.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s