Nợ công Việt Nam: Lời ngọt bất ngờ từ World Bank

Posted: April 16, 2016 in Uncategorized
Tags:

Minh Thái (BĐV) – Theo đại diện WB, mức nợ công hiện nay của Việt Nam vẫn an toàn và Chính phủ Việt Nam vẫn có khả năng trả 100% các khoản nợ đến hạn.

� Xem thêm: TGĐ WTO: ‘VN là một trong những nền kinh tế năng động nhất thế giới + Biến đổi khí hậu khiến Việt Nam thiệt hại 1,9 tỷ USD mỗi năm.


Nợ công của Việt Nam tăng lên nhanh chóng trong những năm qua

Trong một báo cáo mới đây của Bộ Tài chính trước Quốc hội, nợ công của Việt Nam tính đến 31/12/2015 đã lên mức 62,2% GDP. Theo Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam năm 2015 đạt 4.192.900 tỷ đồng. Như vậy, nợ công của Việt Nam tương đương mức 2.607.900 tỷ (115,7 tỷ USD).

Với dân số khoảng 91,7 triệu người, hiện mỗi người dân Việt Nam đang phải gánh khoản nợ khoảng 28,4 triệu đồng. Đây là con số nợ công kỷ lục của Việt Nam.

Đóng góp lớn nhất vào khoản nợ công này là nợ của Chính phủ, đạt mức 50,3% GDP cả nước. Nợ Chính phủ đã chính thức vượt qua giới hạn an toàn 0,3%. Nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 43,1% GDP, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ chiếm 16,1% tổng thu ngân sách nhà nước.

Theo dự báo của WB, lạm phát 2016 của Việt Nam sẽ ở mức 3,5%. Nợ công tăng lên ở mức 63,8% GDP.

Dù vậy, đại diện Ngân hàng Thế giới (WB) vẫn tỏ ra khá lạc quan trước những con số về tình hình nợ công của Việt Nam. Theo đó, báo VnExpress dẫn lời ông Sandeep Mahajan – Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam tại buổi họp báo công bố báo cáo Cập nhật tình hình kinh tế khu vực Đông Á, Thái Bình Dương và Việt Nam sáng 11/4, khẳng định:

“Chúng tôi không quan ngại về khả năng trả nợ của Việt Nam. Tỷ lệ nợ vẫn an toàn song vấn đề đáng ngại đối với Việt Nam là kỳ hạn trả nợ. Các kỳ hạn trả nợ đang ngày càng ngắn lại, áp lực trả nợ rất lớn. Chính phủ vẫn hoàn toàn có khả năng trả nợ các khoản đến hạn 100%. Nếu như thâm hụt ngân sách vẫn cao như hiện nay thì con số nợ sẽ không bền vững, rủi ro trong trung hạn là rất lớn”.

Ông Sandeep cho rằng, việc dành tới 16% ngân sách để trả nợ sẽ tạo ra một rủi ro lớn cho việc đầu tư. Nếu càng trả nợ nhiều sẽ rủi ro cho những khoản chi tạo ra năng suất lao động, giảm chi vào giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác. Vì vậy Chính phủ Việt Nam phải ổn định chi tiêu thường xuyên, có phương án thu chi ngân sách hợp lý. Hiện Ngân hàng Thế giới cũng đang làm việc với Chính phủ để đưa ra những phương án lựa chọn về tình hình tài khoá trong năm tới và lựa chọn phương án nào thuộc Bộ Tài chính.

Lời trấn an của đại diện WB về khả năng trả nợ của Việt Nam được đưa ra trong bối cảnh thể chế tài chính này vừa dự báo tăng trưởng GDP của Việt Năm 2016 ở mức 6,5% bằng văn bản.

Nhưng ngay sau đó, WB đã đính chính lại dự báo này, hạ mức dự báo tăng trưởng GDP chỉ còn 6,2%.

“Chúng tôi đã giảm dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam vào phút chót do có những diễn biến mới phải cập nhật”, ông Sandeep cho biết.

Hai yếu tố tác động đến việc hạ dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam gồm:

Một là, sự suy giảm chung của nền kinh tế toàn cầu, cùng với xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long đã gây ra sự tăng trưởng âm trong nông nghiệp trong Quý 1/2016.

Tăng trưởng GDP trong quý đầu tiên năm 2016 của Việt Nam chỉ đạt 5,46% so với mức 6,12% trong quý 1/2015.

Hai là, nhu cầu của các nước bên ngoài đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam đã giảm. Trong quý 1, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm rất nhiều.

Tăng trưởng xuất khẩu năm 2015 đã giảm xuống mức 8% (mức tăng năm 2014 là 13,8%) do giá thực phẩm và giá nguyên vật liệu giảm, và chỉ được bù trừ phần nào bởi tăng xuất khẩu sản phẩm chế tạo.

“Chúng tôi không muốn quá nhấn mạnh, nhưng điều chúng tôi lo ngại là khu vực FDI – vốn là nguồn tăng trưởng xuất khẩu chính của Việt Nam cũng thể hiện sự giảm sút trong xuất khẩu trong những quý vừa qua”, ông Sandeep bày tỏ.

TGĐ WTO: ‘VN là một trong những nền kinh tế
năng động nhất thế giới

(NDH) Theo DĐDN – Tại cuộc đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp, chiều 15/4, Tổng Giám đốc WTO Roberto Azevedo đã khẳng định: “VN là một trong những nền kinh tế năng động nhất thế giới”.

Tổng Giám đốc WTO đánh giá, hiện nay, Việt Nam là một trong những nền năng động nhất thế giới trong việc áp dụng các khuôn khổ đầu tư phát triển nước ngoài.

Trong số các thành viên của WTO, Việt Nam ngày càng củng cố vị thế trong lĩnh vực như điện thoại, máy tính, công nghệ thông tin…

Ông Roberto Azevedo chia sẻ, những tiến bộ của WTO, cùng với chuỗi giá trị toàn cầu, sẽ giúp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam tận dụng cơ hội tốt hơn.

WTO sẽ thúc đẩy hơn nữa tiến trình thay đổi, cải cách của Việt Nam, môi trường kinh doanh sẽ phù hợp hơn.

WTO với các TPP, EVFTA… hoàn toàn không có gì xung đột nhau. Ngược lại còn bổ sung cho nhau. WTO có thể sẽ giúp các quốc gia cân nhắc lựa chọn cơ chế đa phương, toàn cầu hoặc khu vực.

Tổng Giám đốc WTO khẳng đinh, WTO sẽ hỗ trợ cho Việt Nam đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong những năm tới đây.

Phát biểu tại hội nghị, TS Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch VCCI cho rằng, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại của Việt Nam, có 02 dấu mốc đặc biệt quan trọng là gia nhập WTO vào năm 2007 và thời điểm hiện nay – khi Việt Nam đã đàm phán, ký kết nhiều hiệp định thương mại trong đó có TPP và EVFTA.

Ông Lộc đánh giá, WTO đã làm thay đổi diện mạo khung khổ pháp luật, thể chế chính sách về kinh tế thương mại đầu tư cũng như phương thức quản lý kinh tế của Việt Nam.

Gia nhập WTO là sức ép để Việt Nam sửa đổi, điều chỉnh khung khổ pháp luật, chính sách thương mại, đầu tư từ “theo nhu cầu quản lý” của Việt Nam sang “tuân thủ các tiêu chuẩn” của thế giới (thể hiện trong các Hiệp định của WTO”).

Tuy nhiên, theo ông Lộc, cũng đã có rất nhiều kỳ vọng đã bị bỏ lỡ trên “chuyến tầu WTO” của Việt Nam.

Trước hết,là cơ hội tăng trưởng không đạt được kỳ vọng. Tăng trưởng GDP 5 năm 2006-2010 đạt 7%, 2011-2015 là 5,88%. Mức tăng trưởng này dù vẫn là cao với thế giới nhưng rõ ràng là thấp hơn so với chính Việt Nam thời kỳ hội nhập hạn chế hơn trước đó (thấp so với 7,51% của giai đoạn 2001-2005, thậm chí thấp so với 7% của giai đoạn 1996-2000).

Thứ hai, nền nông nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực. Tăng trưởng bình quân của khu vực nông nghiệp năm 2007-2011 là 3,4%/năm, 2011-2015 là 3,1% (thậm chí năm 2015 mức tăng trưởng là thấp nhất, chỉ 2,21%) – trong khi đó tăng trưởng của ngành này giai đoạn 2001-2006 trước WTO là 4 %.

Thứ ba, cơ cấu xuất nhập khẩu có vấn đề. Mũi nhọn xuất khẩu là các ngành sử dụng tài nguyên, nông nghiệp, gia công thâm dụng lao động; Nhập siêu lớn và tăng mạnh trong thời kỳ sau WTO

Ông Lộc đặt ra những câu hỏi: Phải chăng, thể chế kinh tế và công tác điều hành vĩ mô của Việt Nam còn chưa theo kịp yêu cầu hội nhập?

Phải chăng, nhóm đối tượng thu nhập thấp, dễ bị tổn thương nhất trong xã hội dường như đã không được lợi hoặc đang chịu áp lực lớn từ hội nhập?

Phải chăng, xuất khẩu mang lại giá trị gia tăng thấp, dựa trên các lợi thế không bền vững, không tạo động lực cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế đã cho thấy các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam đã không tận dụng được cơ hội của WTO?

Biến đổi khí hậu khiến Việt Nam
thiệt hại 1,9 tỷ USD mỗi năm

(NDH) Theo Vietnam+ – Việt Nam là một trong 5 nước đang và sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Theo văn bản Chương trình phối hợp tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020 giữa Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam là một trong 5 nước đang và sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu và nước biển dâng, trung bình mỗi năm có 457 người bị thương vong, thiệt hại 1,9 tỷ USD.

​Do đó, ngày 15/4, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức cuộc họp Ban chỉ đạo Chương trình phối hợp tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 – 2020, nhằm đưa ra các kế hoạch hành động để giảm nhẹ rủi ro thiên tai và bảo vệ môi trường hiệu quả.

Chia sẻ tại buổi họp, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho biết, mặc dù công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu đã thu được nhiều kết quả tích cực, song nước ta vẫn đang phải đối mặt với ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên thiên nhiên; diễn biến phức tạp của thời tiết, khí hậu đe dọa tiềm ẩn nhiều nguy cơ xấu.

Đơn cử như tại một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, từ đầu năm 2016 đến nay, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng đã và đang gây thiệt hại nặng nề và tiếp tục đe dọa lớn đến sản xuất và đời sống của hàng triệu người dân.

“Với xu thế biến đổi khí hậu hiện nay, việc cần làm bây giờ là cần phải có sự tham gia vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng và người dân trên cả nước vào công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu,” Bộ Trưởng Trần Hồng Hà nhấn mạnh.

Tại buổi họp, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân cũng nhấn mạnh, để bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, trước hết phải dựa vào nhân dân, phải để người dân nhận thức được lợi ích của việc bảo vệ môi trường thì chương trình mới thực sự hiệu quả.

Theo Chủ tịch Nguyễn Thiện Nhân, nước ta có nhiều tôn giáo với đặc thù, điều kiện sinh hoạt, tập quán khác nhau, nên các địa phương cần xây dựng kế hoạch thực hiện linh hoạt, chú trọng đến việc tạo điều kiện, môi trường để tín đồ của các tôn giáo phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện các nội dung, giải pháp để tạo sức mạnh chung về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trên cơ sở đó, để chương trình hoạt động hiệu quả và thiết thực hơn, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài nguyên-Môi trường cũng đề ra những nội dung cụ thể, trong đó chú trọng việc phối hợp cung cấp cho cộng đồng tôn giáo và dân cư kiến thức về môi trường, biến đổi khí hậu và thực trạng về ô nhiễm môi trường, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu trên từng địa bàn dân cư.

Ngoài ra, các tổ chức tôn giáo cũng cần phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan chức năng khác ở các cấp để vận động các cơ quan nhà nước,doanh nghiệp, tổ chức và cộng đồng dân cư thực hiện và giám sát việc thực hiện việc bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu hiệu quả.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s