Bẫy gia công là khó tránh

Posted: April 17, 2016 in Uncategorized
Tags:

Tư Giang (TBKTSG) – Cho dù thành tích xuất khẩu là vang dội như là kết quả của hội nhập sâu sắc, phần lớn miếng bánh (68-70% giá trị xuất khẩu) vẫn thuộc về các doanh nghiệp FDI. Liệu Việt Nam có thoát bẫy gia công trong làn sóng FTA thế hệ mới?

� Xem thêm: Nhân lực Việt Nam: Mất lợi thế trên sân nhà.

Theo Ngân hàng Thế giới, trong ngành dệt may Việt Nam, tới 70% số doanh nghiệp chỉ làm gia công cắt may, 90% là các doanh nghiệp hợp đồng, có nghĩa Việt Nam tham gia vào phần giá trị thấp của chuỗi giá trị toàn cầu. Ảnh: Thành Hoa

Một nền kinh tế mở quá rộng

Nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển vẫn nhớ một sự kiện mà ông đã thẳng thắn chối bỏ cách đây 10 năm. Cuối năm 2006, người ta tổ chức một cuộc mít tinh quy mô lớn ở Hà Nội để “chào mừng” Việt Nam gia nhập WTO, và mời ông tham gia với tư cách là trưởng đoàn đàm phán. Tuy nhiên, ông Tuyển đã từ chối. Ông giải thích: “Cả thế giới người ta biểu tình chống toàn cầu hóa, mà Việt Nam lại tổ chức mít tinh chào mừng. Chả ra sao cả nên tôi không tham gia”.

Thái độ dè dặt của ông Tuyển tương thích với những thăng trầm diễn ra những năm sau đó, khi nền kinh tế rơi vào vòng xoáy của bất ổn vĩ mô và lạm phát. Tuy nhiên, có một lĩnh vực không thể phủ nhận: xuất khẩu ngày càng tăng trưởng.

Ông Võ Trí Thành, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, tính toán, chỉ riêng trong giai đoạn 2007-2011, xuất khẩu tăng khoảng 2,4 lần, từ 39,8 tỉ đô la Mỹ lên 96,9 tỉ đô la Mỹ; tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 19,5%, cao hơn chỉ tiêu 16% trong kế hoạch năm năm 2006-2010. Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội cho biết thêm, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm năm 2011-2015 đạt 656 tỉ đô la Mỹ, tăng bình quân 17,5%/năm, vượt mục tiêu kế hoạch 12%/năm, trở thành một trong những nhân tố quan trọng giúp tăng trưởng kinh tế Việt Nam không bị giảm sâu trong những năm vừa qua.

Đến nay, thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã vươn tới hầu hết các thị trường trên thế giới. Nhiều sản phẩm đã dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ… Cơ cấu thị trường xuất khẩu có bước dịch chuyển dần, đến năm 2015, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường châu Á là 50%, châu Âu 20% và châu Mỹ tăng lên trên 25%.

Theo Ngân hàng Thế giới, tỷ trọng thương mại trên GDP của Việt Nam cao hơn nhiều so với Trung Quốc, cao hơn so với trung bình của Asean, và chỉ thấp hơn Singapore. Tính đến nay, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế – thương mại với trên 220 nước và vùng lãnh thổ. Việt Nam là một nền kinh tế mở.

Người tận dụng cơ hội thuế giảm nhờ các FTA để tăng xuất khẩu lại là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ảnh: MINH KHUÊ

Bề bộn ưu tư

Với ông Tuyển, người thiết kế chương trình hội nhập của Việt Nam, thành tích xuất khẩu trên chưa hẳn đã là đáng vui mừng. Ông bày tỏ ưu tư: “Các doanh nghiệp FDI đang chiếm tới 68-70% giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Chúng ta ngày càng dựa vào doanh nghiệp FDI. Đó là điều rất đáng lo lắng”. Ưu tư này của ông Tuyển được chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan chia sẻ.

Bà Lan cho biết, một khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam gần đây khẳng định, khả năng tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu là rất hạn chế. Chỉ có 21% doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu so với 30% của Thái Lan, 46% của Malaysia. Tỷ lệ xuất khẩu của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong tổng kim ngạch xuất khẩu luôn thấp hơn doanh nghiệp lớn: ở Việt Nam là 16,8% so với 83,2%; ở các nước khác trung bình là 23% so với 77%. Chỉ có 36% doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào mạng lưới sản xuất, thấp hơn nhiều so với 60% ở Malaysia, Thái Lan. “Doanh nghiệp nhỏ Việt Nam không làm sao lớn lên được, và rất khó kết nối vào chuỗi giá trị toàn cầu”, bà Lan nói.

“Chúng ta lâu nay cứ mãi quan tâm đến bẫy thu nhập trung bình, nhưng có bẫy mà Việt Nam đã mắc phải. Đó là bẫy giá trị gia tăng thấp, hay bẫy gia công”, ông Phạm Minh Đức từ Ngân hàng Thế giới nói.

Thực trạng này của Việt Nam, tiếc thay, ít được quan tâm đúng mực. Ông Phạm Minh Đức từ Ngân hàng Thế giới nói: “Chúng ta lâu nay cứ mãi quan tâm đến bẫy thu nhập trung bình, nhưng có bẫy mà Việt Nam đã mắc phải. Đó là bẫy giá trị gia tăng thấp, hay bẫy gia công”.

Theo Ngân hàng Thế giới, trong ngành dệt may Việt Nam, tới 70% số doanh nghiệp chỉ làm gia công cắt may, 90% là các doanh nghiệp hợp đồng, có nghĩa Việt Nam tham gia vào phần giá trị thấp của chuỗi giá trị toàn cầu. Ông Đức nghi ngại: Câu hỏi đặt ra là liệu Việt Nam có thể tận dụng cơ hội của các hiệp định thương mại tự do (FTA) hay Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) để thoát “bẫy giá trị gia tăng thấp”?

Con đường đi tới đầy chông gai

Đó là một câu hỏi lớn trong bối cảnh Việt Nam đã ký và chuẩn bị phê chuẩn những hiệp định thương mại tự do thế thệ mới là TPP và FTA Việt Nam-EU. Một phần của câu trả lời cho cảnh báo của ông Đức nhuốm màu u ám, đặc biệt là yêu cầu quy tắc xuất xứ trong TPP.

Theo nghiên cứu của ông Đức, tỷ trọng nguồn nhập khẩu sợi cho ngành dệt may Việt Nam như sau: 32,6% là từ Đài Loan, 27% từ Trung Quốc, 14,6% từ Hàn Quốc, 10,5% từ Thái Lan, 4,1% từ Indonesia, 5,9% là từ các quốc gia khác, và vỏn vẹn 5,3% từ các quốc gia TPP. Các con số trên phản ánh, phần lớn các nguồn nhập khẩu nằm ngoài lãnh thổ các quốc gia TPP. Ngân hàng Thế giới cảnh báo, công đoạn cung ứng thượng nguồn của sản xuất trong nước kém phát triển làm cho Việt Nam lệ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu sản xuất.

Trong một lần tiếp Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh tại trụ sở Công ty May 10 gần đây, bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Tổng giám đốc May 10, không khỏi lo lắng. “Nếu không sử dụng sợi xuất xứ từ TPP, chúng ta sẽ không được giảm thuế. Bài toán này rõ ràng không dễ giải”. Bà nói, May 10 chỉ chuyên về may, nên chưa có kinh nghiệm về sợi và chưa dám đầu tư vào lĩnh vực này. “Các nước Mỹ, châu Âu, Nhật Bản cũng có thể tăng cường xuất khẩu vào Việt Nam, tạo cạnh tranh khốc liệt ngay ở thị trường trong nước”.

Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Trương Văn Cẩm cho biết, trong năm 2015 ngành dệt may xuất khẩu trị giá 27 tỉ đô la Mỹ, trong đó 60% là xuất sang các nước sẽ trở thành thành viên TPP. Tuy nhiên, trong tổng giá trị 27 tỉ đô la đó, khoảng 70% là của các doanh nghiệp FDI. “Chúng ta (doanh nghiệp Việt Nam) chỉ hưởng phần ít thôi”, ông Cẩm nói. Hiện nay, ông cho biết, Việt Nam nhập khẩu 10% sợi và 5,3% vải  từ các nước TPP, có nghĩa là phần lớn còn lại được nhập khẩu từ vùng khác. “Nếu tính theo nguồn gốc xuất xứ thì Việt Nam được hưởng lợi không nhiều từ TPP”, ông nói.

Theo Ngân hàng Thế giới, do hiện nay Việt Nam đang phụ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu nhập khẩu, và quy chế xuất xứ nghiêm ngặt của TPP nên trước mắt Việt Nam sẽ không tận dụng được tối đa cơ hội do TPP mang lại. Ngành dệt may sẽ phải tái cơ cấu theo hướng liên kết ngược thì mới có thể tận dụng được tối đa lợi thế của TPP. Trước mắt, đây là một thách thức lớn, nhưng dự kiến Việt Nam sẽ thu hút thêm nhiều nguồn vốn FDI vào khu vực thượng nguồn để mở rộng năng lực sản xuất.

Đồng thời, quy tắc xuất xứ cũng tạo cơ hội cho Việt Nam thực hiện cơ cấu lại ngành công nghiệp và phát triển mạnh hơn chuỗi giá trị trong nước. Quá trình tái cơ cấu ngành dệt may theo hướng liên kết ngược sẽ kích thích các doanh nghiệp trong nước, kể cả các doanh nghiệp nhỏ mở rộng chuỗi cung ứng trong nước và tích cực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Nếu làm được như vậy sẽ đóng góp được nhiều giá trị hơn, học tập được nhiều hơn và tích tụ được nhiều tri thức hơn. Song, tất cả điều này sẽ chỉ được trả lời trong tương lai.

Ai tận dụng tốt cơ hội từ các FTA?

Logic thông thường sẽ cho rằng các hiệp định thương mại tự do (FTA) giúp các doanh nghiệp trong nước tận dụng cơ hội thuế được cắt giảm để đẩy mạnh xuất khẩu. Ngược lại thuế nhập khẩu cũng phải cắt giảm theo cam kết sẽ gây khó khăn cho sản xuất trong nước nên phải xem đó là cái giá phải trả để thâm nhập mạnh hơn thị trường nước ngoài.

Đáng tiếc thay, thực tế không diễn ra theo logic này.

Lấy ví dụ, số liệu xuất nhập khẩu quí 1-2016 của Bộ Công Thương công bố cho thấy khu vực FDI xuất siêu hơn 4,87 tỉ đô la Mỹ, còn khu vực trong nước nhập siêu đến 4,1 tỉ đô la Mỹ. Như vậy người tận dụng cơ hội thuế giảm nhờ các FTA để tăng xuất khẩu lại là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Biết thị trường nào giảm thuế theo lộ trình, thị trường nào cần mua hàng từ Việt Nam, các doanh nghiệp này, bất kể đang sản xuất hàng may mặc hay da giày, đang mua và chế biến các loại nông thủy sản… tìm mọi cách để tăng cường xuất khẩu – thành tích thì tính chung cho Việt Nam (nhờ vậy mà quí 1-2016 Việt Nam vẫn xuất siêu 776 triệu đô la Mỹ) nhưng thực tế hưởng lợi là các doanh nghiệp nước ngoài.

Nhìn ở hướng ngược lại, Việt Nam cũng phải giảm thuế nhập khẩu theo cam kết, chuyện chẳng đặng đừng này hóa ra lại là cơ hội làm ăn cho các doanh nghiệp thương mại trong nước, đi mua hàng đem về bán và hưởng lãi nhờ thuế suất thấp hơn trước!

Từ cái logic ngược với kỳ vọng của mọi người khi ký kết các FTA, có thể thấy một số hiện tượng “trái khoáy” đã và đang diễn ra.

Nhiều người cứ lấy tốc độ tăng trưởng tín dụng cao đến 35,5% của giai đoạn 2006-2010 để so với tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp hơn nhiều, chỉ 14,8% của giai đoạn 2011-2015 để nói rằng chất lượng tín dụng được cải thiện, dòng tiền chảy vào khu vực sản xuất thật chứ không còn chảy vào đầu cơ hay địa ốc, chứng khoán…

Nhưng nếu nhìn vào số liệu xuất nhập khẩu của hai khối, nước ngoài và trong nước của hai giai đoạn này, vẫn có thể kết luận ngày xưa tín dụng chảy nhiều vào tài trợ thương mại lúc cán cân xuất khẩu của khu vực trong nước và nước ngoài còn ngang ngửa. Nay khu vực nước ngoài chiếm tỷ trọng lấn lướt trong kim ngạch xuất nhập khẩu và họ không cần đến tín dụng trong nước – nên giai đoạn sau tăng trưởng tín dụng thấp hơn nhiều.

Sự lấn lướt của khu vực nước ngoài ngày càng rõ nét. Theo Tổng cục Thống kê, trong quí 1-2016, khu vực trong nước chỉ xuất khẩu được 10,8 tỉ đô la Mỹ trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất đến 27,1 tỉ đô la! Chênh lệch này được dự báo ngày càng tăng bởi trong quí 1, xuất khẩu của khu vực trong nước chỉ tăng 0,3% còn khu vực nước ngoài tăng đến 5,8%. Chính sách tỷ giá, chênh lệch lãi suất tiền đồng và ngoại tệ càng làm cho lợi thế ngày càng nghiêng về khu vực nước ngoài và bất lợi cho khu vực trong nước – chỉ còn biết đi buôn để kiếm lời!

Ký các hiệp định thương mại tự do là nhằm giúp hàng Việt Nam đi khắp thế giới – mục tiêu đó các doanh nghiệp FDI đang làm tốt hơn các doanh nghiệp trong nước thì đã rõ. Nhưng cam kết giảm thuế theo lộ trình hội nhập đang gây khó khăn cho sản xuất trong nước thì ít ai nói nhưng ngày càng rõ không kém.

Chẳng hạn, cam kết giảm thuế nhập khẩu xăng dầu từ một số thị trường làm xăng dầu sản xuất trong nước từ Dung Quất khó tiêu thụ và đang đặt Việt Nam vào một thế rất khó khăn khi lại cam kết bao tiêu cho Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn. Trong trường hợp cụ thể này, rõ ràng người đi đàm phán các FTA cụ thể đã không lường hết các tác động tiêu cực của các cam kết giảm thuế và nay phải loay hoay giải quyết.
Nguyễn Vũ

Giáo sư Hansjörg Herr (Đại học Kinh tế – Luật Berlin – Đức)

Chuyên môn hóa và bài học đừng bỏ hết trứng vào một rổ

jpgTôi thấy việc thực hiện một loạt hiệp định thương mại tự do mới ký kết đang là một thách thức với Việt Nam trong năm năm sắp tới. Doanh nghiệp tư nhân chưa phát triển đủ mức, doanh nghiệp nhà nước bị chi phối bởi chính trị còn nền kinh tế bị doanh nghiệp FDI lũng đoạn như hiện nay thì các bạn vẫn chỉ gia công xuất khẩu, tạo lợi nhuận cho nước khác, luẩn quẩn trong bẫy thu nhập trung bình.

Logic của lập luận này có thể hiểu như sau: Sự hội nhập của một quốc gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu cần sự thích ứng với các chính sách công nghiệp truyền thống. Chính sách công nghiệp truyền thống hỗ trợ sản xuất các sản phẩm có năng lực cạnh tranh quốc tế và có thể xuất khẩu hoặc hỗ trợ sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu. Miễn là các chuỗi giá trị toàn cầu đóng vai trò quan trọng cho một quốc gia. Mục tiêu trọng tâm của chính sách công nghiệp (là) xoay chuyển trong chuỗi giá trị toàn cầu nhằm tạo ra các sản phẩm hoàn thiện, hội nhập theo chiều sâu để tiến vào các phân khúc giá trị cao hơn. Việc tìm kiếm và hỗ trợ có hệ thống cho các phân khúc giá trị gia tăng cao hơn sẽ dẫn tới sự nâng cấp và gia tăng năng suất. Tuy vậy, đến thời điểm này chưa rõ rằng các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam vừa ký kết có thể giúp nâng cao năng suất hay không hay đó lại tạo nên một vòng xoáy khác giữ các ngành công nghiệp nằm ở thứ bậc thấp trong chuỗi.

Tương tự các nước đang và kém phát triển khác, Việt Nam cũng chịu các sức ép từ thị trường, dẫn đến nền sản xuất chỉ tập trung vào các lợi thế địa lý – tài nguyên thiên nhiên, sử dụng công nghệ thấp với nhiều lao động. Các nước đang phát triển đang gặp nguy hiểm vì chuyên môn hóa quá nhiều trong phân công lao động quốc tế – so sánh với ví dụ Bangladesh hay Indonesia trong sản xuất quần áo hoặc một số quốc gia xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên. Sự chuyên môn hóa nhưng với chiều hướng chiếm lĩnh các công đoạn “giá trị gia tăng thấp” nguy hiểm vì nó khiến quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển thị trường quốc tế đối với một số lượng các loại hàng hóa. Nó cũng làm giảm năng lực sáng tạo của các quốc gia và sự phát triển của các thị trường ngách mới. Việt Nam nên duy trì nhiều loại sản phẩm công nghiệp và xuất khẩu. Chuyên môn hóa quá nhiều để tận dụng một “phân ngách thị trường” Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hay các hiệp định thương mại tự do khác có thể rất nguy hiểm vì nó có khả năng kìm hãm luôn sự sáng tạo của các ngành công nghiệp của Việt Nam trong lâu dài.
M.L ghi

Nhân lực Việt Nam: Mất lợi thế trên sân nhà

Song Quý (TBKTSG) – Kỹ năng tốt, nói tiếng Anh lưu loát, năng suất lao động cao… những lao động, thậm chí là lao động phổ thông người nước ngoài đang có lợi thế tại Việt Nam dù đang ở trên… sân khách.

Kevin Yee (thứ tư từ trái sang) cùng các đồng nghiệp Việt Nam. Ảnh: Song Quý

Những con sóng đầu tiên

Cuối năm 2015, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức hình thành. AEC cho phép lao động có tay nghề cao, dịch vụ, đầu tư và hàng hóa của 10 quốc gia thành viên khu vực ASEAN được di chuyển tự do hơn trong khu vực. Theo các chuyên gia trong lĩnh vực nhân sự, thời gian đầu, tác động của việc công nhận lao động lẫn nhau giữa các nước trong cộng đồng ASEAN vẫn chưa tác động đến thị trường lao động rõ rệt. Bởi, đoạn đường đi từ lý thuyết đến ứng dụng vào thực tế luôn có độ trễ nhất định, ít nhất là vài năm. Tuy nhiên, khảo sát thực tế, đã có những tín hiệu đầu tiên của làn sóng dịch chuyển này.

Nhà hàng NAMO Artisanal Pizzeria trên đường Hai Bà Trưng, TPHCM khai trương những ngày đầu năm 2016. Quán phục vụ pizza Ý truyền thống cùng các món ăn đến từ xứ sở khởi nguồn của văn hóa châu Âu. Tuy nhiên, nếu chưa quen, thực khách rất dễ bất ngờ khi nói tiếng Việt mà được trả lời bằng tiếng Anh, bởi quản lý ở đây là người Philippines, cùng với hai đầu bếp người Ý. Đánh giá của chủ nhân NAMO, năng lực và kỹ năng làm việc chính là lợi thế của người nước ngoài so với lao động trong nước. Thuê quản lý người Philippines, ông chủ NAMO hy vọng anh này sẽ thiết lập được chuẩn mực quản lý ngay từ đầu cho nhà hàng.

Tương tự, hai năm trở lại đây, làm việc trong hệ thống phòng khám Victoria có sự góp mặt của những y tá đến từ Philippines. Giao tiếp chuẩn mực với những người bản xứ, lại khá chuyên nghiệp trong tác nghiệp, những y tá ngoại này nhanh chóng chiếm được cảm tình của bệnh nhân đến thăm khám.

Ở những phân khúc việc làm cao cấp hơn, như đội ngũ sáng tạo tại các công ty quảng cáo, lượng lao động nước ngoài cũng chiếm thế thượng phong. Riverorchid Việt Nam, một công ty quảng cáo có 60 nhân lực, không tính hai chuyên viên thiết kế người Myanmar vừa kết thúc hợp đồng thì công ty có bốn thành viên người nước ngoài, đến từ Nam Phi, New Zealand và Anh giữ vị trí chủ chốt ở khâu sáng tạo. “Với những người ngoại quốc như chúng tôi, môi trường làm việc tại Việt Nam có sức hấp dẫn lớn. Ở đó, có nhiều cơ hội. Công sở luôn rất vui và thoải mái, con người thì thân thiện và trong lúc làm việc thì chuyên nghiệp và dễ gần. Tôi đặc biệt ấn tượng với phong cách “làm hết mình, chơi hết mình” của đồng nghiệp nơi đây”, ông Stuart Grieve.

Theo Tổng cục Du lịch Việt Nam, hiện số lao động có trình độ sau đại học chỉ chiếm 7,4% số lao động có chuyên môn về du lịch. Đa số, lao động của ngành chỉ được đào tạo từ các khóa ngắn hạn, chiếm 45,3%. Xét về trình độ ngoại ngữ, hiện có khoảng 60% nhân sự trong ngành du lịch biết và sử dụng ngoại ngữ. Trong đó, 42% số lao động biết sử dụng tiếng Anh, 5% biết sử dụng tiếng Trung, tiếp theo là tiếng Pháp với 4% và các thứ tiếng khác 9%. Tỷ lệ thấp như thế rõ ràng là cơ hội cho lao động từ các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippines vốn có thế mạnh về ngoại ngữ và kinh nghiệm trong ngành du lịch đến Việt Nam tìm việc.

Trưởng bộ phận sáng tạo Riverorchid Việt Nam, đến từ New Zealand, nhận định. Làm việc ở Việt Nam gần một năm nay, với Stuart Grieve, thị trường mới mẻ này là đất tốt để anh mở rộng những trải nghiệm sáng tạo của mình.

Đồng quan điểm, Kevin Yee, Giám đốc tiếp thị POPS Worldwide, người có hơn bảy năm gắn bó với Việt Nam, cho biết môi trường làm việc trong các công ty Việt Nam ngày càng cởi mở, anh và vợ đều không gặp trở ngại trong công việc. Ngoài công việc chính ở công ty, Kevin Yee đã từng tham gia giảng dạy các khóa đào tạo MBA ở Việt Nam.

Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc điều hành Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TPHCM, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TPHCM, lượng lao động người nước ngoài đến Việt Nam ngày càng đông. Ngoài việc tham gia vào các ngành đặc thù, các vị trí cấp cao hay cấp trung người nước ngoài còn tham gia vào cả những công việc lao động phổ thông. Xây dựng, cầu đường, thẩm mỹ, dịch vụ, y tế, du lịch, giáo dục… là những ngành ở Việt Nam đang có lao động phổ thông nước ngoài làm việc. Ông Tuấn tiết lộ: “Đáng chú ý, có một bộ phận không nhỏ người nước ngoài đến Việt Nam làm công việc rất phổ thông như giúp việc nhà, chăm em bé…”. Với khả năng ngoại ngữ, kỷ luật làm việc và sự chuyên nghiệp vốn có, nếu so sánh với lao động bản địa, người lao động nước ngoài có lợi thế hơn hẳn. “Đây là một thách thức lớn bởi lao động Việt Nam đang bị cạnh tranh ngay trên sân nhà”, ông Tuấn nhận định.

Chủ động nâng cao năng lực

Gomex Edward, kỹ sư thiết kế người Philippines là một gương mặt quen thuộc với những doanh nghiệp thành viên Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM. Làm việc tại Việt Nam đã vài năm nhưng Edward không gắn bó với một doanh nghiệp nào bởi cứ sau ba tháng, anh phải về quê nhà rồi lại xin thị thực vào Việt Nam dưới dạng du lịch để tiếp tục làm việc. Edward nhận đơn đặt hàng từ các doanh nghiệp dưới hình thức freelancer (người làm nghề tự do). Năng lực tốt, đơn đặt hàng từ doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhiều, anh tổ chức hẳn một nhóm thiết kế đồng hương, cùng nhau làm việc tại TPHCM. Cơ chế làm việc như thế giúp anh cũng như các thành viên trong nhóm không phải mất thời gian đăng ký các thủ tục lao động tại đây, cũng như phải chịu các ràng buộc nào về pháp lý.

Gomex Edward là một trong những điển hình về lao động nước ngoài đang hoạt động tự do tại Việt Nam. Khảo sát từ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho thấy, tính đến hết năm 2015, cả nước có hơn 76.000 lao động nước ngoài đang làm việc. Lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam đến từ 74 quốc gia. Trong đó, người có quốc tịch châu Á chiếm 58%, quốc tịch châu Âu chiếm 28,5%. Tuy nhiên, đây mới chỉ là con số tượng trưng. Thực tế, nó còn lớn hơn rất nhiều lần do lượng lao động đến từ các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines… hầu như không thực hiện các thủ tục đăng ký lao động. Họ đến Việt Nam dưới danh nghĩa du lịch rồi làm việc. “Con số thực, nhỉnh hơn ít nhất 30% so với báo cáo”, ông Trần Anh Tuấn dự tính.

Theo ông Tuấn, cơ chế quản lý chưa tốt chính là nguyên nhân khiến lao động nước ngoài tự do làm việc tại Việt Nam. Tuy nhiên, xét theo quy luật cung cầu, điều này đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải có chiến lược sát thực hơn nữa để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhằm tạo thế đối trọng trong cạnh tranh. Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Vân Anh, Giám đốc điều hành Công ty Tuyển dụng nhân sự cấp cao Navigos Search, đánh giá thực thi những điều khoản vận hành Cộng đồng AEC tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong 8 lĩnh vực ngành nghề theo thỏa thuận (gồm bác sĩ, y tá, nha sĩ, kỹ sư, trắc địa viên, người làm trong ngành du lịch, kế toán và kiến trúc sư) nhiều cơ hội chọn lựa nhân lực. Điều này tất nhiên sẽ tạo nên sự cạnh tranh giữa lao động trong và ngoài nước. “Doanh nghiệp khi sử dụng lao động, tất nhiên là chú trọng vào kết quả làm việc. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn đang cố gắng kêu gọi nhận thức từ phía doanh nghiệp trong việc tạo điều kiện nhiều hơn cho nhân sự trong nước”, ông Trần Anh Tuấn chia sẻ.

Tiết lộ từ Tiến sĩ Nguyễn Hải Hằng, Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam, với ngành đặc thù như hàng không, lượng lao động nước ngoài đang đóng góp cho ngành là rất lớn. Chẳng hạn như vị trí lái máy bay, tỷ lệ người nước ngoài thấp nhất cũng lên đến 40%, kế đó là bộ phận sửa chữa, bảo dưỡng tàu bay. “Chúng tôi đang cố gắng để giảm tỷ lệ này xuống bằng chiến lược đào tạo dài hơi. Tuy nhiên, điều này cũng mất khá nhiều thời gian”, bà Hằng chia sẻ. Nguyên nhân là vì đặc trưng của ngành hàng không đòi hỏi rất cao ở lực lượng lao động. Với tố chất chịu khó, người Việt Nam hoàn toàn có khả năng đáp ứng công việc này. Tuy nhiên, công tác đào tạo chưa hoàn thiện cùng những đòi hỏi khắt khe của ngành khiến người trong nước chưa có thể làm chủ được công việc. Bà Hằng cho biết, hiện, mức thù lao cho người nước ngoài cao hơn người Việt đến 3 lần, một thách thức không nhỏ cho doanh nghiệp nhưng họ vẫn phải chọn lựa.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s